Nguyên tắc này đảm bảo cho các đương sự có điều kiện bằng hành vi của mình quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của họ Thứ hai, Nguyên tắc này còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tố tụng dân sự có nhiều nguyên tắc cơ bản, các nguyên tắc này có sự tác động qua lại
và có mối liên quan mật thiết đến nhau Tuy nhiên nổi trội hơn cả là nguyên tắc tự định đoạt của đương sự Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt biểu hiện ở khả năng khi tham gia tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các xâm hại Đó cũng là quan niệm chung nhất được pháp luật tố tụng dân sự của nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, áp dụng và trở thành một nguyên tắc tố tụng cơ bản
NỘI DUNG
I Khái quát chung về nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong TTDS.
1 Khái niệm và ý nghĩa nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS.
* Đương sự trong tố tụng dân sự:
Điều 56 BLTTDS quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
So với các pháp lệnh tố tụng thì khái niệm “đương sự” trong BLTTDS mở rộng hơn.
Với quy định của Pháp lệnh tố dụng, các tổ chức không có tư cách pháp nhân như tổ hợp tác
xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh… không phải là đương sự - không bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong BLDS Với quy định trong điều 56 BLTTDS đã khắc phục được những thiếu sót trong các pháp lệnh tố tụng và đã bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong BLDS
* Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự:
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh- thương mại, lao động là các quan hệ được xác lập trên cơ
sở tự nguyện thỏa thuận và bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia giao kết Vì thế, khi quyền và lợi ích của các chủ thể giao kết bị vi phạm thì việc khởi kiện hay không, phạm vi khởi kiện đến mức độ nào hoàn toàn phụ thuộc vào chính ý chí các chủ thể đó Từ bản chất
đó, Điều 5 BLTTDS đã quy định: “1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; 2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.
* Ý nghĩa của nguyên tắc:
Thứ nhất, Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là nguyên tắc cơ
bản của luật TTDS Nguyên tắc này đảm bảo cho các đương sự có điều kiện bằng hành vi của mình quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Thứ hai, Nguyên tắc này còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm của tòa án
trong việc đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự Theo điều 5 BLTTDS, Tòa án
có trách nhiệm xem xét giải quyết những yêu cầu của đương sự khi có đơn khởi kiện, yêu cầu của đương sự Tòa án có trách nhiệm giải quyết đúng và đầy đủ các yêu cầu của đương sự, không bỏ sót các yêu cầu cũng như không giải quyết vượt quá yêu cầu
2 Cơ sở của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS.
2.1 Cơ sở lý luận:
Trang 2Điều 9 BLTTDS 2004 quy định: “Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.” Như
vậy, pháp luật cho phép đương sự có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đương sự có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự khi quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Việc yêu cầu và thay đổi yêu cầu nay hoàn toàn dựa trên ý chí của đương sự Hơn nữa, để bảo đảm quyền tự bảo vệc của đương sự pháp luật còn quy định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung yêu cầu… Nếu không có quyền tự định đoạt trong TTDS thì sẽ không thể bảo đảm được nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự
Chính vì lẽ đó pháp luật quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức một số quyền lợi nhất định để họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị người khác xâm phạm Cụ thể, đương sự (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền tự mình thực hiện khởi kiện và yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự tùy vào tính chất của vụ việc Đây là một trong những quyền tố tụng quan trọng của đương sự, nhờ vào quyền tự định đoạt mà đương sự được quyền chủ động trong việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dẫn tới vụ việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, đúng đắn, khách quan hơn
2.2 Cơ sở thực tiễn:
Về tính chất, các tranh chấp dân sự không mang tính chất nguy hiểm như vi phạm quy phạm pháp luật hình sự và chưa đến mức bị coi là tội phạm Các tranh chấp trong dân sự là trách nhiệm giữa các công dân với nhau Khi các tranh chấp xảy ra, các đương sự được quyền
tự do thể hiện ý chí của mình, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng cách yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc dân sự của mình Và tòa án chỉ được giải quyết khi có yêu cầu của đương sự và khi nhận được yêu cầu của đương sự thì tòa án cần phải tiến hành xem xét và giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự
II Nội dung của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS
1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự.
1.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải
quyết dân sự.
Quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện vụ án dân sự được ghi nhận tại điều 161: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện
vụ án (người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Bên cạnh đó, điều 162 BLTTDS 2004 quy định quyền khởi kiện vụ án dân
sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà nước do các cơ quan, tổ chức thực hiện, khi họ cảm thấy quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm trong lúc tham gia các quan hệ pháp luật dân sự Quyền tự định đoạt của đương sư
là một trong những quyền quan trọng của các chủ thể khi tham gia TTDS Bởi vì Tòa án dân
sự chỉ thực hiện hoạt động xét xử khi có yêu cầu khởi kiện của các đương sự, quyền tự định đoạt của đương sự có thể được xem là cơ sở đầu tiên để tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Quyền tự định đoạt trong việc yêu cầu giải quyết việc dân sự: Như ta đã biết, việc dân
sự không mang tính chất tranh chấp như vụ án dân sự mà phần lớn là yêu cầu hay bác bỏ quyền lợi nào đó Vì vậy chỉ tồn tại khái niệm người yêu cầu và người bị yêu cầu thay thế cho
Trang 3nguyên đơn và bị đơn Người yêu cầu là người chủ động đưa yêu cầu về giải quyết vụ việc dân sự và khi tham gia hoạt động tố tụng họ được chủ động như nguyên đơn để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Nhưng phạm vi yêu cầu của họ chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh,thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của họ Điều này đã góp phần bổ sung thêm cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức khi mà họ cảm thấy quyền và lợi ích của mình chưa đúng hoặc chưa đủ và mức độ chưa tới mức trở thành tranh chấp
Các quy định trên của BLTTDS đã thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi cá nhân Nhưng sự quan tâm vẫn dựa trên nguyên tắc tôn trọng và không can thiệp vào cuộc sống riêng, người quyết định vẫn là cá nhân khi họ bị xâm phạm, chỉ trong một số trường hợp đặc biệt thì các cá nhân, tổ chức không bị xâm phạm hoặc người đại diện hợp pháp của các chủ thể này mới có quyền khởi kiện Việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ án một cách kịp thời sẽ giúp các quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ, thiệt hại sớm được khắc phục, ngặn chặn hành vi vi phạm pháp luật
1.2 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn.
Song song với quyền của nguyên đơn, pháp luật quy định quyền của bị đơn Đặc biệt, BLTTDS 2004 đã quy định thêm quyền phản tố của bị đơn, cụ thể, điểm c khoản 1 điều 160
BLTTDS có quy định như sau: “Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu” Ngoài ra
bị đơn còn có quyền bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn Có thể là bác bỏ về nội dung (khi bị đơn đưa ra lập luận không có căn cứ yêu cầu khởi kiện như nguyên đơn nêu ttrong đơn xảy ra trong thực tế); bác bỏ về tố tụng (khi bị đơn chứng minh yêu cầu của nguyên đơn đã vi phạm thủ tục tố tụng) Như vậy, BLTTDS 2004 không chỉ ghi nhận quyền tự định đoạt của nguyên đơn mà còn ghi nhận quyền tự định đoạt của bị đơn Đây là một điểm quan trọng và phù hợp
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các công dân khi tham gia quan hệ dân sự
1.3 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ
liên quan.
Khái niệm người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quy định quy định tại khoản 4 Điều BLTTDS 2004 và họ cũng có quyền thể hiện sự tự định đoạt của mình được quy định tại điều 177 BLTTDS 2004 Theo đó, trong trường hợp người có quyền, nghĩa vụ không liên quan đến nguyên đơn hoặc bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện nhất định Trong vụ án dân sự lợi ích hợp pháp của người có quyền và lợi ích liên quan tham gia tố tụng độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống lại cả nguyên đơn và bị đơn Việc cho người có quyền, nghĩa vụ được tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu khi đáp ứng được những điều kiện nhất định cũng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của những người này, tránh việc giải quyết các vấn đề liên quan tới một vụ việc dân sự đã xét xử nhiều lần
2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, yêu cầu và thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự.
2.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung yêu cầu.
Nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vu án dân sự, nhưng trong quá trình giải quyết nguyên đơn có thể muốn bổ sung hoặc sử đổi yêu cầu của mình Nhưng tùy vào từng giai đoạn tố tụng mà yêu cầu đó được chấp nhận hay không chấp nhận Trước khi mở phiên tòa thì quyền này là quyền tuyệt đối Nhưng sau khi mở phiên tòa sơ thẩm việc thay đổi
Trang 4bổ sung yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn bị giới hạn không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu (điều 218 BLTTDS 2004) Mục 6 phần III Nghị quyết số 02/2006/NQ-HDTP ngày
12/5/2006 có quy định: “việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người cso quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…” Ví dụ: ban đầu nguyên đơn khởi kiện về bồi thường thiệt hại và
phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng, tại phiên tòa nguyên đơn có thể rút yêu cầu, chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại, thì yêu cầu này được chấp nhận Nhung không phải nguyên đơn là người duy nhất có quyền thể hiện ý chí trong giai đoạn này mà quyết định của bị đơn và người có quyền và lợi ích liên quan cũng sẽ ảnh hưởng tới chiều hướng phát triển của vụ việc dân sự
Đối với việc rút đơn khởi kiện, rút đơn trong mọi giai đoạn tố tụng đều có thể được tòa
án chấp nhận Theo nguyên tắc chung, rút đơn khởi kiện , yêu cầu là hành vi định đoạt của nguyên đơn, người được yêu cầu được biểu hiện ở hai khía cạnh đó là sự từ bỏ yêu cầu (dựa trên mặt nội dung) và sự từ bỏ phương tiện bảo vệ yêu cầu bằng con đường tố tụng Nguyên đơn có thể rút một phần yêu cầu hoặc rút toàn bộ yêu cầu (điểm b khoản 1 điều 59) Trước phiên tòa, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước phiên tòa, thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (điểm c khoản 1 điều 192) Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, bị đơn rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút đơn đó là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu nguyên đơn đã rút (khoản
2 điều 218) Người yêu cầu trong việc dân sự có thể rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình Tại phiên họp giải quyết việc dân sự trường hợp người yêu cầu rút một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu của mình và việc rút đó là tự nguyện thì tòa án chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu của người yêu cầu
Trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu rút đơn kiện, yêu cầu trước khi mở và tại phiên tòa phúc thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự, để bảo đảm lợi ích hợp pháp của hai bên đương sự - Điều 269 BLTTDS 2004- HĐXX phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không
và tùy vào từng trường hợp mà ra quyết định Trong trường hợp này đương sự vẫn phải chịu
án phí sơ thẩm theo quyết định của tòa án sơ thẩm và phải chịu nửa án phí phúc thẩm
Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự là những quyền tố tụng rất quan trọng của đương sự Nhưng việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu có được tòa án chấp nhận hay không phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của chủ thể Theo đó, ý chí cũng như quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện một cách đầy đủ
2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự các bên vẫn có quyền thương lượng, hòa giải với nhau Điều này xuất phát từ bản chất quan hệ dân sự, các bên bình đẳng, tự do cam kết, xác lập thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội Trong TTDS thỏa thuận mạng ý nghĩa quan trọng, bởi vụ việc dân sự được Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vì vậy, đương sự tham gia TTDS nếu cảm thấy sau khi hòa giải quyền lợi của mình được bảo đảm thì phiên tòa hay phiên họp giải quyết không còn ý nghĩa, nếu tiếp tục xét xử thì vừa tốn kém lại có thể không mang lại kết quả như mong muốn của các chủ thể BLTTDS 2004 đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng về vấn đề này khi quy
định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”
Trang 5Mọi tác động bên ngoài ý chí của chủ thể đều bị coi là trái pháp luật và không được
công nhận “Tôn trọng sư tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình” (điểm khoản 2 điều 180) Việc hòa giải của các đương sự cần kể tới vai trò quan trọng
của tòa án trong việc tạo điều kiện và giải quyết những vướng mắc của đương sự theo các quy định của pháp luật Nhưng người quyết định vẫn là các đương sự
Theo điều 220 BLTTDS 2004, tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX sẽ hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, nếu đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức
xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận việc thỏa thuận của đương sự Trong giai đoạn phúc thẩm, tuy BLTTDS không quy định tòa án cấp phúc thẩm phải hòa giải trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và tại phiênn tòa phúc thẩm nhưng nếu tại tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án (tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức
xã hội) HĐXX phúc thẩm ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm,công nhận sự hòa giải của các đương sự (Mục 5.1, phần III Nghị quyết 05/2005/NQ-HDTP)
Nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong việc hòa giải còn thể hiện ở quyền tự thỏa thuận của đương sự Theo đó, các đương sự có quyền tự thỏa thuận không thông qua Tòa án, trong trường hợp Tòa án không phải người chủ động đưa vụ án hòa giải mà các đương sự tự thỏa thuận với nhau
Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người, trong đó vai trò của đương sự luôn được đề cao trong tất cả các giai đoạn tố tụng Công dân có quyền tự bảo vệ mình trong khuôn khổ pháp luật và đạt được kết quả phù hợp nhất đối với đương sự và xã hội Đồng thời, nguyên tắc này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ dân trí, giao dục nếp sống và làm theo pháp luật trong nhân dân
3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án.
