1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chứng minh rằng quá trình xây dựng,hoàn thiện các quy định về cách xác định và quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế trong luật biển quốc tế thể

8 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 211 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định trong phần V Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên hợp quốc về luật biến 1982, trong đó các quyền và quyền tái phán của quốc gia ve

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

2.Tầm quan trọng của việc xác định vùng đặc quyền kinh tế 1

3.Tầm quan trọng trong việc xây dựng quy chế pháp lý của

1.Quá trình xây dựng hoàn thiện cách xác định vùng đặc quyền

2.Quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy chế pháp lý của

MỞ BÀI

Sau Thế chiến thứ hai, khoảng chiều rộng lãnh hải ba hải lý đã trở nên lỗi thời khi

mà nhiều nước ven biển kiên quyết đấu tranh vì những quyền lợi kinh tế, an ninh để

mở rộng lãnh hải Có nước đòi ra xa tới 200 hải lý Kết quả đạt được đến nay, theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, lãnh hải đã được mở

Trang 2

rộng ra 12 hải lý; đồng thời tiếp giáp bên ngoài lãnh hải không phải là biển quốc tế như trước nữa mà quốc gia ven biển còn có một vùng biển mới rộng tới 200 hải lý tính từ đường cơ sở Luật quốc tế gọi đó là “vùng đặc quyền kinh tế” Trong vùng đặc quyền kinh tế các quốc gia ven biển và quóc gia khác có quyền gì? Để tìm hiểu

rõ hơn về vấn đề này Em xin trình bày vấn đề sau:"Chứng minh rằng quá trình xây dựng,hoàn thiện các quy định về cách xác định và quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế trong luật biển quốc tế thể hiện rõ sự dung hoà về lợi ích giữa các quốc gia"

II.Cơ sở pháp lý

1.Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế.

Trong Luật biển quốc tế,vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo,nằm phía bên ngoài lãnh hải và tiếp giáp với lãnh hải Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định trong phần V Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên hợp quốc về luật biến 1982, trong đó các quyền và quyền tái phán của quốc gia ven biển ( hay quốc gia đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác đều được điều chỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý ( khoảng 370,4 km) tính từ đường cơ sở dung để tính chiều rộng lãnh hải

Định nghĩa nêu trên chỉ ra rằng,vùng đặc quyền kinh tế thông thường chỉ bao gồm lớp nước biển trong khoảng cách từ giới hạn bên ngoài của đường ranh giới phía ngoài lãnh hải cho đến đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia ven biển một khoảng cách không quá 200 hải lí.Như vậy trong mối quan hệ với vùng tiếp giáp lãnh hải thì vùng đặc quyền kinh tế đương nhiên sẽ bao trùm lên cả vùng tiếp giáp,trong đó vùng tiếp giáp được hưởng quy chế kép (tức quy chế của cả tiếp giáp và đặc quyền kinh tế)

2.Tầm quan trọng của việc xác định vùng vùng đặc quyền kinh tế

Cách xác định: Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở Như vậy phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lý bên trong vùng đặc quyền kinh tế nên chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý Vùng đặc quyền kinh tế bao gộp trong nó cả vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về luật biển 1982 quy định.Vấn đề vùng đặc quyền kinh

tế mới được đặt tại hội nghị lầ thứ 3 của Liên hợp quốc vầ luật biển.Vùng đặc quyền kinh tế được hình thành trong tranh luận gay gắt giữa những quốc gia ven biển muốn

ở rộng quyền của mình ở vùng biển (đòi mở rộng lãnh hải là 200 hải lí) và những quốc gia muốn hạn chế các quyền hạn ấy.Nhiều quốc gia đang phát triển muốn thiết lập vùng biển rộng 200 hải lý (kể cả lãnh hải) nhằm mở rộng các quyền lợi về kinh

tế và các lợi ích khác của quốc gia ven biển.Các quốc gia có lực lượng hùng mãnh rất e ngại về xu hướng hải hoá này cảu các nước đang phát triển.Vì vậy mà nhiều quốc gia đang phát triển đã quy định trong pháp luật của mình về chiều rộng của

Trang 3

lãnh hải là 200 hải lý.Các quốc gia trong tổ chức OAU đều khẳng định lập trường của mình về thiết lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.Vì vậy không còn cách nào khác các quốc gia phát triển đành phải chấp nhận phương

án thiết lập vùng đặc quyền kinh tế.Vậy xác định vùng đặc quyền kinh tế có thể nhằm dung hoà các ý kiến trái ngược của các quốc gia

3.Tầm quan trọng trong việc xây dựng quy chế pháp lí vùng đặc quyền kinh tế.

*Quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế là bao gồm tổng thể các nguyên tắc

và các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế và việc ban hành các quy phạm pháp luật quốc gia ven biển liên quan đến vùng này phải dựa trên cơ sở phù hợp với luật quốc tế hiện hành.Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lí riêng do Công ước về luật biển 1982 quy định cụ thể như sau:+Đối với các quốc gia ven biển:

-Quốc gia ven biển có quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển

-Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các quy định luật pháp của mình

- Các quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn

và quản lý nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức

- Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước đáy biển, của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển cũng như những hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế

Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình và đặt dưới quyền kiểm soát của mình Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định tổng khối lượng có thể đánh bắt, khả năng thực tế của mình và số dư có thể cho phép các quốc gia khác đánh cá +Đối với các quốc gia khác:

- Được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không

- Được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm Khi đặt đường ống phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển

- Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế

*Cách xác định quy chế pháp lý vùng đặc quyền kinh tế có mục đích nhằm tạo cho các quốc gia có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển

và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia mình,

có các quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm

dò và khai thác vùng đặc quyền về kinh tế nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền về kinh tế của nước mình,có thẩm quyền riêng biệt trong việc thiết lập, lắp đặt và sử dụng các công trình, các đảo nhân tạo, có thẩm quyền riêng biệt về bảo vệ chống ô nhiễm môi trường

II.Nội dung

Trang 4

1.Quá trình xây dựng hoàn thiện cách xác định vùng đặc quyền kinh tế.

Việc xác định vùng đặc quyền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với quyền lợi các quốc gia.Trước Công ước Luật biển 1982 chưa tồn tại vùng đặc quyền kinh tế

mà tồn tại vùng đánh cá

-Đầu tiên,Ngày 28 tháng 9 năm 1945,Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman về nghề

cá ven bờ trong một số vùng của biển cả bên ngoài lãnh hải 3 hải lý:nước Mỹ đề

nghi thiết lập một "vùng bảo tồn một phần nhất định biển cả kế cận với bờ biển Hoa

kỳ nơi các hoạt động đánh cá đã và sẽ được phát triển trong tương lai tới một mức

độ quan trọng" 1.Năm 1947 các quốc gia Mỹ La tinh đã mở rộng lãnh hải lên 200 hải lý và sau đó có nước yêu sách vùng "biển di sản" rộng 200 hải lý.(Tại sao lại 200 hải lý: ngoài khơi Chilê, Peru, Equateur có dòng chảy Humbolt cách bờ khoảng 200 hải lý rất giàu di sản.Vì vậy các nước này đã yêu sách vùng lãnh hải rộng trùm lên dòng chảy này.Yêu sách nay đã trở thành quy tắc chung mang tính thế giới.)

-Sau năm 1945,Đông Đức,Pháp,Nauy,Ba Lan và Nhật đã mang lại tắc động chưa từng có đối với tài nguyên cá của các quốc gia ven biển và do đó đe doạ nghiêm trọng công nghiệp cá của các quốc gia này.Sức ép ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế đòi phải tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên cá không chỉ trong phạm vi khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia mà cả ở bên ngoài khu vực đó.Trong bối cảnh ấy xu hướng mở rộng quyền tài phán đánh cá ra ngoài biển cả càng được đẩy mạnh.Chính vì vậy,Hội nghị Luật biển lần I và II của Liên Hợp quốc vào 1958 và 1960 đã được tổ chức để giải quyết những vấn đề cấp bách

do tình trạng vô chính phủ trên biển gây ra.Vấn đề quan trọng nhất mà hội nghị thảo luận là giới hạn của lãnh hải,giới hạn của vùng đánh cá đặc quyền và các điều khoản

về bảo tồn cá ở những vùng biển nằm ngoài khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia.Tại Hội nghị này,một số quốc gia đã đề nghị mở rộng giới hạn lãnh hải dưới 12 hải lý hoặc tổng cộng giới hạn của lãnh hải và vùng đánh cá đặc quyền là 12 hải lý.Canada đã đề nghị vùng lãnh hải rộng 6 hải lý cộng với vùng đánh cá 6 hải lý

