1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và bình luận quy định pháp luật việt nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài (9 điểm)

15 418 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 66 Luật TTTM 2010 thì khi “hết thời hạn tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy

Trang 1

MỞ ĐẦU

Hiện nay, khi một tranh chấp thương mại xảy ra, các bên tranh chấp sẽ lựa chọn nhiều phương thức giải quyết khác nhau, một trong những phương thức đó là Trọng tài thương mại Khi kết thúc quá trình tố tụng, Hội đồng trọng tài sẽ đưa ra phán quyết có giá trị chung thẩm để giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp và buộc các bên phải thi hành Hoạt động thi hành phán quyết trọng cũng có một ý nghĩa quan trọng bởi nếu không được thi hành đầy đủ trên thực tế sẽ gây ra ảnh hưởng xấu đến dư luận, xa hơn nữa là môi trường kinh doanh trong nước Để nâng cao hiệu quả của hoạt động của trọng tài thương mại, thì pháp luật đã có những quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trên, trong đó có quy định về vệc hủy quyết định quyết định trọng tài nhằm hạn chế tối đa các sai sót trọng quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Với tầm quan trọng như vậy, trong bài viết dưới đây, em xin chọn đề

tài “Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài”.

NỘI DUNG

I QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

1 Các quy định về thi hành phán quyết trọng tài

Phán quyết Trọng tài thương mại (TTTM) là chung thẩm và không bị kháng cáo, kháng nghị Điều này có nghĩa là ngay sau khi Hội đồng trọng tài công bố phán quyết trọng tài, các bên phải thi hành, trừ trường hợp các bên làm đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết TTTM(1)

Theo quy định tại Điều 66 Luật TTTM 2010 thì khi “hết thời hạn tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không

tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định tài Điều 69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng trọng tài

1 Điều 32, Luật TTTM 2010

Trang 2

có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài”.

Như vậy, theo những quy định trên thì thi hành phán quyết trọng tài được chia làm hai trường hợp:

Một là, bên phải thi hành phán quyết trọng tài tự nguyện thi hành;

Hai là, bên phải thi hành phán quyết trọng tài không tự nguyện thi hành

và cũng không yêu cầu hủy phán quyết

1.1 Trường hợp bên phải thi hành phán quyết tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài

Khi nhận được phán quyết trọng tài, các bên thỏa thuận thống nhất thi hành theo phán quyết, tức là các bên tự mình, không cần có sự can thiệp của bất kỳ tổ chức, cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào, tự giác thi hành phán quyết đó Hành động tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài của các bên trong phán quyết không chỉ là mong muốn của các bên tranh chấp và các tổ chức trọng tài mà cũng phù hợp với chủ trương của Nhà nước trong việc khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài

1.2 Trường hợp bên phải thi hành phán quyết trọng tài không tự nguyện thi hành phán quyết và cũng không yêu cầu hủy phán quyết

Trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành thì không còn cách nào khác là Nhà nước phải dùng công cụ pháp luật để buộc phải thi hành phán quyết

Theo quy định tại Điều 67 Luật TTTM 2010 thì “phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” Những

vấn đề về chủ thể có quyền yêu cầu thi hành phán quyết, cơ quan có thẩm quyền thi hành cũng như thủ tục thi hành được pháp luật về thi hành phán quyết TTTM quy định chi tiết, cụ thể

1.2.1 Thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài

Khoản 1 Điều 8 Luật TTTM 2010 quy định như sau:

Trang 3

“Cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết”.

Cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan trực thuộc Tổng cục THADS – Bộ tư pháp Thẩm quyền thi hành án của Cơ quan này được quy định tại Điều 35 của Luật THADS Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 35 Luật THADS thì “quyết định của Trọng tài thương mại” là một trong các bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan THADS cấp tỉnh Theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Luật THADS thì:

“Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản

án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp”.

Như vậy, Chấp hành viên (CHV) là người được Nhà nước giao nhiệm

vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, CHV phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín

Như vậy, Cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết TTTM

là cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có Hội đổng trọng tài ra phán quyết, và CHV là người được giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật

1.2.2 Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài

Tại Khoản 1 Điều 66 Luật TTTM quy định như sau:

“Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài”.