3.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét trên phương diện tố tụng, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì quyền cử người đại diện, quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cũng thuộc nội dung quyền tự định đoạt của đương sự Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình các đương sự thường tự mình
tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ Tuy nhiên trong một số trường hợp để bảo vệ tốt hơn quyền lợi ích hợp pháp của mình có thể ủy quền cho người khác thay mình tham gia tố tụng Người này được gọi là người đại diện theo ủy quyền của đương sự (Khoản 3 Điều 73 BLTTDS2004) Viêc đại diện theo ủy quyền này, hoàn toàn dựa trên sự tự định đoạt của các đương sự Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện thực hiện toàn bộ các quyền
và nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy vậy, sau khi ủy quyền cho người đại diện, đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để bổ sụng cho hoạt động của người đại diện
Theo quy định tại điều 63 BLTTDS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đương sự có quyền nhờ luật sư hoặc người khác mà Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng Người tham gia tố tụng này được gọi là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đây cũng là biểu hiện của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự và được pháp luật tôn trọng Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải đảm bảo các điều kiện quy
Trang 6định tại khoản 2 Điều 63 BLTTDS Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựtham gia tố tựng theo yêu cầu của đương sự nên việc thay đổi, chấm dứt việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự do hai bên quyết định Như vậy, một lần nữa quyền tự định đoạt của đương sự lại được thể hiện tất cả đều hướng tới lợi ích của đương sự
3.2 Quyền tự định đoạt của đương sư trong việc kháng cáo bản án, quyết định của
tòa án.
Kháng cáo là một quyền tố tụng cơ bản của đương sự, được quy định tại điểm o khoản
2 điều 58 BLTTDS Tuy nhiên theo quy định của pháp luật thì đương sư được tự quyết định việc thực hiện quyền này Điều đó đã gián tiếp khẳng định quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo vụ án đã xét xử sơ thẩm ngoài ra, BLTTDS còn quy định đương sự cso quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước khi bắt đầu phiên tòa, tại phiên tòa nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu
Ngoài việc quy định đương sự có quyền kháng cáo, pháp luật cũng quy định đương sự
có quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo Theo quy định tại khoản 1 điêu 256 BLTTDS thì đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu Tòa án phúc thẩm sẽ ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút đơn kháng cáo Để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, cũng như để giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật, BLTTDS quy định tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét
xử lại những phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo Đối với nghững phần của bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo thì Hội đồng xét xử không có thẩm quyền xem xét, quyêt định
4 Trách nhiệm của tòa án trong việc đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS.
Bên cạnh các quy định quyền tự định đoạt của đương sự trong việc tham gia tố tụng, quyết định quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong BLTTDS cũng quy định rõ trách nhiệm của tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tư định đoạt của đương sự trong
TTDS Cụ thể Điều 5 BLTTDS quy định “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu đó” Trách nhiệm của
tòa án trong việc đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự được biểu hiện ở phương diện, tòa án chỉ được thụ lý vụ án khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự Nếu không có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự thì tòa án không đươc giải quyết vụ việc dân sự Hơn nữa, khi đã nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thì tòa án cũng chỉ được giải quyết trong phạm vi của đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Đây là điều hoàn toàn khác với TTHS, cũng thể hiện rõ sự tôn trọng của Nhà nước đối với quyền tự định đoạt của đương sự
Bên cạnh đó Tòa án trong các giai đoạn tố tụng đều luôn thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự từ việc thỏa thỏa thuận, thay đổi, bổ sung, rút đơn yêu cầu…Đảm bảo quyền tự định đoạt triệt để nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
III Thực trạng và kiến nghị nhằm đảm đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền tự
định đoạt của đương sự trong TTDS.
