Theo quy định của pháp luật thì, nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.. Để hiểu rõ hơn về những hậu quả pháp lý mà các cặp Nam, Nữ
Trang 1MỞ BÀI
Tình trạng “Nam, nữ chung sống như vợ, chồng” không đăng ký kết hôn là một hiện tượng đã và đang tồn tại trong xã hội ta như một hiện tượng khách quan và có xu hướng ngày càng phổ biến Hiện tượng này phát sinh và tồn tại chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố như là ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của lối sống phương Tây, của trình độ dân trí và ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân Theo quy định của pháp luật thì, nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng Trên thực tế, thì việc “kết hôn” không đăng ký sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như sau một thời gian chung sống, các bên có con chung, tài sản chung thì giữa họ nảy sinh mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn; lại có trường hợp sau khi chung sống, một trong hai bên lại đăng ký kết hôn với người khác
Để hiểu rõ hơn về những hậu quả pháp lý mà các cặp Nam, Nữ chung sống như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ phải giải quyết như thế nào, thì em xin lựa
chọn đề tài “Giải quyết vấn đề pháp lý của những trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng” làm đề tài tìm hiểu cho bài tập của mình, rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn !
B NỘI DUNG
I – KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NAM, NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ, CHỒNG
1 Khái niệm nam, nữ chung sống như vợ chồng
Trong xã hội hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tình trạng “nam
nữ chung sống như vợ, chồng” Một số quan điểm cho rằng “nam, nữ sống với nhau không làm hôn thú nhưng bà con, làng xóm, gia đình hai bên đều công nhận, hai bên thường xuyên chung sống một nhà, công nhận con sinh ra là con của hai người thì được xem là chung sống như vợ chồng”
Trang 2Có quan điểm lại cho rằng “chung sống như vợ chồng là phải chung sống thực
tế, thường xuyên trong một mái nhà, thường xuyên qua đêm công khai và được nhiều người biết đến thì mớ gọi là chung sống như vợ, chồng”
Theo quy định tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số 01/2001/TTLT TANDTC
-VKSNDTC – BTP ngày 03 tháng 01 năm 2001 thì: “Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.”
Dưới góc độ pháp lý thì “nam nữ chung sống như vợ chồng” là trường hợp nam
nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn
Về nguyên tắc pháp luật không công nhận trường hợp này là vợ chồng Tuy nhiên, trên thực tế, các bên nam nữ vẫn chung sống với nhau như vợ chồng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, với gia đình và với xã hội
2 Về bản chất
Theo quy định của pháp luật thì nam, nữ muốn trở thành vợ, chồng phải đăng
ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này đã được khẳng định ngay
trong điều 11 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 1959: “Việc kết hôn phải được
ủy ban hành chính cơ sở trú quán của bên con trai hoặc bên con gái công nhận và
Trang 3ghi vào sổ kết hôn Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật”
Trên cơ sở kế thừa và phát triển luật Hôn nhân gia đình năm 1959 thì tại Điều
11 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại điều 14 của luật này Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại điều 14 của luật này đều khong có giá trị pháp lý”
Tuy vậy, nhưng trên thực tế xuất phát từ nguyên nhân đất nước trải qua một thời gian chiến tranh kéo dài, do phong tục, tập quán về kết hôn nên nhiều đôi kết hôn không đăng ký kết hôn, mà chỉ dựa theo phong tục, tập quán hay lề lỗi cổ xưa Để bảo vệ quyền lợi của các bên và con nên nhà nước ta đã công nhận trường hợp nam,
nữ chung sống như vợ chồng là kết hôn thực tế Tuy nhiên để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì nhà nước ta chỉ công nhận các trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng có đủ điều kiện kết hôn mà không đăng ký kết hôn và thời điểm bắt đầu chung sống trước ngày luật Hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực (tức ngày 3/1/1987) là hôn nhân thực tế, tức là nam, nữ chung sống theo quy định của pháp luật
