V&KHPL số 03: Sự cần thiết áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam26.03.2013 13:12 Một trong những vấn đề quan trọng được nghiên cứu tro
Trang 1V&KHPL số 03: Sự cần thiết áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
26.03.2013 13:12
Một trong những vấn đề quan trọng được nghiên cứu trong Tư pháp quốc tế là có cần thiết phải áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài hay không và trong những trường hợp nào thì
cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật nước ngoài.
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài là cần thiết trong các trường hợp khi quy phạmxung đột của pháp luật quốc gia hoặc quy phạm xung đột trong các điều ước quốc
tế mà quốc gia là thành viên dẫn chiếu đến luật nước ngoài đó hoặc theo sự thỏathuận của các bên Tuy nhiên pháp luật các nước thường quy định các điều kiện cụthể để luật nước ngoài có thể áp dụng
Tại Việt Nam, vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài hiện nay được quy định tại
cácĐiều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 5 Luật Thương mại năm 2005, Điều 4 Bộ luật hàng hải năm 2005, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000, Điều 5 Luật Đầu tư năm 2005 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Theo các quy định trên thì việc áp dụng pháp luật nước ngoài sẽ được cơ quan cóthẩm quyền của Việt Nam áp dụng trong các trường hợp các văn bản của Việt Namhoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng phápluật nước ngoài hoặc trong các trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng,nếu sự thỏa thuận đó không trái với pháp luật Việt Nam
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy rằng tòa án Việt Nam chưa bao giờ áp dụng pháp luậtquốc gia khác để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, mà lẽ ra việc
áp dụng pháp luật nước ngoài trên cơ sở dẫn chiếu của quy phạm xung đột có thểbảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp
I Thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài tại Việt Nam.
Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang ngàycàng được đẩy cho nên việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một nhu cầu kháchquan không thể tránh khỏi ở tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và ở ViệtNam nói riêng, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự vàthúc đẩy giao lưu dân sự phát triển
Trang 2Mặc dù việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự theonghĩa rộng cóyếu tố nước ngoài là một trong những hoạt động diễn ra từ rất lâu vàrất phổ biến trên thế giới, và mặc dù pháp luật Việt Nam đã có rất nhiều quy địnhcho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết những vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài trong những trường hợp nhất định với những nguyên tắc nhất địnhnhưng đây vẫn là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đối với các tòa án Thực tế việccác tòa án của Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình giải quyếtmột vụ án dân sự là rất hạn hữu, do đó việc tích lũy kinh nghiệm hoạt động ápdụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài làhoàn toàn chưa có
Trong lĩnh vực tố tụng trọng tài, Điều 49 khoản 5 Pháp lệnh Trọng tài năm
2003quy định: “Các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật theo quy định tại
khoản 2 Điều 7 của Pháp lệnh này, tập quán thương mại quốc tế để giải quyết vụ tranh chấp” Trên thực tế, có thể nảy sinh trường hợp các bên không chọn pháp
luật áp dụng cho hợp đồng, khi đó, theo Điều 7 khoản 2 Pháp lệnh Trọng tài
năm 2003 thì “Trong trường hợp các bên không lựa chọn được pháp luật để giải
quyết vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài quyết định”
Theo quy tắc tố tụng của trọng tài quốc tế Việt Nam được áp dụng từ ngày
01/7/2004,“Hội đồng trọng tài quyết định chọn luật áp dụng mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp” Và thực tế, trọng tài Việt Nam đã dựa vào nhiều yếu tố của
tranh chấp để xác định luật áp dụng cho hợp đồng
Ví dụ, trong hợp đồng ký ngày 09/11/1995 giữa một doanh nghiệp Việt Nam vàmột doanh nghiệp Singapore,các bên có thoả thuận là “hợp đồng này sẽ được điềuchỉnh và giải thích và sẽ có hiệu lực theo luật Singapore” Nhưng khi có tranhchấp, Toà án áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết Trên tạp chí Nghiên cứu
lập pháp tháng 10/2003, tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đã nói “Thật đáng tiếc là những quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ có giá trị thực tế về mặt lý thuyết Vì rằng, từ khi ban hành Bộ luật dân sự đến nay, tòa án của Việt Nam chưa bao giờ áp dụng pháp luật quốc gia khác để giải quyết
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, mà lẽ ra, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trên cơ sở dẫn chiếu của quy phạm xung đột đã có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp”.Còn theo Nguyễn Công Khanh trên tạp chí Dân chủ và pháp luật thì “Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam khi giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thường chỉ áp dụng (và dựa vào) pháp luật Việt Nam, hầu như rất hãn hữu, nếu không muốn nói
là chưa bao giờ áp dụng pháp luật nước ngoài, mặc dù đã được quy phạm xung đột dẫn chiếu”.