Trang 4

Như vậy, theo quy định trên, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài Điều kiện để bên được thi hành phán quyết trọng tài yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là: bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật khi đó phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về THADS

1.2.3 Thủ tục thi hành phán quyết trọng tài

Khi phán quyết trọng tài được thi hành bởi cơ quan THADS thì quá trình tổ chức thi hành phán quyết trọng tài phải tuân theo một trình tự, thủ tục pháp lý được Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định rất chặt chẽ và cụ thể Lúc này, phán quyết trọng tài được gọi chính bằng thuật ngữ “án dân sự”

Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự được hiểu là các bước THADS do

cơ quan THADS có thẩm quyền thực hiện tính từ thời điểm cơ quan THADS

có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu thi hành án (THA) và ra quyết định THA theo đơn yêu cầu của người THA đến khi thi hành xong toàn bộ nội dung án dân sự và đưa hồ sơ THA và lưu trữ Quá trình này được CHV cơ quan THADS cấp tỉnh nơi Hội trong trọng tài ra phán quyết tổ chức thi hành Trình

tự, thủ tục THA được tiến hành theo các bước sau:

* Đơn yêu cầu thi hành án

Người được THA có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyền trọng tài Theo Điều 31 Luật THADS, đơn yêu cầu THA phải có các nội dung chính sau: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu; Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án; Nội dung yêu cầu thi hành án; Thông tin

về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan (nếu có) Người yêu cầu THA có quyền yêu cầu cơ

Trang 5

quan THADS áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành theo quy định tại Điều 66 Luật THADS

Sau khi hoàn chỉnh nội dung và hình thức đơn yêu cầu THA và các tài liệu kèm theo, người được THA tự minh hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu THA bằng một trong các hình thức sau: nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan THADS; gửi đơn qua đường bưu điện (Điều 32 Luật THADS)

* Thụ lý hoặc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án

Khi nhận đơn yêu cầu THA, cơ quan THADS phải kiểm tra cụ thể nội dung đơn và các tài liệu kèm theo Nếu thấy thiếu các thông tin cần thiết thì

cơ quan THADS thông báo đề đương sự bổ dung nội dung đơn yêu cầu THA trước khi ra quyết định THA

Theo Điều 34 Luật THADS thì nếu thấy có căn cứ từ chối nhận đơn yêu cầu THA thì cơ quan THADS sẽ không thụ lý đơn của người được THA, gồm các trường hợp: người được THA không có quyền yêu cầu THA hoặc nội dung đơn yêu cầu THA không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; cơ quan THADS được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định; hết thời hiệu yêu cầu thi hành bản án, quyết định Thời hạn yêu cầu THA là 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án(2) Cơ quan THADS từ chối nhận đơn yêu cầu THA phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu THA

Như vậy, nếu xét thấy đơn yêu cầu của người được THA đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật và không thuộc các trường hợp từ chối nhận đơn yêu cầu THA thì cơ quan THADS sẽ thụ lý đơn yêu cầu THA và ra quyết định THA theo yêu cầu của người được THA

* Ra quyết định thi hành án

2 Điều 30 Luật THADS

Trang 6

Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu THA, thủ trưởng cơ quan THADS ra Quyết định THADS theo đơn yêu cầu (Điều 36 Luật THADS) Quyết định THA phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 38 Luật THADS), đồng thời Quyết định THA và các văn bản khác có liên quan đến việc THA phải được thông báo cho các đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức: Thông báo trực tiếp hoặc quan cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; Niêm yết công khai (áp dụng trong trường hợp không rõ địa chỉ của người phải THA); Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (Điều 39 Luật THADS)

* Tổ chức thi hành quyết định thi hành án

Quyết định THA có hiệu lực kể từ ngày ký Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày ra Quyết định THA, Thủ trưởng cơ quan THADS phải phân công CHV tổ chức thi hành Quyết định THA đó (Điều 36 Luật THADS)

