1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân

20 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 141 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, có liên quan mật thiết đến danh dự, nhâ

Trang 1

MỤC LỤC

A/ ĐẶT VẤN ĐỀ

B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I – CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm

2 Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự

2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình

2.2 Quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân: Quyền của cá nhân đối với họ tên, hình ảnh và dân tộc

2.3 Quyền nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong

xã hội

2.4 Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của con người

3 Bảo vệ quyền nhân thân

II – QUYỀN NHÂN THÂN VÀ SỰ THỂ HIỆN TRONG ĐỜI SỐNG

III – PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN NHÂN THÂN

C/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A/ ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 2

Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có một số quyền mà trong đó các quyền nhân thân là bộ phận quyền ngày càng trở nên quan trọng “Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín… Việc nghiên cứu đề tài: “Quyền

nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân” sẽ

giúp ta hiểu hơn được phần nào về vấn đề cấp thiết này

B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I – CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm

Quyền nhân thân được quy định tại Điều 24 BLDS 2005, theo đó:

“Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

2 Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong

Bộ luật Dân sự

BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 đến Điều

51 Ngoài hai điều luật quy định khái quát về quyền nhân thân (Điều 24) và bảo vệ quyền nhân thân (Điều 25), các điều luật còn lại quy định về nội dung các quyền nhân thân cụ thể Các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005 có thể được chia thành các nhóm sau đây:

2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân

và gia đình

Hôn nhân và gia đình luôn là một trong những mối quan hệ rất đặc biệt của đời sống xã hội Các quyền nhân thân của cá nhân luôn đặt trong tương quan giữa quan hệ của các cá nhân là thành viên trong gia đình, hay giữa các

cá nhân với tư cách là một thành viên trong xã hội với các chủ thể khác Mục

Trang 3

đích của những mối quan hệ đó không chỉ bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân mà còn đảm bảo khi các cá nhân đó thực hiện các quyền nhân thân của mình không ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình và lợi ích chung của xã hội các quyền nhân thân của cá nhân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình bao gồm:

Quyền kết hôn (Điều 39) là quyền nhân thân không gắn với tài sản.

Pháp luật đảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân, nhưng cá nhân chỉ

có thể thực hiện quyền này khi đáp ứng được các điều kiện nhất định mà pháp luật quy định Khi thực hiện quyền kết hôn, mỗi cá nhân cần có năng lực chủ thể, bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật Quy định về sự

tự nguyện kết hôn chính là xác định khả năng nhận thức và tình cảm ý chí của

cá nhân khi thực hiện quyền kết hôn Ngoài ra Luật HN & GĐ 2000 còn quy định các trường hợp các trường hợp cấm kết hôn nhằm hạn chế năng lực pháp luật kết hôn của cá nhân như: cấm kết hôn giữa những người trực hệ có họ trong phạm vi ba đời, cấm cha dượng (mẹ kế) kết hôn với con riêng của vợ (chồng), cấm kết hôn với người cùng giới… Bởi khi thực hiện quyền kết hôn trong trường hợp bị cấm sẽ làm ảnh hưởng đến các chủ thể trong mối quan hệ khác và đi ngược lại phong tục của người Việt Nam

Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng (Điều 40): Đây là quyền và cũng

là nghĩa vụ của hai bên vợ chồng với nhau Cụ thể là trong quan hệ tài sản và

quan hệ nhân thân Trong quan hệ nhân thân: Tôn trọng và giữ gìn danh dự,

nhân phẩm, uy tín của nhau, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, vợ chồng cùng nhau bàn bạc, quyết định, lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ để chăm sóc con ốm theo quy định của

pháp luật Về quan hệ tài sản: Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau

trong sở hữu tài sản chung, thể hiện ở các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Những quyền nhân thân giữa vợ và chồng luôn có mối liên hệ khăng khít gắn bó với nhau, có ảnh hưởng lẫn nhau Do đó, khi một quyền bị lạm dụng hoặc bị xâm hại thì luôn kéo theo những vấn các quyền nhân thân khác