Trang 3Tại hội thảo về Tư pháp quốc tế do Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức ngày27/5/2005, có đại biểu đã hỏi bà Ngô Thị Minh Ngọc (Thẩm phán Tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội) về việc áp dụng pháp luật nước ngoài Theo đại biểu: “Trong pháp luật Việt Nam, cụ thể là Bộ luật dân sự Việt Nam, tôi thấy có rất nhiều quy định, đặc biệt là các quy định ở Phần VII trong đó nếu theo dẫn chiếu của quy phạm xung đột thì chúng ta phải áp dụng pháp luật nước ngoài Tương tự đối với Luật hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, trên thực tế, ở nước ta, chưa một tòa án nào
áp dụng pháp luật nước ngoài trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự” Theo
bà Ngô Thị Minh Ngọc: “Trước hết, phải thừa nhận rằng chúng tôi chưa bao giờ
áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các tranh chấp dân sự hay ly hôn Đối với những vụ việc ly hôn mà chúng tôi giải quyết, thường là các bên tự thỏa thuận và không có yêu cầu gay gắt về việc áp dụng pháp luật nước ngoài Hơn nữa, chưa có vụ án nào mà bản thân đương sự hoặc về phía chúng tôi thấy cần thiết phải áp dụng pháp luật nước ngoài”.
II Vướng mắc trong áp dụng pháp luật nước ngoài và hướng hoàn thiện.
1 Vướng mắc trong áp dụng pháp luật nước ngoài.
Để áp dụng pháp luật nước ngoài theo đúng cách thức đòi hỏi các cơ quan xét sử
có trách nhiệm tìm hiểu nội dung Thực tế của pháp luật Việt Nam chưa có một quiđịnh cụ thể nào về nghĩa vụ tìm hiểu nội dung pháp luật nước ngoài thuộc về cơquan xét xử hay của các bên đương sự Đây là một vấn đề phức tạp và trên thực tếgây không ít khó khăn cho thẩm phán
Tại Việt Nam, pháp luật không có quy định cụ thể về cách thức áp dụng pháp luậtnước ngoài mà chỉ dựa trên các nguyên tắc xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền lợihợp pháp của các đương sự và lợi ích quốc gia
Khi Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài,phần nhiều liên quan đến một bên chủ thể là công dân Việt Nam nên việc ưu tiệnchọn luật Việt Nam để giải quyết thường được áp dụng nhằm thuận tiện cho việcnghiên cứu Luật và theo hướng có lợi hơn cho công dân Việt Nam
Tình trạng “luật khung”: là loại văn bản chứa đựng những quy định mang tínhnguyên tắc làm cơ sở cho việc đề ra những quy định cụ thể trong quá trình điềuchỉnh một hoặc một số quan hệ xã hội Ví dụ, tại Điều 102 khoản 1 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 có quy định: “Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do Chính phủ quy định” Việc
Trang 4chỉ dừng lại ở những quy định có tính chất “khung” cho thấy, các nhà lập phápluôn cần đến sự tham gia của các nhà quản lý trong việc đưa ra những quy định chitiết, cụ thể nhằm áp dụng pháp luật vào hoạt động quản lý trong từng lĩnh vực cụthể
Tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật khiến cho hoạtđộng áp dụng pháp luật, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật nước ngoài cònhạn chế, nhiều khó khăn Ví dụ: cùng quy định về thẩm quyền của tòa án trongviệc giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng lạiđược quy định cả trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2010 tại Điều 102 khoản 3
và điểm g khoản 2 Điều 410, điểm c khoản 1 Điều 411 Bộ luật tố tụng dân sự năm2004
Số lượng, chất lượng đội ngũ thẩm phán chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu mới.Một số lượng không ít Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp hiện có còn phải đi họcvăn hóa, nghiệp vụ, chính trị, tin học để đạt được tiêu chuẩn về trình độ theo yêucầu mới Nguyên nhân này xuất phát từ các quy định về tiêu chuẩn lựa chọn Thẩmphán của chúng ta không còn phù hợp với thời đại mới Nhiều người còn thiếu kỹnăng, kiến thức chuyên sâu về các lĩnh vực chuyên sâu như sở hữu trí tuệ, thươngmại quốc tế, hàng không, hàng hải, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Đặcbiệt là sự hiểu biết còn hạn chế về pháp luật các nước trên thế giới, Thẩm phánViệt Nam biết nhiều pháp luật Việt Nam hơn pháp luật nước ngoài, những hiểubiết nếu có về pháp luật nước ngoài chỉ mang tính rời rạc, góp nhặt mà thiếu tính