CHV thông báo cho người phải THA thời hạn tự nguyên THA là 15 ngày, kể từ này người phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp lệ Quyết định THA Song song với việc gửi quyết định THA và thông báo thời hạn tự nguyện thi hành cho người phải THA, CHV thực hiện hoạt động xác minh THA Xác minh THADS là quá trình kiểm tra thực tế cho thấy người phải THA điều kiện, hay nói cách khác là có khả năng THA hay không Đây

là hoạt động quan trọng nhất và cũng xuyêt xuốt trong toàn bộ quá trình THADS mà CHV phải thực hiện

Thời hạn tự nguyện THA là 15 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được thông báo hợp lệ quyết định Hết thời hạn trên, người phải THA có điều kiện mà không tự nguyện THA thì bị cưỡng chế thi hành CHV có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế cũng một lúc trong số các biện pháp đã được pháp luật THADS quy định

* Kết thúc thi hành án

Trang 7

Quá trình THA được coi là đương nhiên kết thúc trong các trường hợp quy định tại Điều 52 Luật THADS:

“1 Đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình;

2 Có quyết định đình chỉ thi hành án;

3 Có quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án.”

2 Thực trạng áp dụng các quy định về thi hành phán quyết trọng tài

1.1 Thực trạng

Từ khi Luật TTTM năm 2010 thay thế Pháp lệnh năm 2003, cùng với

đó là việc ban hành Luật THADS năm 2008 thì việc thi hành phán quyết TTTM đã có những chuyển biến tích cực, việc thi hành phán quyết TTTM đã

có nhiều cơ sở pháp lý đảm bảo hơn cho việc thi hành trên thực tế.Mặc dù vậy, về cơ bản thì hoạt động thi hành phán quyết trọng tài trên thực tế là không nhiều, không cao

Theo số liệu thống kế kết quả thi hành án dân sự của Cục THADS thành phố Hồ Chí Minh(3) thì:

Năm 2010: có tổng số 739 việc kinh tế phải thi hành tương ứng với số tiền 2 nghìn 252 tỷ 945 triệu 637 nghìn đồng, trong đó có 329 việc có điều kiện thi hành (chiếm tỉ lệ 44$ tổng số án phải thi hành) tương ứng 963 tỷ 532 triệu 693 nghìn đồng (chiếm tỷ lệ 43% số tiền phải thi hành) Cục đã thi hành xong 213 việc (chiếm tỉ lệ 64% /số việc có điều kiện thi hành) tương ứng 717

tỷ 794 triệu 727 nghìn đồng (chiếm tỉ lệ 74%/số tiền có điều kiện thi hành)

Trong số án kinh tế phải thi hành, có 7 phán quyết trọng tài (chiếm tỉ lệ 0,09%/tổng số án kinh tế phải thi hành) tương ứng 3 tỷ 191 triệu 669 nghìn

840 đồng và 120 nghìn 304 USD (chiếm tỉ lệ 0,03%/tổng số tiền kinh tế phải thi hành) Cục THADS thành phố thi hành xong 3 việc (chiếm tỉ lệ 42%/tổng

số việc phải thi hành), tương ứng số tiền 375 triệu 302 nghìn 939 đồng

Năm 2011 có tổng cộng 1693 việc kinh tế phải thi hành tương ứng với

số tiền 2 nghìn 034 tỷ 413 triệu 552 nghìn đồng, trong đó có 813 việc có điều

3 Nguyễn Mạnh Cường, Pháp luật về thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại ở Việt Nam – một số vấn

đề lí luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ luật học, năm 2012.

Trang 8

kiện thì hành (chiếm tỉ lệ 48%/tổng số án phải thi hành) tương ứng 912 tỷ 756 triệu 073 nghìn đòng (Chiếm tỉ lệ 49%/tổng số tiền phải thi hành) Cục đã thi hành xong 460 việc (chiếm tỉ lệ 56%/số việc có điều kiện thi hành) tương ứng

540 tỷ 208 triệu 389 nghìn đồng (chiếm tỉ lệ 59%/số tiền có điều kiện thi hành)