Tuy vậy các đề nghị này đã không giành được sự ủng hộ rộng rãi của các quốc gia tham gia hội nghị.2 Thất bại của Hội nghị trong việc nhất trí về giới hạn lãnh hải cũng như giới hạn của khu vực đánh cá đặc quyền càng đẩy nhanh xu hướng đơn phương mở rộng khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia

Sau hội nghị,một số quốc gia thiết lập khu vực đánh cá đặc quyền 12 hải lý Điều này cho thấy xu hướng mở rộng khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia đã trở thành

1.Niêm giám luật quốc tế Mỹ 1946,Tài liệu chính thức.Tr 45

2.Tài liệu Hội nghị Luật biển lần III,khoá họp tại Carracas,Venezuela,UNDoc.A/Conf.19/C.1/L.4

phổ biến trong giai đợn hiện nay.(năm 1974 Tại khoá họp II hội nghị,vấn đề giới hạn lãnh hải 12 hải lý và việc thành lập vùng đặc quyền kinh tế đã dành được sự ủng hộ của nhiều quốc gia Một số quốc gia đề nghị giới hạn khu vực đặc quyền là 200 hải lý,một số ít quốc gia không tán thành với việc mở rộng khu vực này trong những khoá họp đầu, Nhưng đến năm 1977 khi việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia trở thành phổ biến thì vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý được dự thảo trong Công ước luật biển cơ bản đã được chấp nhận

Trang 5

Công ước Luật biển năm1982, vùng đặc quyền kinh tế đã được thừa nhận với bề rộng tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở trong đó có 188 hải lý thuần túy mang tính chất của vùng đặc quyền kinh tế.Công ước Luật biển năm 1982 đã đáp ứng được nguyện vọng của các quốc gia ven biển muốn mở rộng khu vực quyền tài phán quốc gia ra hướng biển cả qua việc hình thành khu vực đặc quyền kinh tế và vì thế, đã giải quyết về cơ bản vấn đề tranh chấp quốc tế về đành cá trên thế giới giữa các quốc gia ven biển và quốc gia đánh cá tầm xa

2.Quá trình xây dựng và hoàn thiện quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

Để khai sinh ra vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển,buộc phải có tuyên bố đơn phương từ phía quốc gia đó.Từ đó mới hình thành nên quy chế pháp lý của các quốc gia trên vùng đặc quyền kinh tế của mình

-Trước tiên là Tuyên bố Tru-man năm 1945.Nội dung Tuyên bố bao gồm:

Thứ nhất, thành lập khu vực bảo tồn tài nguyên cá nằm ngoài lãnh hải của

Mỹ.Các hoạt động đánh cá của công dân Mỹ cũng như công dân của quốc gia khác trong khu vực này cũng phải tuân thủ các quy định về bảo tồn của Mỹ và nằm dưới

sự kiểm soát của Mỹ.Thứ hai,tại các khu vực mà ngư dân nước ngoài và ngư dân

Mỹ thường đánh bắt cá,việc phân định khu vực đánh bắt sẽ được xác định thông qua các hiệp định song phương.Như vậy rõ ràng là tuyên bố Truma,Mỹ đã mở rộng một cách hạn chế quyền tài phán đánh cá của mình ra một số khu vực nằm ngoài lãnh hải của họ.Tuy có tác dụng bảo vệ lợi ích của Mỹ đối với tài nguyên cá ở khu vực nằm ngoài lãnh hải của mình nhưng Tuyên bố cũng mang lại những bất lợi cho hoạt động đánh cá của cư dân Mỹ ở khu vực nằm ngoài lãnh hải của các quốc gia khác khi các quốc gia đó cũng mở rộng vùng tài phán đánh cá