1 Kết quả đạt được:
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc trưng của TTDS Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế
Trang 7xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Và nguyên tắc tự định đoạt của đương sự ngày càng được quan tâm và coi trọng Cụ thể là đương sự đã thể hiện được quyền
tự định đoạt của mình khá tốt, đương sự đã thể hiện quyền tự định đoạt của mình khi họ có quyền và lợi ích bị xâm phạm Quyền tự định đoạt của họ được thể hiện ở trong hầu hết các giai đoạn tố tụng
Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, quyền tự định đoạt của đương sự không phải là quyền tuyệt đối mà được đặt trong mối quan hệ với các quyền của chủ thể tố tụng khác Ở mỗi giai đoạn tố tụng cụ thể, quyền tự đoạt của đương sự bị chi phối bởi các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Toà án Một minh chứng cụ thể đó là trong
Báo cáo tổng kết năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Tòa án nhân dân ngày 25/1/2010, Tòa án nhân dân tối cao đã khẳng định TAND các cấp đã thụ lí
214.174 vụ việc, đã giải quyết, xét xử được 194.358 vụ việc, đạt tí lệ 90,7% Tỷ lệ các vụ việc dân sự được giải quyết bằng hòa giải thành chiếm tỉ lệ 45% tổng số vụ việc đã giải quyết, tăng hơn năm trước 1% Qua số liệu này, có thể thấy Tòa án đã thực sự phát huy vai trò của mình đối với việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sư trong TTDS
2 Những tồn tại và hạn chế.
2.1 Về mặt pháp luật:
Thứ nhất, Hiện nay BLTTDS chỉ mới có quy định về nguyên đơn và bị đơn trong vụ án dân sự (Điều 56) mà chưa quy định rõ các chủ thể đưa ra các yêu cầu trong việc dân sự có được coi là “đương sự” không? Quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể trên được bảo vệ như thế nào so với các đương sự trong vụ án dân sự Việc này gây khó khăn cho đương sự khi
họ không biết mình có những quyền gì khi tham gia quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Thứ hai, BLTTDS quy định nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc
tại phiên tòa phúc thẩm phải có sự đồng ý của bị đơn là không phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt của đương sự Vì khi đó, sự tự định đoạt của nguyên đơn lại phụ thuộc vào ý chí bị đơn
BLTTDS chưa quy định thời điểm thực hiện, thời hạn của việc phản tố của bị đơn và đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Việc đó ảnh hưởng rất lớn đến quyền tự định đoạt của đương sự trong việc đưa ra các loại yêu cầu này Bên cạnh đó, việc Tòa án hiểu khác nhau nên áp dụng không thống nhất, có tòa án chấp nhận yêu cầu phản
tố nhưng lại cho rằng hết thời hạn yêu cầu và cũng có Tòa không chấp nhận các yêu cầu trên
Thứ ba, trong TTDS, hòa giải vừa là một nguyên tắc, vừa là thủ tục, là một nội dung
của quyền tự định đoạt Có trường hợp, giải thích, hướng dẫn thủ tục về hòa giải lại làm cho
vụ việc phức tạp thêm, dẫn tới quá trình giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn Về bản chất, cùng một hành vi tố tụng được thực hiện ở những giai đoạn khác nhau lại phát sinh những hậu quả pháp lý khác nhau làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi hợp pháp của đương sự Vì vậy, việc pháp luật TTDS quy định về hòa giải như hiện nay chưa thực sự có ý nghĩa là một nguyên tắc tố tụng, một nội dung cơ bản của quyền tự định đoạt của đương sự
Thứ tư, cung cấp chứng cứ và chứng minh vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự.