Trong số án kinh tế phải thi hành, có 10 phán quyết trọng tài (chiếm tỉ

lệ 0,05%/tổng số án kinh tế phải thi hành) tương ứng 75 tỷ 830 triệu 257 nghìn 089 đồng và 1 triệu 808 nghìn 772 USD (chiếm tỉ lệ 5%/tổng số tiền kinh tế phải thi hành Cục THADS Thành phố thi hành xong 4 việc (chiếm tỉ

lệ 40%/tổng số việc phải thi hành) tương ứng với số tiền 1 tỷ 124 triệu 929 nghìn 911 đồng (chiếm tỉ lệ 0,1%/tổng số tiền phải thi hành

Số liệu thông kê tại thành phố Hồ Chí Minh – địa phương thu lý thi hành phán quyết trọng tài nhiều nhất cả nước, đã phản ánh rõ nét sự “ảm đảm” trong việc tổ chức thi hành loại vụ việc này Những con số trên cho thấy rằng, việc các doanh nghiệp lựa chon TTTM làm phương thức giải quyết tranh chấp thương mại là rất ít và việc thi hành phán quyết trọng tài cũng chưa thực sự đạt hiệu quả

1.2 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, có thể kể đến các nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành, cùng với

các Luật chuyên ngành khác còn bộc lộ một số khiếm khuyết do chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, thiếu thống nhất với pháp luật có liên quan

Thứ hai, công tác tuyên truyền Luật THADS, Luật TTTM, các văn bản

hướng dẫn thi hành chưa thường xuyên, phong phú, đa dạng, do đó, nhiều doanh nghiệp, đương sự chưa biết và hiểu biết về TTTM, hoạt động của TTTM cũng như công tác thi hành phán quyết TTTM

Thứ ba, ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của một số cá nhân liên quan

đến việc THA còn yếu, nhất là người phải thi hành án

Trang 9

Để khắc phục những hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thi hành phán quyết TTTM có hiệu quả, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, sửa đổi, bổ sung pháp luật về thi hành phán quyết TTTM trên

cơ sở thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Hai là, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đồng thời có các biện pháp

mạnh đối với các trường hợp không chịu thi hành, trốn tránh nghĩa vụ thi hành phán quyết trọng tài

Ba là, nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ CHV, đảm bảo đội ngũ

này có đầy đủ phương tiện và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động THADS nói chung và thi hành phán quyết trọng tài nói riêng

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

1 Các quy định về hủy phán quyết trọng tài

Hủy phán quyết trọng tài được hiểu là việc Tòa án không thừa nhận hiệu lực pháp lý của phán quyết trọng tài do những vi phạm pháp luật (chủ yếu về thủ tục) Tố tụng trọng tài không có nhiều giai đoạn xét xử, không có thủ tục phúc thẩm, giám đóc thẩm, tái thẩm Vì vậy, không ai có thể đảm bảo rằng quyết định giải quyết tranh chấp trọng tài luôn đúng về mọi phương diện Điều 69 Luật TTTM quy định:

“1 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài

đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

là có căn cứ và hợp pháp.

2 Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian

có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”.

Trang 10

Thủ tục hủy quyết định trọng tài của Tòa án không phải là thủ tục xét

xử lại vụ kiện, không giống như thủ tục phúc thẩm trong tố tụng dân sự Luật TTTM 2010 đã quy định một cách cụ thể về vấn đề hủy quyết định trọng tài : căn cứ hủy quyết định trọng tài (Điều 68); quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (Điều 69); đơn phương yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (Điều 70) ; Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (Điều 71) Khi xem xét việc hủy phán quyết trọng tài, còn có sự tham gia của Viện kiểm sát với tu các là

cơ quan giám sát hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc hỗ trợ hoạt động trọng tài Khi nhận được đơn yêu cần hủy quyết định trọng tài đối với vụ tranh chấp đã được trọng tài giải quyết, Tòa án chỉ đối chiếu với các trường hợp hủy quyết định trọng tài quy định tại Điều 68 LTM 2012 để ra quyết định Đó là các trường hợp:

“a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;

c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó

để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

Nếu như bên yêu cầu chứng minh được quyết định trọng tài đã tuyên thuộc một trong các trường hợp trên thì Tòa án sẽ quyết định hủy quyết định trọng tài Với trường hợp quy đinh tại điểm đ khản 2 Điều 68 thì Tòa án sẽ có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy quyết định trọng tài Quy định này góp phần khắc phục những sai

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w