Trang 4

cũng bị ảnh hưởng theo Quan hệ vợ chồng sẽ tốt đẹp bền lâu khi cả hai bình đẳng với nhau, không ai có cảm giác mình hầu hạ người kia mà đều tự nguyện làm tròn phận sự của mình

Quyền ly hôn (Điều 42): Về nguyên tắc, quyền này chỉ thuộc về vợ,

chồng có hôn nhân hợp pháp, đối với những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn thì không được pháp luật thừa nhận

là vợ chồng, do đó, pháp luật không thừa nhận quyền ly hôn của các mối quan hệ đó Tuy nhiên, trừ trường hợp việc chung sống như vợ chồng được coi là có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật

Quyền nhân thân có liên quan đến mối quan hệ giữa cha, mẹ, con

và của các thành viên khác trong gia đình Được quy định tại Điều 41, 43,

44 BLDS 2005 Theo đó:

Thứ nhất, về quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình quy định tại Điều 41 BLDS 2005: “Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam Con, cháu chưa thành niên được hưởng

sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà; con, cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà” Việt Nam là một đất nước

trọng lễ nghĩa, vì vậy quy định này nhằm phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt

Thứ hai, người con được quyền xác định cha mẹ của mình và được cha

mẹ chăm sóc Đây là quyền cơ bản của trẻ em Pháp luật không phân biệt đối

xử giữa con trong giá thú, con ngoài giá thú vì vậy nếu người con sinh ra mà không được cha mẹ hoặc cha hoặc mẹ thừa nhận thì có thể bảo vệ quyền của

mình bằng các phương thức khác nhau: “Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó Người được nhận

là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xác định mình không phải là cha, mẹ hoặc là con của người đó” (Điều 43 BLDS 2005) Trong thực tế, nhóm quyền này luôn bị xâm

Trang 5

phạm, không đảm bảo được quyền của trẻ em nói chung và quyền của người con nói riêng

Thứ ba, về quyền nuôi con nuôi và quyền được nhân làm con nuôi của

cá nhân quy định tại Điều 44 BLDS 2005: “Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật” Trong quan hệ giữa cha mẹ và con, người con chưa

thành niên chỉ đảm bảo quyền được nhận làm con nuôi khi có những điều kiện nhất định về độ tuổi, về ý chí tự nguyện của người con đó và của các chủ thể có liên quan, điều này xuất pháy từ các quyền của trẻ em Để đảm bảo quyền này cần quy định chặt chẽ điều kiện nhận làm con nuôi Có thể nói quyền nhận con nuôi đã tạo ra quyền làm cha mẹ cho nhiều cặp vợ chồng không thể có con, gắn bó tình cảm giữa người nhận nuôi và người được nhân nuôi trong quan hệ cha, mẹ, con

Tóm lại, BLDS 2005 đã có những quy định cụ thể về quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân & gia đình Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng

để các cá nhân trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình tôn trọng, hưởng các quyền nhân thân do luật quy định

2.2 Quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân: Quyền của cá nhân đối với họ tên, hình ảnh và dân tộc

Khi tham gia các mối quan hệ mỗi cá nhân độc lập với nhau và độc lập với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật Việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá nhân với chủ thể khác của quan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể mà còn

có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng Trong số các quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân thì quyền của cá nhân đối với họ, tên, quyền xác định dân tộc và quyền của cá nhân đối với hình ảnh là những quyền năng cơ bản và thể hiện sự cá biệt rõ nét nhất

Trang 6

Thứ nhất, về quyền đối với họ tên Khi tham gia quan hệ pháp luật, mỗi

cá nhân chỉ được công nhận mang một tên riêng để phân biệt với những cá nhân khác Đó là tên khai sinh của người đó được ghi trong giấy khai sinh Điều 26 BLDS 2005 quy định về quyền của cá nhân đối với họ tên và Điều

