1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

cuối kì hình sự hlu k có hành vi cướp giật tài sản của người khác có giá trị 50 triệu đồng hành vi phạm tội của k được quy định tại khoản 2 điều 136

10 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 66,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định loại tội phạm theo sự phân loại tại Khoản 3 Điều 8 BLHS ta chỉ dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt quy định cho tội phạm cần xác định, chứ không dựa vào mức án mà tòa án

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

-TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ

NỘI-

-BÀI TẬP CUỐI KÌ MÔN LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM MODULE 1

ĐỀ BÀI SỐ: 04

HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN THỊ THÚY HẢO MSSV : 362459

LỚP : NO4 TL4

NHÓM : 03

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

Bài 4

K có hành vi cướp giật tài sản của người khác có giá trị 50 triệu đồng Hành vi phạm tội của K được quy định tại khoản 2 Điều 136 BLHS K bị Tòa

án xử phạt 3 năm tù

Hỏi:

1 Trường hợp phạm tội của K là loại tội gì theo sự phân loại tội phạm (khoản 3

Điều 8 BLHS) (1 điểm)

2 Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay

CTTP giảm nhẹ? Tại sao? (1 điểm)

3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình

không? Tại sao? (2 điểm)

4 Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu TNHS về hành vi của

mình không? Tại sao? (2 điểm)

5 Có thể cho K hưởng án treo không? Tại sao? (1 điểm)

Trang 3

1 Trước hết, em xin khẳng định trường hợp phạm tội của K là loại tội

Theo quy định tại khoản 3 điều 8 BLHS: “3 Tội phạm ít nghiêm trọng là

tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù,; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là

đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hai lớn cho

xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn

cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”

Theo đó, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí của hành vi phạm tội Trong hai dấu hiệu phân biệt các nhóm tội này với nhau, dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội (nghĩa là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi) quyết định dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí Việc phân loại tội phạm thành nhiều nhóm khác nhau căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giúp cho việc cá thể hóa hình phạt được xác định

Để xác định loại tội phạm theo sự phân loại tại Khoản 3 Điều 8 BLHS ta chỉ dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt quy định cho tội phạm cần xác định, chứ không dựa vào mức án mà tòa án tuyên

Trường hợp này, K cướp giật tài sản của người khác có giá trị lên tới 50

triệu đồng Hành vi phạm tội của K được quy định tại khoản 2 điều 136

BLHS: “2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Tái phạm nguy hiểm;d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;đ) Hành hung để tẩu thoát;e) Gây thương tích hoặc

Trang 4

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến

30%;g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai

trăm triệu đồng;h) Gây hậu quả nghiêm trọng.”

Vậy K đã phạm tội cướp giật tài sản tại điểm g khoản 2 điều 136

BLHS Khung hình phạt đối với tội cướp giật tài sản tại khoản 2 điều 136 là “bị

phạt tù từ 3 năm đến 10 năm” Như vậy mức cao nhất của khung hình phạt đối

với tội cướp giật tài sản tại khoản 2 điều 136 BLHS là mười năm tù

Đối chiếu với quy định tại khoản 3 điều 8 BLHS nên suy ra trường hợp

phạm tội của K là loại tội phạm rất nghiêm trọng.

nặng, bởi lẽ:

+ Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu

định tội- dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác

+ Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm mà ngoài

dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể( so với cấu thành tội phạm cơ bản)

Để giải thích vấn đề rõ hơn em xin so sánh mức độ nghiêm trọng mà tội phạm đó gây ra cho xã hội và cả hình phạt đối với hành vi phạm tội đó ở khoản

1 Điều 136 BLHS (quy định cấu thành tội phạm cơ bản) so với khoản 2 Điều

136 Bộ luật hình sự (cấu thành tội phạm tăng nặng):

Khoản 1 điều 136 quy định: “Điều 136 Tội cướp giật tài sản: 1)Người

nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.”

Quy định này chỉ có dấu hiệu định tội là “Người nào cướp giật tài sản của

người khác” Rõ ràng ở đây hành vi phạm tội của K cấu thành tội cướp giật tài

sản nhưng nhìn nhận thêm ở khoản 2 Điều 136 thì hành vi của K có mức độ của

Trang 5

tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên rõ rệt so với các trường hợp trộm cắp tài sản được quy định khoản 1 Bởi lẽ K cướp giật tài sản có giá trị 50 triệu đồng chắc chắn sẽ gây thiệt hại và có tính chiếm đoạt, nguy hiểm hơn là trường hợp trộm cắp tài sản có giá trị từ hai triệu đến dưới năm mươi triệu đồng Trường hợp của

A thuộc điểm g, khoản 2 điều 136 BLHS: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” Khi thoả mãn những dấu hiệu

có thêm trong cấu thành tội phạm tăng nặng đó thì sẽ cho phép chuyển khung hình phạt được áp dụng từ khung bình thường lên khung tăng nặng Cướp giật tài sản trong trường hợp bình thường (thoả mãn cấu thành tội phạm cơ bản tại

khoản 1 Điều 136) thì bị áp dụng khung hình phạt từ một năm đến năm năm.