Đối với nam, nữ chung sống như vợ, chồng từ ngày 3/1/1987 đến trước ngày 1/1/2001 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ, chồng Như vậy vấn đề nam, nữ chung sống như vợ, chồng đã được cập nhật trong các văn bản pháp luật do nhà nước ta ban hành và sử dụng rộng rãi, các bản án, quyết định của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến hiện tượng nam, nữ chung sống như vợ, chồng, có đủ điều kiện nhưng không đăng ký kết hôn
Nam, Nữ chung sống như vợ, chồng về thực chất thì đây là quan hệ vợ chồng mà quan hệ đó không được xác lập theo thủ tục và trình tự pháp lý nhất định nhưng lại
đã và đang tồn tại trên thực tế Hai bên chung sống với nhau như vợ chồng, thực sự coi nhau là vợ chồng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với
Trang 4nhau, với gia đình và với xã hội Vì vậy, trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng và hôn nhân có đăng ký kết hôn về bản chất là giống nhau
3 Đặc điểm
Thứ nhất: nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn mà
chung sống như vợ, chồng Tức là việc chung sống của nam, nữ này tuân thủ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, về các điều kiện để kết hôn Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng xuất phát từ một vài lý do mà các bên không tiến hành đăng ký kết hôn Ví dụ như ở các tỉnh miền núi, do phong tục tập quán, kết hôn chỉ cần sự chứng kiến của già làng nên việc đăng ký kết hôn khi lấy vợ, lấy chồng vẫn chưa được người dân biết đến và
quan tâm Hoặc ở thành phố với lối sống “nhà nào biết nhà đấy” và do sự ảnh hưởng
mạnh mẽ của tư tưởng tự do cá nhân đã tạo điều kiện cho việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn diễn ra phổ biến
Đây chính là đặc điểm cơ bản để phân biệt với trường hợp nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn hay trường hợp kết hôn trái pháp luật Đối với các trường hợp nam
nữ không đủ điều kiện kết hôn hoặc kết hôn trái pháp luật, các bên nam nữ đều không
đủ điều kiện kết hôn có thể là về độ tuổi, về ý chí tự nguyện hoặc vi phạm điều cấm của xã hội không thể đăng ký kết hôn hoặc mặc dù có đăng ký kết hôn nhưng cũng không được công nhận là vợ chồng Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên không hề vi phạm những điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật
Về nội dung giữa hôn nhân hợp pháp và nam nữ chung sống như vợ chồng không có sự khác biệt Chính vì vậy, hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên hoàn toàn không vi phạm pháp luật
Về mặt hình thức, nam nữ chung sống như vợ chồng là trường hợp nam nữ chung sống với nhau nhưng giữa họ không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ
Trang 5quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp Điều đó có nghĩa là giữa họ trong quan hệ hôn nhân không có chứng cứ về mặt pháp lý để khẳng định họ là vợ chồng Theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống như vợ chồng không được công nhận là vợ chồng Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hôn nhân có đăng ký và trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Thứ hai: trong thời gian chung sống như vợ chồng, hai người thực sự coi nhau
là vợ chồng Đây là điểm có thể giúp ta phân biệt với trường hợp nam nữ sống chung tạm bợ Việc đánh giá việc hai người có coi nhau là vợ chồng thực sự là vấn đề phức tạp Bởi lẽ đây thuộc về ý thức chủ quan của con người, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh
và thời điểm khác nhau
Thứ ba: khi bắt đầu chung sống, hai người mong muốn chung sống lâu dài và
ổn định Đây là đặc điểm để phân biệt với khái niệm “hôn nhân thử nghiệm” Đối với
“hôn nhân thử nghiệm”, thì trước khi chung sống, các bên thỏa thuận sẽ “thử” chung
sống với nhau như vợ chồng, “thử” thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng Nếu sau một thời gian chung sống, các bên thấy phù hợp thì sẽ lúc này sẽ tiến hành đăng ký kết hôn, còn trường hợp không thấy phù hợp với nhau nữa thì các bên
sẽ “đường ai nấy đi” Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên mong muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc nên từ khi bắt đầu chung sống, họ
đã có ý định gắn bó lâu dài với nhau
II – THỰC TRẠNG NAM, NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