27 quy định về việc thay đổi họ tên Quyền đối với họ tên là một quyền nhân thân của cá nhân Cá nhân có quyền nhân thân này kể từ khi sinh ra Việc thực hiện quyền nhân thân này hoàn toàn phụ thuộc vào những người có quyền và trách nhiệm đăng kí khai sinh cho trẻ Trong trường hợp trẻ em không được đăng ký khai sinh do lỗi của người lớn thì rõ ràng quyền và lợi ích của trẻ em đã bị xâm phạm Không những thế, trong những trường hợp trẻ

em đã trở thành người lớn và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mà vẫn chưa được đăng ký khai sinh thì có thể tự đi đăng ký khai sinh cho mình không? Hiện nay, pháp luật dân sự chưa quy định cụ thể trường hợp này Để khắc phục tình trạng này, pháp luật cần quy định rõ hơn về trách nhiệm của người không thực hiện việc khai sinh cho trẻ cũng như cần bổ sung thêm trường hợp một người có thể tự đi đăng ký khai sinh cho chính mình

Thứ hai, quyền xác định dân tộc Theo quy định của tại Điều 28 BLDS

2005 thì cá nhân sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ

đẻ Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ Khác với quyền đối với họ, tên, dân tộc của cá nhân tự do lựa chọn và dân tộc của cá nhân cũng

sẽ được ghi vào giấy khai sinh khi trẻ được đăng ký khai sinh Tuy vậy, quy định này lại có điểm hạn chế trong trường hợp không thể xác định được cha,

mẹ của trẻ cũng như trẻ không được nhận làm con nuôi thì trẻ sẽ lớn lên và sẽ mãi mãi không có dân tộc và như vậy thì quyền nhân thân của cá nhân cũng không thể thực hiện được Đối với trường hợp trên đây, pháp luật nên quy định dân tộc của trẻ được xác định theo dân tộc chiếm đa số ở địa phương nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi Khi đó mỗi cá nhân đều có được một dân tộc nhất định

Trang 7

và sau này khi xác định được cha, mẹ của trẻ thì có thể xác định lại dân tộc theo quy định của pháp luật

Ngoài quyền quy định xác định dân tộc, vấn đề xác định lại dân tộc là một trong những nội dung quyền nhân thân của cá nhân Việc xác định lại dân tộc phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định Trên thực tế có nhiều trường hợp muốn thay đổi dân tộc từ dân tộc này sang dân tộc khác Trong trường hợp này pháp luật nước ta quy định rất chặt chẽ, các cá nhân không có quyền thay đổi dân tộc mà chỉ có quyền xác định lại dân tộc theo những trường hợp do pháp luật quy định Tuy nhiên, quy định này của BLDS cũng có những điểm chưa thật hợp lý

Thứ ba, về quyền của cá nhân đối với hình ảnh Điều 31 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; Trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha,

mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.

Theo đó, chúng ta có thể hiểu quyền của cá nhân đối với hình ảnh bao gồm quyền đối với hình và ảnh Khái niệm hình ảnh của cá nhân được hiểu là bao gồm mọi hình thức nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh chép…Và sự đồng ý ở đây được hiểu là có sự thỏa thuận giữa người sử dụng hình ảnh của cá nhân với cá nhân có hình ảnh đó hay chỉ cần việc sử dụng hình ảnh không có sự phản đối của người có hình ảnh thì được hiểu là người đó đương nhiên đồng ý Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân vào bất cứ mục đích gì mà không xin phép đều bị coi là vi phạm quyền nhân thân về hình ảnh của cá nhân dù việc sử dụng đó có thể mang lại lợi ích hay gây thiệt hại cho người có hình ảnh Pháp luật Việt Nam cũng chưa quy định rõ những trường hợp nào thì pháp luật cho phép sử dụng hình ảnh của cá nhân Điều này dẫn đến tâm lý e ngại của người sử dụng hình ảnh trong nhiều