Cướp cướp tài sản trong trường hợp tăng nặng (thoả mãn cấu thành tội phạm tăng nặng) bị áp dụng khung hình phạt từ ba năm đến mười năm tù (khoản 2

Điều 136 BLHS)

Vì vậy ta có thể khẳng định trường hợp phạm tội của K thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng theo điểm g khoản 2 điều 136 BLHS

3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

*) Trước hết em xin khẳng định hành vi phạm tội của K thuộc loại tội phạm

rất nghiêm trọng do cố ý:

Theo phân tích tại câu 1 thì loại tội mà K phạm thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng Một dấu hiệu cơ bản về phía người phạm tội đối với tội này là lỗi

của người phạm tội phải là do cố ý Cụ thể là lỗi cố ý trực tiếp vì đây là: lỗi của

người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra Cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác

một cách công khai rồi tẩu thoát

Trang 6

+Người phạm tội (là K) cố ý giật lấy tài sản của người khác, nhận

thức rõ được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm

tới quan hệ sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ mà vẫn thực hiện

+K hoàn toàn có thể thể thấy trước được hậu quả của hành vi của

mình và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

Vì vậy ta có thể khẳng định hành vi của K thuộc loại tội phạm rất nghiêm

trọng do cố ý

*) Trở lại với câu hỏi ban đầu, K phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý khi đã

15 tuổi 6 tháng Căn cứ vào quy định tại khoản 2 điều 12 BLHS: “2 Người từ

đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Nên suy ra K sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của

mình.

4 Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

Theo quy định tại khoản Điều 13 BLHS:

“Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự:

1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Trang 7

Có 2 dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: +Dấu hiệu y học: người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình

sự là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm rối loạn tâm thần

+ Dấu hiệu tâm lí: là người đã mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội

Chỉ được coi là mất năng lực trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn cả 2 dấu hiệu trên, dựa trên kết quả giám định tâm thần tư pháp Nếu thỏa mãn, BLHS Việt Nam không đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với những người phạm tội trong khi không có năng lực trách nhiệm hình sự, cụ thể trong trường hợp của K

là mắc bệnh tâm thần Vì vậy nếu K phạm tội trong khi đang mắc bệnh tâm

thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo

khoản 1 điều 12 BLHS Theo quy định của pháp luật thì phải áp dụng biện

pháp bắt buộc chữa bệnh đối với K

+ Còn nếu trong khi phạm tội K không bị mắc bệnh tâm thần, nhưng sau khi phạm tội mới bị bệnh tâm thần (khoảng thời gian kể từ sau khi phạm tội tới trước khi bị kết án) thì theo khoản 2 điều 12 BLHS, K cũng sẽ bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Tuy nhiên sau khi khỏi bênh K vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình

Ngoài trường hợp người không không có năng lực trách nhiệm hình sự, pháp luật còn thừa nhận trường hợp người hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự Những trường hợp này không được miễn TNHS mà chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ theo điều 46

5 Có thể cho K hưởng án treo không? Tại sao?

Khoản 1 Điều 60 BLHS quy định:“1 Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải

Trang 8

bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.”

Cũng theo điều 6.1 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn, chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

"a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì Trường hợp người

bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể,

rõ ràng.

c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó

có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên.

d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm”.

Cụ thể K bị tòa án tuyên phạt 3 năm tù vì tội cướp giật tài sản, tức là đã

đáp ứng điều kiện: “bị xử phạt tù không quá 3 năm” Ngoài ra, K còn phải đáp

ứng thêm được các điều kiện sau thì mới được được hưởng án treo:

+ Ngoại trừ lần phạm tội này K là người có nhân thân tốt, luôn chấp hành

đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa

có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng

Trang 9

+ K có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì vẫn

có thể được hưởng án treo nếu tình tiết giảm nhẹ nhiều hơn tình tiết tăng nặng

từ hai tình tiết trở lên.

+ Việc không bắt K đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Như vậy với mức án 3 năm tù, K có thể được hưởng án treo nếu đáp

ứng đủ các quy định tại Điều 60 BLHS và điều 6.1 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao

Trang 10

-HẾT -DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Trường đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, nxb

CAND, Hà Nội, 2010

2 Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam 1999 (sửa đổi bổ sung 2009)

3 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC

4 GSTS Nguyễn Ngọc Hoà Tội phạm và cấu thành tội phạm,

Nxb.CAND, Hà Nội, 2008

5 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS Việt Nam, tập 1, Nxb TPHCM.

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w