Tại Khu vực Nam Mỹ trong năm 1952, Mehico, Chilê, Pêru và Ecuador đã Tuyên

bố mở rộng chủ quyền hoặc quyền chủ quyền tài phán của mình đối với các tài nguyên thiên nhiên trong vùng lãnh hải 200 hải lý và không cho phép tàu đánh cá nước ngoài tiến hành các hoạt động đánh cá ở khu vực đó.1 Như vậy, nội dung thẩm

quyền quốc gia ven biển rộng hơn so với thẩm quyền mà Mỹ khẳng định trong khu vực bảo tồn mà Mỹ lập ra theo Tuyên bố Truman.Tiếp theo là phản ứng của các quốc gia Mỹ La tinh các quốc gia Trung Mỹ ở trên bờ Thái Bình Dương, ở Đông, Đông Nam và Tây Bắc Thái Bình Dương và Aixolen cũng tuyên bố mở rộng khu vực biển nằm dưới quyền tài phán quốc gia ra phía biển cả.2

=>Có nhiều vụ tranh chấp xảy ra trong thời kì đó như:Tranh chấp giữ Mỹ và các

nước Mỹ La tinh,Tranh chấp giữa Nhật và Liên Xô

1.Eckert R.D:The Enclosure of Ocean Resources,Stanford,Calif:Hoover Institution Press,1979,Tr 129

2 William T Burke:The new International Law of Fisheries UNCLOS III,1982 and beyond,Oxford,1994,Tr 8

-Hội nghị Luật biển lần I và lần II là kết quả của các cuộc xung đột giữa rất nhiều lợi ích khác nhau.Loại xung đột thứ nhất là xung đột về lợi ích giữa các nước ven biển

và các nước đánh cá trên biển.Các quốc gia ven biển muốn mở rộng khu vực quyền tài phán đánh cá và các quốc gia đánh cá tầm xa có tiềm năng tài chính và kĩ thuật muốn tiếp tục duy trì quyền tự do đánh cá trên biển.Loại xung đột thứ 2 là xung đột giữa các quốc gia mới dành độc lập với các quốc gia phát triển nhằm thiết lập một trật tự mới trên biển.Các nước mới giành độc lập không thừa nhận một trật tự pháp

lý trên biển tồn tại trước khi các quốc gia này ra đời,vì vậy họ muốn có trật tự mới

Trang 6

công bằng hơn.1 .Loại xung đột thứ ba là xung đột nội tại trong số một số cường quốc biển như Mỹ chẳng hạn,Trong khi muốn duy trì quyền tự do biển cả,trong đó

có nhu cầu bảo vệ nguồn tài nguyên cá trong vùng biển rộng lớn nằm ngoài lãnh hải của mình

-Đến hội nghị lần III,Các quy chế pháp lý về hoạt động đánh cá và tài nguyên cá là một trong nhiều vấn đề được thảo luận.Cuộc thảo luận về các quy chế pháp lý chủ yếu tập trung vào hai vấn đề:Vấn đề giới hạn vùng đặc quyền kinh tế (vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý trong dự thảo Công ước Luật biển vè cơ bản được chấp nhận),Vấn đề về thẩm quyền đối với tài nguyên sinh vật của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế rất ngay cấn,các quốc gia tham gia có ba quan điểm: +Một số quốc gia đề nghị dành cho các quốc gia ven biển chủ quyền vĩnh viễn

đối với tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý Đây là quan điểm cực đoan,các quốc gia có quân điểm này dần thay đổi bằng cách chấp nhận một qun điểm mềm dẻo hơn

+Một số quốc gia đánh cá tầm xa có quan điểm ngược lại,các quốc gia này không công nhận khu vực đánh cá đặc quyền hoặc khu vực đặc quyền kinh tế ngoài giới hạn 12 hải lý.Họ muốn duy trì quyền tự do đánh cá ở khu vực ngoài giới hạn 12 hải

lý của quốc gia ven biển khác

+Nhóm quốc gia không có biển hoặc vị trí địa lý bất lợi không chống lại việc thành lập khu vực kinh tế đặc quyền nhưng họ kiên quyết đòi được sử dụng và khai thác bình đẳng tài nguyên sinh vật trong vùng tài phán mở rộng của các quốc gia ven

biển.=>Kết quả của Hội nghị lần III đạt được là vấn đề quy chế pháp lý vùng đặc

quyền kinh tế của quốc gia kí kết liên quan đến quy chế pháp lý của vùng đặc quyền

kinh tế quy định tại các điều của công ước luật biển 1982.=> vấn đề cân bằng lợi ích

tại vùng đặc quyền kinh tế.Theo công ước quy định thì các quốc gia phải tôn trọng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Công ước2