hệ thống, bài bản, chính vì vậy họ có xu hướng áp dụng pháp luật Việt Nam ngay
cả khi quy phạm xung đột dẫn chiếu tới Phần lớn các Thẩm phán đứng tuổi khôngtham gia được những vụ phải sử dụng đến ngoại ngữ
Trong vấn đề công nhận và thi hành bản án nước ngoài tại Việt Nam phải trải quaquá nhiều khâu quá trình áp dụng đơn yêu cầu phải được đến Bộ Tư pháp để xemxét tính thích hợp tính hợp lệ của đơn sau đó chuyển đến Tòa án Tỉnh để thi hành
2 Hướng hoàn thiện.
2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật nước ngoài tại Việt nam.
Cần xây dựng các quy định mang tính nguyên tắc cũng như có hướng dẫn cụ thểtrong việc áp dụng các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế (đặcbiệt các qui định về việc áp dụng các quy phạm xung đột trong mối tương quan vớicác quy phạm luật nội dung khác) Nhà nước cần chú trọng đến việc tổ chức tổng
Trang 5kết đánh giá việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mộtcách toàn diện và đầy đủ nhằm kịp thời đề xuất, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ nhữngquy phạm lỗi thời, lạc hậu
Rộng hơn nữa cần xây dựng các nguyên tắc về thứ bậc áp dụng các loại nguồn luậttrong các quan hệ pháp lý có tính chất quốc tế Nếu trong nội luật chưa có điềukiện xây dựng và hoàn thiện các quy phạm điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế thìcần thừa nhận các loại nguồn pháp luật quốc tế khác (điều ước quốc tế và các tậpquán quốc tế), trong những chừng mực có thể, nên thừa nhận các nguồn luật bổ trợ(án lệ quốc tế, công trình nghiên cứu, các học thuyết) bên cạnh các nguồn luậtchính thống của Tư pháp quốc tế vì đây là một ngành luật còn thiếu rất nhiều cácquy định tương xứng
Trong hoàn cảnh pháp luật chưa quy định (hoặc có nhưng chưa đầy đủ) cần phải cócác giải thích về “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” hoặc các quyđịnh về khái niệm “trật tự công cộng” một cách thống nhất tại hệ thống các cơquan xét xử Thông qua thực tiễn xét xử (đặc biệt trong các vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài), ngành tòa án nên tổng kết những vướng mắc, khó khăn trong quátrình áp dụng pháp luật nước ngoài, qua đó tham khảo ý kiến của các chuyên gia,nhà khoa học, kể cả tham khảo thực tiễn xét xử của tòa án các nước để có giải phápđúng đắn, phù hợp Nên hệ thống hóa, và có cách giải thích thống nhất về kháiniệm trật tự công và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Nên công bố các bản án quyết định (không chỉ giới hạn ở các bản án, quyết địnhcủa Tòa án tối cao như hiện nay) Cần xây dựng thành một tài liệu pháp lý như sổtay thẩm phán để đạt được sự chấp nhận chung của các nhà làm luật cũng như thựchiện công tác xét xử
Hạn chế tình trạng “luật khung”: giảm dần pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốchội và nghị định của Chính phủ quy định những vấn đề chưa có luật Khẩn trươnghoàn thiện để nâng cao thành luật những pháp lệnh, nghị định đã được thực tế kiểmnghiệm là đúng Tiếp tục hoàn thiện luật tố tụng dân sự, đặc biệt là luật tố tụng dân
sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài theo hướng đề cao trách nhiệm và quyền
tự định đoạt của các bên đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp và bảo vệyêu cầu hợp pháp của họ trước tòa án Nên chú trọng và khuyến khích cơ chế tựthỏa thuận của các bên trong giải quyết các vụ án dân sự
Chú trọng nghiên cứu xây dựng cơ chế hỗ trợ Tòa án qua các hình thức giải quyếttranh chấp ngoài Tòa án phù hợp với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện naynhư hòa giải, trọng tài đối với việc giải quyết các tranh chấp ngoài Tòa án theo
Trang 6hướng các bên tự thỏa thuận với nhau và đến tòa án yêu cầu ra quyết định côngnhận sự thỏa thuận này để làm cơ sở pháp lý cho việc có thể cưỡng chế thi hànhtrong thực tế.
Thành lập bộ phận nghiên cứu pháp luật nước ngoài thuộc Bộ Tư pháp Việt Nam.Đây là mô hình đã được Cộng hoà Pháp áp dụng rất hiệu quả Bộ phận nghiên cứupháp luật nước ngoài sẽ là cầu nối giữa Bộ Tư pháp và các cơ quan nhà nước, giúpcác cơ quan nhà nước tìm hiểu pháp luật nước ngoài, trao đổi thông tin về phápluật nước ngoài Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với hoạt động áp dụng pháp luậtnước ngoài của các toà án Việt Nam hiện nay, khi mà trách nhiệm tìm hiểu và xácđịnh pháp luật nước ngoài thuộc về các cơ quan xét xử Từ đây, kiến thức về phápluật nước ngoài sẽ được cung cấp cho các cơ quan xét xử một cách hệ thống, đápứng được yêu cầu của việc áp dụng pháp luật nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện hơn việc giảng dạy bộ môn Tư pháp quốc tế là nhiệm vụ của cáctrường Đại học đào tạo luật Một trong những giải pháp quan trọng nhằm hoànthiện hơn việc giảng dạy bộ môn Tư pháp quốc tế là các trường không chỉ chuyêngiảng dạy về lý thuyết thuần túy (mặc dù ngay cả các học thuyết mang tính lý luậncũng còn rất hạn chế, chưa toàn diện) Cần tạo ra một cơ chế liên thông cho cácgiảng viên tiếp cận khía cạnh thực tiễn (như ra Tòa án tìm hiểu bản án, thực tiễnxét xử…), đặc biệt, nếu có thể được tham gia với tư cách luật sư trong các vụ việc.Nếu không, rất khó có thể xây dựng được hệ thống lý luận tốt khi tách rời thựctiễn
2.2 Hoàn thiện yếu tố con người trong thực thi pháp luật nói chung và pháp luật nước ngoài nói riêng.
Thực tế cho thấy trong mọi hoạt động, để đạt được thành công vấn đề con người làquan trọng nhất Nếu không có con người thì pháp luật chẳng qua là những từ ngữnằm trên giấy, không thể biến ý chí của Nhà nước, của nhân dân thành hành độngthực tế của mọi người Do đó, cần nâng cao năng lực của cán bộ trong các cơ quan
áp dụng pháp luật Nếu các chủ thể áp dụng pháp luật có trình độ chuyên môn hạnchế thì không thể tránh khỏi việc đưa ra quyết định áp dụng pháp luật có nội dungkhông bảo đảm các yêu cầu của pháp luật, ngay cả khi hệ thống pháp luật hoànthiện ở mức cao
Để nâng cao trình độ năng lực của cán bộ trong thực thi pháp luật nước ngoài, cầnthực hiện tốt các công việc cụ thể sau:
Trang 7- Xây dựng kế hoạch cụ thể trong từng giai đoạn về công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ làm công tác áp dụng pháp luật nước ngoài trong giải quyết các vụ việc cóyếu tố nước ngoài.