Trang 8

trường hợp cần thiết như ảnh chụp đưa tin, ảnh tư liệu, ảnh phóng sự… trong

đó có hình ảnh của cá nhân Vấn đề này cần phải được quy định và giải thích

cụ thể hơn trong các văn bản luật, dưới luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS

2.3 Quyền nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong xã hội

Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều

32, Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37), Quyền đối với

bí mật đời tư (Điều 38) và các quyền nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong xã hội Đây là những quyền nhân thân đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Nhà nước ta và các văn bản pháp luật khác

Thứ nhất, quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe Khoản

1 Điều 32 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn

về tính mạng, sức khỏe, thân thể” Con người là vốn quý của xã hội BLDS

và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước ta đã có nhiều quy định trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, thân thể con người bằng nhiều biện pháp khác nhau Khi một người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, thân thể của người khác thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm, người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi của họ thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Xét dưới góc độ pháp luật dân sự, những người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, thân thể của người khác phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra

Khoản 2 Điều 32 BLDS cũng quy định: “ Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tất mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa” Nếu một người có điều

kiện cứu giúp mà họ không cứu giúp dẫn đến hậu quả là người đó chết thì người không cứu giúp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng xét dưới góc độ pháp luật dân sự thì họ có phải bồi thường thiệt hại hay không ? Đây

là vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ trong pháp luật dân sự

Trang 9

Thứ hai, về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín Điều 37 BLDS quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những quyền nhân

thân không thể trị giá được thành tiền, do đó rất khó có thể xác định được hậu quả về mặt vật chất của hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với danh

dự, nhân phẩm, uy tín Pháp luật Việt Nam cũng có nhiều quy định nhằm bảo

vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và bảo vệ danh dự, uy tín của tổ chức Tuy nhiên, trong toàn bộ các quy định hiện hành không nêu khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín Tuy nhiên, có thể hiểu: Danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó Danh dự của một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được Đối với tổ chức, danh dự là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người Uy tín là giá trị về mặt đạo đức, tài năng (được công nhận ở một

cá nhân), những giá trị tốt đẹp (tổ chức đạt được) thông qua hoạt động thực tiễn của mình mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo

Trong thực tế, khi quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, biện pháp bảo vệ quyền đầu tiên được áp dụng là tự bảo vệ Trước hết, biện pháp này tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể Hơn nữa, mặc dù không có sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng trong chừng mực nhất định, biện pháp này cũng giúp nhanh chóng ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm Cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền được bảo

vệ danh dự, nhân phậm, uy tín cũng có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ để buộc bên xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi vi phạm, phải xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại Quyền được bảo

vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, quyền dược bảo vệ danh dự, uy

Trang 10

tín của tổ chức là quyền dân sự cơ bản, quan trọng của cá nhân, tổ chức Khi quyền này bị xâm phạm gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự tồn tại và phát triển của bên bị xâm phạm Chính vì vậy cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm,

uy tín

Thứ ba, quyền bí mật đời tư, Điều 38 BLDS quy định:

“1 Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2 Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con

đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3 Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện từ khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện

tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định

và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin liên quan đến cá nhân mà bản thân cá nhân đó không muốn để người khác được biết Hoàn thiện pháp luật về bí mật đời tư và quyền bí mật đời tư là một trong những yêu cầu cấp thiết bởi lẽ thời gian gần đây, có nhiều vụ việc liên quan đến bí mật đời tư đã gây xôn xao dư luận Hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư đa dạng, đó có thể là tiết lộ thông tin bí mật, có thể là chiếm đoạt hoặc hủy hoại thông tin… Tùy thuộc vào mức độ của hành vi xâm phạm bí mật đời tư, người xâm phạm

có thể bị xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường thiệt hại…

2.4 Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của con người

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w