Hiện nay, tình trạng nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đang diễn ra ngày càng phổ biến, theo số liệu thống kê cho thấy hiện tượng này chiếm tới 7% tổng số gia đình Việt Nam Trên thực tế, hiện tượng này thường được diễn ra chủ yếu ở các đối tượng là học sinh, sinh viên thuộc các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và các trường dạy nghề; cũng có thể là một bộ phận nhân dân do hạn chế về nhận thức, ảnh hưởng của phong tục tập quán mà một trong các bên đã qua một lần kết hôn, sau đó hôn nhân của họ chấm dứt do ly hôn hoặc do
Trang 6vợ chồng chết, khi tuổi đã cao mới “kết bạn” để nương tựa nhau Cũng có thể là một trong hai bên là người “quá lứa lỡ thì” chung sống với người khác trong hoàn cảnh
“rổ rá cạp lại” nên họ ngại không muốn thực hiện thủ tục của việc kết hôn
Tại các vùng nông thôn, quan niệm về hôn nhân còn rất hà khắc và dư luận xã hội dẫn đến việc họ e dè không dám sống như vợ chồng Còn ở thành phố lớn “nhà nào biết nhà đấy” nên đây là cơ hội cho hiện tượng này xảy ra phổ biến Mặt khác trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và sự đề cao chủ nghĩa
tự do cá nhân trong các quan hệ xã hội thì quyền kết hôn còn được hiểu dưới góc độ tiêu cực là quyền không kết hôn Quyền không kết hôn được thể hiện dưới hai hình thức: sống độc thân và chỉ nam nữ chung sống như vợ chồng với người có điều kiện phù hợp kết hôn nhưng lại không đăng ký kết hôn Với ý nghĩ rằng: Tờ giấy đăng ký kết hôn chỉ là một tờ giấy ghi nhận việc đã rồi Nếu một trong hai người không thật tâm muốn vĩnh viễn chung sống, thì có hay không đăng ký kết hôn cũng chẳng ăn nhằm gì Họ cho rằng, nền tảng của hôn nhân là tình yêu đích thực giữa hai cá nhân
mà không phải là việc đăng ký thông qua một tờ giấy Nếu có tình yêu bền vững, họ
sẽ chung sống lâu dài và thương yêu nhau, còn hơn những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn được công nhận là cặp vợ chồng hợp pháp, nhưng chỉ sau một thời gian, họ lại mang nhau ra tòa ly dị vì lý do nào đó, lại phải tốn tiền cho án phí, luật sư Hơn nữa nếu họ cảm thấy không thể hòa hợp được nữa thì cũng dễ dàng chia tay, không bị chi phối bởi những thủ tục, trình tự cũng như chi phí pháp lý để tiến việc ly hôn, đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến các bên đã không tiến hành việc đăng ký kết hôn
Hiện nay có thể thấy hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết nhằm xác định quan hệ vợ chồng trước pháp luật đã trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Thực trạng đó đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội,
Trang 7đặc biệt là đối với sự phát triển và ổn định của gia đình vì gia đình là tế bào của xã hội
II – ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP NAM, NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ, CHỒNG
1 Quan điểm của pháp luật đối với trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn và không trái pháp luật trước và sau khi luật Hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực.
Theo nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 thì công nhận việc chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn là hợp pháp và giữa họ vẫn phát sinh quan hệ vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại Điều 11 có quy định : “ 1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn 2 Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa” Như vậy, kể từ ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
có hiệu lực, thì trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn, dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật cũng không được công nhận là hôn nhân thực tế và không có giá trị pháp lý Điều này thể hiện rõ thái độ của Nhà nước ta là sẽ chấm dứt việc công nhân “hôn nhân thực tế”
2 Đường lối giải quyết các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng.
Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP và thông tư liên tịch
Trang 8số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3/1/2001 đã có những hướng dẫn
cụ thể việc giải quyết về mặt pháp luật đối với những trường hợp vi phạm việc đăng
kí kết hôn trước và sau ngày 1/1/2001
Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987:
Căn cứ vào khoản a điều 3 Nghị quyết số 35 quy định:
“ a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”.