Đối với tài nguyên sinh vật,vấn đề tài nguyên cá là nội dung quan trọng của quy chế pháp lý vùng đặc quyền kinh tế.Các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên cá trong vùng đặ quyền của họ.Trong Công ước quy định quốc gia ven biển khi tiến hành khai thác cá phải đảm bảo các hoạt động đó không gây hại cho hệ sinh thái biển và không gây hại đến tài nguyên cá trên biển và ở vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia láng giềng.Quốc gia ven biển dành cho các quốc gia khác quyền tiếp cận nguồn cá thừa khi quốc gia đó có khả năng khai thác hết tài

2.Công ước luật biển 1982 Điều 56.2

nguyên cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.Các Quốc gia khác cũng phải tuân thủ những nghĩa vụ nhất định,các hoạt động phù hợp với quy định của Công ước1

Công ước luật biển 1982 dành cho quốc gia ven biển thẩm quyền rộng rãi đối với tài nguyên so với thẩm quyền của các quốc gia khác Do các quốc gia ven biển có thể xác định các điều kiện tiếp cận đối với tài nguyên cá trong vùng đặc quyền kinh

tế của mình,nếu muốn họ có thể loại một cách rất hiệu quả quyền tiếp cận của các quốc gia khác đối với nguồn cá thưà Điều đó sẽ rất khó hiểu nếu chúng ta chỉ phân tích riêng rẽ các quy định về tài nguyên sinh vật.Tuy vậy vấn đề sẽ trở lên rõ khi ta

Trang 7

phân tích thẩm quyền của các quốc gia ven biển trong một bối cảnh rộng hơn:các quy định đó là một giải pháp thoả hiệp trong đó thể hiện sự cân bằng giữa các quyền

và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền và tự do của các quốc gia khác.2 Trong khi cho phép quốc gia ven biển lập một khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lí với các quyền chủ quyền đối với các tài nguyên thiên nhiên,sinh vật và không sinh vật và quyền tài phán đối với việc nghiên cứu khoa học cũng như thẩm quyền

ra các quyết định về bảo vệ môi trường biển ở đó,Công ước dành cho các quốc gia khác quyền tự do giao thông,tự do bay, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm và quyền tiếp cận đối với lượg cá thừa trong vùng đó

=>Đó là sự dung hoà về lợi ích giữa các quốc gia.

KẾT LUẬN

Như vâỵ có thể nói Bản chất của vùng đặc quyền kinh tế là sự dung hoà lợi ích giữa các quốc gia.Các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế của mình,các quốc gia khác cũng có một số quyền nhất định và đảm bảo tính ổn định tương đối của biển cả

Trên đây chỉ là những phân tích, suy nghĩ căn cứ vào giáo trình,sách tham khảo,công ước Luật biển và sự hiểu biết của em.Nhưng do kiến thức,sự phân tích của nhóm em chưa được sâu sắc,và chưa có điều kiện tiếp xúc trong thực tế.Bài tập

có thể còn mắc sai xót.Mong thầy cô xem xét vàt thông cảm cho chúng em.Nhóm

em xin chân thành cảm ơn!

1.Công ước Luật biển 1982 Điểu 62.4

2.Văn bản Chính thức của Hội nghị Luật biển lần III của liên hợp quốc, Điều 55,New York United National,1983,Tr.18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình "Luật quốc tế" NXB Công an Nhân Dân,Trường Đại học Luật Hà Nội, Năm 2004

Trang 8

2.Tập hợp các văn bản Luật quốc tế.

3.Các Website tham khảo:

 http://vi.wikipedia.org

 http://sinhvienluat.vn

 http://lawvn.net

4.Sách tham khảo:

 Những điều cần biết về Luật Biển, NXB Công an Nhân Dân ,Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thao

 Tìm hiểu Luật quốc tế về đánh cá trên biển , NXB Chính trị Quốc gia, Trường Giang

 Tìm hiểu Luật quốc tế

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w