Việc pháp luật tố tụng quy định về chứng cứ và chứng minh như hiện nay còn rất chung
chung, chưa phân biệt rõ “nguồn chứng cứ” và “phương tiện chứng minh” dẫn tới việc các
chủ thể tố tụng, đặc biệt là các đương sự gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình chứng minh
để bảo vệ quyền lợi của mình Việc xem nhẹ trách nhiệm thu thập và bảo quản chứng cứ của Tòa án như hiện nay chưa phản ánh đầy đủ nội dung quyền của đương sự khi yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước các vi phạm
Trang 8Thứ năm, trong pháp luật TTDS của nhiều nước trên thế giới, việc đương sự tham gia
tố tụng trong phiên tòa giám đốc thẩm là hành vi tố tụng phổ biến Việc hạn chế sự tham gia của đương sự cũng như các chủ thể khác tại phiên tòa giám đốc thẩm như pháp luật ở nước ta hiện nay là chưa thực sự phản ánh hết nội dung và bản chất quyền tự định đoạt của đương sự
2.2 Về mặt thực hiện pháp luật.
Về phía đương sự do không hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật nên không thực hiện đúng được các quyền, nghiã vụ TTDS của mình Trên thực tế đã không ít trường hợp đương sự khởi kiện yêu cầy tòa án giải quyết vụ việc dân sự khi đã hết thời hiện khởi kiện
bị trả lại đơn kiện ngoài ra, đương sự còn thực hiện quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án trong nhiều trường hợp cũng không đúng, vượt quá thời hạn do pháp luật quy định nhưng đương sự vẫn kháng cáo
Về phía tòa án do đội ngũ Thẩm phán còn yếu cả về năng lực, chuyên môn và nghiệp
vụ nên còn nhiều sai sót, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án Thực tế những sai sót trong việc trả lại đơn kiện, không xem xét hết yêu cầu của đương sự hoặc quyết định của bản
án vượt phạm vi yêu cầu của đương sự, xét xử vắng mặt đương sự… Điều này hạn chế lướn tới việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS
3 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của
đương sự trong TTDS.
Thứ nhất, cần quy định rõ thời điểm bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố như sau: “ Bị đơn
có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm”.
Ngoài ra, nên quy định thời điểm để người có quyền và lợi ích liên quan đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giúp việc xét xử diễn ra thuận lợi, nhanh và chính xác
Thứ hai, nên quy định rõ sự khác biệt về địa vị tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập so với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập bởi khi tham gia tố tụng với những quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau thì vai trò của các chủ thể sẽ khác nhau
Thứ ba, nên quy định lại việc rút đơn của nguyên đơn trước khi mở phiên tòa hoặc tại
phiên tòa phúc thẩm không cần có sự đồng ý của nguyên đơn Và nếu bị đơn thấy việc nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện rồi rút lại đơn khởi kiện mà gây thiệt hại cho họ về danh dự, nhân phẩm hoặc với tài sản thì họ có quyền khởi kiện nguyên đơn bồi thường thiệt hại
Thứ tư, cần có các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải, tạo cơ sở cho
việc hòa giải diễn ra một cách thuận lợi nhất
Bên cạnh đó cần nâng cao năng lực xét xử của thẩm phán và đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, từ đó mọi người có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tốt hơn
KẾT LUẬN
BLTTDS ra đời đánh dấu một bước thay đổi vượt bậc cả về lượng và chất trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có các quy định về đương sự trong vụ án dân
sự Đặc biệt, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện rõ nét nhất sự bảo vệ của luật pháp đối với các đương sự trong vụ án dân sự Với nguyên tắc này đương sự sẽ bảo vệ được tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 9Danh mục tài liệu tham khảo
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb.Tư Pháp,
Hà Nội, 2005
2 Học viện tư pháp, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb CAND, Hà Nội, 2007
3 Phạm Hữu Nghị (2000), “Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (12), tr 39-40.
4 Nguyễn Ngọc Khánh (2005), “Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương
sự trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (5), tr 65-68.
5 Nguyễn Công Bình, “Đặc san về Bộ Luật TTDS”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (5), tr.
6 Bộ luật Tố tụng Dân sự của nước CHXHCNVN (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
6 Trường Đại học Luật Hà Nội, “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Văn Tuyết, 2011
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Khoá luận tốt nghiệp, Nguyễn Nữ Giang Anh, 2010
8. Bộ luật tố tụng dân sự 2004
9. Nghị quyết của HĐTPTANDTC SỐ 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi
hành một số quy định của BLTTDS về “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm”
10 Các trang Web:
- http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com
- http://luatsuhanoi.vn
- http://luathoc.cafeluat.com
- http://quochoi.vn
- http://www.ecolaw.vn