- Để đào tạo được đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên đủ về số lượng,
có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngangbằng với các nước trong khu vực và trang bị đầy đủ các kiến thức pháp luật cầnthiết, chúng ta cần đầu tư thích đáng nguồn ngân sách nhà nước cho công tác đàotạo đội ngũ công chức này
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá năng lực của cán bộ để có kế hoạch đào tạo vàđào tạo lại nhằm nâng cao trình độ của các công chức thực thi pháp luật nướcngoài trong giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài
Ngoài ra, để nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công tác áp dụngpháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài, chúng ta cầnhoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lí của các chủ thể áp dụng phápluật nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ việc có yếu tố nước ngoài
Trong xu thế hội nhập hiện nay của Việt Nam, chúng ta cần thừa nhận thực tế việc
sử dụng các thuật ngữ “trật tự công”, hay các “nguyên tắc cơ bản của pháp luật”hay các thuật ngữ tương tự khác (như pháp luật các nước đã thừa nhận) trong hệthống pháp luật quốc gia, coi đó như một công cụ sắc bén để bảo vệ những lợi íchhay giá trị, chuẩn mực mà quốc gia cần bảo vệ Tuy nhiên để hoàn thiện được vấn
đề này, còn rất nhiều việc phải làm, và mọi việc cần chuẩn bị từ ngày hôm nay
LÊ THỊ THANH THỦY
HÌNH SỰ 34A
Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ
thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam
Nguyễn Bá Chiến
Khoa Luật
Trang 8Luận án TS ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 62 38 60 01
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Trang 9Keywords: Luật Quốc tế, Pháp luật Việt Nam, Quy phạm pháp luật, Xung đột
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế của nước ta trong hai thập kỷ vừa qua, các mối
quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài như: quan hệ dân sự, hôn nhân
Trang 10phạm xung đột còn chưa phù hợp với nhu cầu của đời sống thực tế… Những bất cập như vậy
đã có những cản trở không nhỏ đối với sự phát triển giao lưu dân sự, kinh doanh, thương mại,
lao động, hôn nhân và gia đình giữa công dân, tổ chức của Việt Nam với công dân,
phạm xung đột ở Việt Nam hiện nay là nhu cầu cần thiết, khách quan
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
* Những công trình trong nước bao gồm:
- Những công trình nghiên cứu tập trung về thực trạng các quy phạm xung đột và kiến
nghị những giải pháp hoàn thiện các quy phạm xung đột, nhưng mới nghiên cứu ở lĩnh vực
này hoặc lĩnh vực khác mà chưa phải là sự nghiên cứu tổng thể về hệ thống quy phạm xung
đột ở Việt Nam như: Bàn về việc hoàn thiện các quy định trong Phần VII “Quan hệdân sự có
yếu tố nước ngoài” (Nguyễn Tiến Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2003,tr.45-52);
TPQT Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng (Đỗ Văn Đại, Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp số 10/2003, tr.64-71)
- Đặc biệt có những công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án như: Hoàn
Trang 11thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (TS Vũ Đức Long
* Những công trình nghiên cứu nước ngoài bao gồm:
The Conflict of laws (J.H.C MORRIS, Published by Stevens & Sons Limited, 1984);
Trang 12Conflict of laws (Michael Freeman, Published by the University of London Press, 2004); A
Canadian Looks at American Conflict of Law Theory and Practice, Especially in the Light of the American Legal and Social Systems (William Tetley,
luật xung đột ở Việt Nam”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
Trang 13* Lập luận và đề xuất những quan điểm, phương hướng và kiến nghị cụ thể để hoàn
thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối với cơ sở lý luận về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột:
- Lập luận, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về quy phạm xung đột và hệ thống
quy phạm xung đột; quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài và vai trò điều chỉnh
của quy phạm xung đột; tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện hệ thống quy phạm xung
đột ở Việt Nam;
- Trình bày thực tiễn pháp lý của nước ngoài về việc áp dụng quy phạm xung đột điều
chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài
* Đối với cơ sở thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột:
- Phân tích, lập luận về thực trạng các quy phạm xung đột ở Việt Nam để từ đó xácđịnh những ưu điểm, hạn chế của các quy phạm xung đột và nguyên nhân của những ưu điểm,