Như vậy trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987
vi phạm thủ tục đăng kí kết hôn sẽ không bị buộc phải đăng kí kết hôn và theo Điều 1, Điều 2 Nghị định số 77/NĐ-CP trường hợp này được “nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho đăng kí kết hôn” Việc đăng kí kết hôn của họ không bị hạn chế về mặt thời gian, họ được miễn lệ phí đăng kí kết hôn Đối với trường hợp này thì không buộc phải đăng kí kết hôn và vẫn thụ lý để giải quyết việc ly hôn nếu các bên yêu cầu Điều này được hiểu rằng chúng ta chấp nhận quan hệ “hôn nhân thực tế” đối với những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 Đối với trường hợp này cách giải quyết như vậy là hợp lý và chúng tôi cũng tán thành với các quan điểm sau:
- Thứ nhất, quan hệ này được xác lập trong một thời điểm đặc biệt, trước khi chưa có
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, chúng ta bị chiến tranh chia cắt đất nước lâu dài Điều này tác động không nhỏ đến vấn đề đăng kí kết hôn
- Thứ hai, các quan hệ được xác lập trước ngày 3/1/1987, tính đến thời điểm Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, khoảng thời gian này là khá dài, mối quan hệ giữa hai bên nam nữ tương đối ổn định
Trang 9Bởi vậy, công nhận “hôn nhân thực tế” đối với những trường hợp này là vấn đề cần thiết để ổn định quan hệ hôn nhân gia đình, tránh những xáo trộn trong đời sống gia đình của họ Tuy vậy, chúng tôi cho rằng cần phải có quy định chặt chẽ hơn về vấn đề này, không phải mọi trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3/1/1987 đều được pháp luật bảo vệ giống như tinh thần quy định tại điểm a, khoản 3 Nghị quyết 35 mà chỉ những trường hợp vi phạm đăng kí kết hôn nhưng tuân thủ đầy
đủ các điều kiện kết hôn mới được pháp luật bảo vệ.”
Trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực pháp luật):
Điểm b, khoản 3 Nghị quyết số 35 quy định:
“Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001,
mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng kí kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003, trong thời hạn này mà họ không đăng kí kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”
Như vậy, theo quy định này thì từ ngày 3/1/1987 các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà vi phạm thủ tục đăng kí kết hôn thì buộc phải đăng kí kết hôn và đăng kí trong thời hạn kể từ ngày 1/1/2001 đến ngày 1/1/2003 theo quy định tại Nghị định 77/2001/NĐ-CP thì trong thời hạn này nếu các bên nam, nữ đăng kí kết hôn thì vẫn được thừa nhận quan hệ “hôn nhân thực tế” cho các trường hợp chưa đăng
kí kết hôn có nghĩa là pháp luật vẫn công nhận quan hệ hôn nhân của họ từ khi họ bắt đầu chung sống với nhau Đây cũng chính là cách giải quyết linh động nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nam nữ song vẫn đảm bảo tính thống nhất của quy định “buộc các bên phải đăng kí kết hôn” Bởi vì nếu hết thời hạn quy định nói trên mà họ vẫn không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
Trang 10Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có hướng dẫn
cách xác định thời điểm nam nữ chung sống như vợ chồng như sau: “thời điểm nam
nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc về sống chung với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau xây dựng gia đình” Như vậy,
xác định được thời điểm nam nữ bắt đầu chung sống với nhau, chúng ta có cơ sở để ghi nhận ngày hôn nhân có hiệu lực và ghi vào sổ kết hôn cũng như giấy chứng nhận đăng kí kết hôn Điều này thực sự có ý nghĩa cho việc giải quyết quyền lợi cho các bên đương sự Mặt khác, theo thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP nếu sau ngày 1/1/2003 họ mới đăng kí kết hôn thì trong trường hợp này quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng kí kết hôn
Trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn
kể từ ngày 1/1/2001:
Theo khoản 3, điểm c Nghị quyết 35 của Quốc hội : “ Kể từ ngày 1/1/2001 trở
đi, trừ những trường hợp quy định tại điểm a và b khoản 3 của Nghị quyết này, nam
nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có ly hôn thì tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con cái, tài sản thì áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.”
Như vậy, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 việc kết hôn không đăng kí không được công nhận Điều này thể hiện thái độ kiên quyết của nhà nước ta trong việc chấm dứt tình trạng “hôn nhân thực tế” quy định này là đúng đắn và phù hợp bởi
vì mọi quy định của pháp luật cần phải được tuân thủ một cách chặt chẽ mới đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
IV – HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC NAM, NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG.