Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Là việc chiếm hữu không phù hợp với quy định tại điều 183 – BLDS 2005, đó là hành vi chiếm hữu không rơi vào các trường hợp sau: Chủ sở hữu chiếm hữu
Trang 1A MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, và trong sản xuất Giao dịch dân sự càng có
ý nghĩa qua trọng trong điều kiện của nền thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Giao dịch dân sự chính là công cụ, phương tiện để các chủ thể tìm kiếm và trao đổi lợi ích với nhau, tuy nhiên thực tế cho thấy việc tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiều và giải quyết hậu quả pháp lí khi giao dịch dân sự vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp, gây ra nhiều vướng mắc, khi tham gia giao dịch dân sự không phải đương sự nào cũng đạt được mục đích như mình mong muốn mặc dù họ đã thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ theo quy định của pháp luật Trong đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, vậy pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ như thế nào? Do đó, trên cơ sở bài tập học
kì của mình, em xin trình bày đề bài: “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu”
Trang 2B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận:
1 Khái niệm giao dịch dân sự:
"Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 121 BLDS)
Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều luật này có thể xác định: Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự
là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định
2 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu:
Giao dịch dân sự vô hiệu là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong khoa học pháp lý và pháp luật dân sự về giao dịch Trong chế định giao dịch dân sự được quy định tại chương VI Bộ Luật dân sự năm 2005, giao dịch dân sự là một bộ phận không thể tách rời, trong mối quan hệ biện chứng giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Tuy nhiên, trong khi “ Giao dịch dân sự” được định nghĩa tương đối phổ biến trong pháp luật dân sự của các nước thì khái niệm “ Giao dịch dân sự vô hiệu” lại không được pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đưa
ra, mà thường chỉ làm rõ các tiêu chí xác định sự vô hiệu của giao dịch dân sự
Trang 3Tiếp cận theo nghĩa thông thường, “ vô hiệu – không có hiệu lực, mất tác dụng” ( Nguyễn Như Ý (1998) “ Từ điển Tiếng việt thông dụng”, NXB Giáo dục) Theo cách hiểu này, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có giá trị ( hiệu lực)
về mặt pháp lý, không được pháp luật công nhận Do đó, nó không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn
Tiếp cận từ góc độ bản chất của giao dịch, giao dịch dân sự là những giao dịch song phương hoặc đa phương, qua đó thể hiện sự thống nhất, thoả thuận ý chí của các bên, với mụch đích đạt được những hậu quả pháp lý nhất định là việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên trong quan hệ giao dịch dân sự Nhưng quyền tự do trong giao kết dân sự không phải là tuyêt đối
Ngày nay, xuất phát từ góc độ bảo vệ trật tự công cộng, các bên tham gia giao dịch dân sự bị điều chỉnh của pháp luật thông qua các điều kiện cụ thể mà các bên phải tuân thủ khi tham gia quan hệ giao dịch dân sự Một giao dịch dân sự được pháp luật công nhận và có hiệu lực khi đáp ứng được những yêu cầu, điều kiện nhất định được quy định tại Điều 122 Bộ Luật dân sự năm 2005 Ngược lại, trường hợp những điều kiện trên theo quy định của pháp luật không được thoả mãn, nghĩa là giao dịch dân sự đó đã chứa đựng những khiếm khuyết nhất dịnh thì bị coi là vô hiệu Vậy, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ Luật dân sự thì bị coi là vô hiệu
2.1 Điều kiện giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu:
Những giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu khi không thoả mãn các điều kiện được quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005 Điều đó có nghĩa là những giao dịch dân sự nếu vi phạm một trong bốn điều kiện về hình thức và nội dung sau sẽ có thể bị coi là vô hiệu:
- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái với đạo đức và xã hội;
Trang 4- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức giao dịch phù hợp với quy dịnh của pháp luật
Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập giao dịch dân
sự đó, hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và nghĩa dân sự của các bên mong muốn khi xác lập giao dịch dân sự đó BLDS năm 2005, bên cạnh việc quy định các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật, còn quy định cụ thể các trường hợp của giao dịch dân sự vô hiệu như giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội ( Điều 128 BLDS năm 2005), giao dịch dân sự giả tạo ( điều 129 BLDS năm 2005), giao dịch dân sự vi phạm điều kiện tự nguyện ( từ Điều
130 đến Điều 133 BLDS năm 2005),… Đây là điểm khác biệt giữa BLDS nước ta với BLDS của một số nước trên thế giới như Pháp, Nhật Bản, Thái Lan,
2.2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Thuật ngữ “ Hậu quả pháp lý” được sử dụng rất rộng rãi, nhưng khoa học pháp lý cũng như pháp luật hiện hành thường không đưa ra một định nghĩa chính xác
mà nó chỉ được tiếp cận theo hướng đưa ra những nội dung của nó Theo cách hiểu thông thường “ hậu quả là kết quả xảy ra hay xảy ra từ một quá trình, một việc làm trước đó” ( Nguyễn Như ý ( 1998), “ Từ điển Tiếng Việt, NXB Giáo dục”)
Như vậy, hậu quả pháp lý trước hết phải là một kết quả và kết quả đó phải được xảy ra từ một hành vi, một việc làm trước đó và giữa chúng có mối liên hệ nhân quả Cách hiểu này cho thấy, không phải kết quả nào cũng có hậu quả, hậu quả chỉ là một bộ phận của kết quả không hay, kết quả xấu Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý thì khái niệm “ hậu quả pháp lý” có những ý nghĩa khác nhau, không phải lúc nào cũng có ý nghĩa là kết quả xấu, hậu quả pháp lý có thể là một kết quả tốt như: Một giao dịch dân sự được xác lập sẽ có hậu quả pháp lý là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia, có thể là điều mà các bên tham gia mong
Trang 5muốn Tiếp cận từ góc độ bản chất của giao dịch thì giao dịch dân sự vô hiệu là những giao dịch không được pháp luật thừa nhận Do đó, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu có thể hiểu theo nghĩa: là một kết quả không tốt, xấu về mặt pháp
lý, phát sinh theo quy định của pháp luật trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu ngoài liên quan đến các bên tham gia trong hợp đồng, thì một số trường hợp, hợp đồng dân sự còn liên quan đến người thứ ba ngay tình, đó là trường hợp hợp đồng vô hiệu nhưng tài sản giao dịch đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình
3 Khái niệm người thứ ba ngay tình:
Người thứ ba ngay tình trước hết là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản nhưng ngay tình Theo quy định tại điều 189 – BLDS 2005 có 2 khái niệm:
3.1 Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Là việc chiếm hữu không phù hợp với quy định tại điều 183 – BLDS 2005, đó
là hành vi chiếm hữu không rơi vào các trường hợp sau: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản; Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật như quan
hệ mua bán, cho vay, tặng cho, trao đổi, cho thuê, cho mượn, gửi giữ…; Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện luật định; Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định
Trang 63.2 Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
Là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó
là không có căn cứ pháp luật Theo nguyên tắc suy đoán của pháp luật dân sự, hành
vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật sẽ là không ngay tình; vậy chủ thể chiếm hữu muốn khẳng định hành vi chiếm hữu của mình tuy không dựa trên căn cứ luật định nhưng là ngay tình thì phải có các chứng cứ để chứng minh Làm thế nào để có
thể chứng minh là ý chí của mình không biết được hành vi chiếm hữu là không có
căn cứ pháp luật? Có thể chứng minh đó là hành vi chiếm hữu đối với loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu – đó là trường hợp pháp luật không bắt buộc phải biết hành vi chiếm hữu của một người là hợp pháp hay không; do vậy không biết được người chuyển giao quyền chiếm hữu cho mình có phải là chủ sở hữu đích thực của tài sản hay không khi họ đang thực tế nắm giữ tài sản và khẳng định tư cách của sở hữu của họ; quan hệ giao dịch được thực hiện một cách công khai, minh bạch; tài sản được chuyển giao theo đúng giá trị Ví dụ mua một chiếc xe đạp tại một cửa hàng tại chợ theo đúng giá trị của chiếc xe (không phải mua bán lén lút, mua với giá quá rẻ hay không có địa chỉ rõ ràng) nhưng sau đó được phát hiện là chiếc xe đó là xe bị trộm cắp mà người bán đã trả cửa hàng thuê ở cho và hiện không biết ở đâu Còn
trong trường hợp nào, người chiếm hữu chứng minh được ý chí của họ không thể biết việc chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật Đối với tài sản có đăng ký quyền
sở hữu pháp luật buộc người xác lập giao dịch liên quan đến tài sản đó phải kiểm tra các giấy tờ đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản (có giấy tờ đăng ký quyền sở hữu không, giấy tờ đó có hợp pháp hay không) để chứng minh tư cách của người chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cho mình Nếu giấy tờ được làm giả tinh vi đến mức người bình thường khó có thể nhận thấy, chỉ có cơ quan chức năng hay người có trình
độ chuyên môn trong lĩnh vực tương ứng mới phát hiện được thì rõ ràng đó là trường hợp pháp luật buộc phải biết nhưng người chiếm hữu không thể biết hành vi chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật
Trang 7Vậy khi nào người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình được gọi là
người thứ ba ngay tình Người thứ ba xuất hiện trong mối quan hệ với các chủ thể
nào? Đó là mối quan hệ với chủ sở hữu đích thực của tài sản, nhưng đó là mối quan
hệ bắc cầu thông qua một chủ thể trung gian nhất định Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ này như sau:
MQH 1
Chủ sở hữu tài sản————————Người trung gian —–
MQH 2
———————Người thứ ba ngay tình
Mối quan hệ 1: có thể là quan hệ bất hợp pháp: trộm cắp, cướp giật, lừa đảo; có thể
là một giao dịch hợp pháp nhằm chuyển giao quyền sử dụng đối với tài sản như: cầm
đồ, cho thuê, cho mượn…; có thể là hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
không ngay tình: nhặt được tài sản do chủ sở hữu đánh rơi, bỏ quên nhưng không
thông báo theo luật định; có thể là hành vi được lợi về tài sản: tự nhiên có tài sản mà không biết…
Mối quan hệ 2: đó là các quan hệ có tính chất xâm phạm đến quyền lợi của chủ sở
hữu đích thực của tài sản như những giao dịch có mục đích chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như: cho vay, bán, tặng cho, trao đổi; hoặc đó là các quan hệ có khả năng
dẫn đến chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như thế chấp, cầm cố, cầm đồ.
Như vậy chủ thể cuối cùng trong mối quan hệ thứ 2 được gọi là người thứ ba
và đó là chủ thể ngay tình bởi họ đã bị nhầm lẫn về tư cách của chủ thể đã xác lập giao dịch với mình Họ tưởng rằng mình đã thực hiện giao dịch với người có quyền định đoạt đối với tài sản nhưng thực tế lại không phải vậy
Trang 8Quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi giao dịch dân sự vô hiệu
Ðiều 138 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Ðiều 257 của Bộ luật này
2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng
ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa
1 Quyền lợi của người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ trong 2 trường hợp sau:
Trường hợp 1: Chủ sở hữu được đòi lại tài sản theo các điều kiện luật định
(Điều 257 và 258– BLDS 2005) Lúc này, người thứ ba ngay tình phải trả lại tài sản
mà mình đang chiếm giữ cho chủ sở hữu đích thực của tài sản và lợi ích của họ sẽ được pháp luật bảo hộ dưới các góc độ sau:
- Điều 258 BLDS quy định: “Chủ sở hữu được quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa” Như vậy, nếu căn cứ theo quy định này thì trong ba trường hợp dưới đây Chủ sở hữu không được quyền kiện đòi lại tài sản của mình từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình:
Trang 9Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá;
Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua giao dịch với người mà theo bản án xác nhận người này là chủ sở hữu nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu do Bản án bị hủy, sửa;
Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua giao dịch với người mà theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận người này là chủ sở hữu nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu do Quyết định này bị hủy, sửa
Các quy định trên được hiểu là khi người thứ ba nhận được tài sản trên cơ sở sự bảo đảm của trung tâm bán đấu giá tài sản, tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì đương nhiên quyền sở hữu của họ được bảo vệ
Sự bảo đảm này được thể hiện bằng bản án, quyết định mặc dù sau này có thể bản án hoặc quyết định đó bị hủy bỏ thì quyền sở hửu tài sản của người thứ ba vẫn được xác lập và bảo vệ
- Được yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại (giá trị đòi bồi thường là giá trị của giao dịch mà họ đã xác lập và các thiệt hại khác nếu có như hệ số trượt giá của tài sản…) từ người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình Quy định này hoàn toàn lô gíc về mặt lý thuyết: tuy mục đích trong giao dịch đã xác lập không đạt được (họ muốn sở hữu tài sản nhưng nay tài sản đã phải trả về cho chủ sở hữu) nhưng họ được quyền đòi lại những gì đã mất từ người đã trực tiếp xác lập giao dịch; nhưng xét dưới góc độ thực tế thì đây không phải là quy định mang tính lý tưởng Bởi lẽ, chỉ có thể thi hành quy định này trên thực tế nếu thoả mãn được hay điều kiện: 1 tìm được người đã chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba ngay tình; 2 người phải bồi thường
có khả năng tài chính và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ Điều kiện thứ 1 là khó thực hiện được bởi vốn dĩ họ là người có động cơ tham lam, không trong sáng nên sau khi thực hiện giao dịch xong, đạt được lợi ích mong muốn họ thường tìm cách xoá mọi tin tức để tránh trách nhiệm sau này Điều kiện thứ 2 phụ thuộc vào điều kiện thứ
Trang 10nhất có tồn tại hay không và cũng thường gặp những phức tạp như: người phải thi hành nghĩa vụ không có tiền để bồi thường hoặc họ tìm cách biển thủ tài sản để chây
ì không chịu thực hiện nghĩa vụ
- Được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu đến thời điểm phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu
- Được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản
Lưu ý: Nếu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng không ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu đích thực nhưng không bao giờ được hưởng tất
cả các quyền lợi trên, cụ thể như sau:
- Không được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình, bởi họ bị coi như vị trí của người tiêu thụ tài sản do hành vi bất hợp pháp mà có
- Phải hoàn trả toàn bộ hoa lợi, lợi tức đã thu được từ tài sản
- Không được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản, bởi nhà làm luật coi đó như là hành vi nguỵ trang đối với tài sản
- Phải bồi thường toàn bộ khoản lợi nhuận mà chủ sở hữu bị mất do khai thác
và giá trị tài sản
Trường hợp thứ 2: Chủ sở hữu đích thực không có quyền kiện đòi tài sản trong
2 trường hợp: không đáp ứng được các điều kiện về đòi tài sản được quy định tại điều
257, 258 – BLDS 2005 ;và người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo quy định tại điều 247 – BLDS
2005 Quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ trong trường hợp này là được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản mà mình đang chiếm hữu Đây là phương thức bảo vệ lợi ích của người thứ ba ngay tình ưu việt nhất và có tính khả thi cao hơn so với cách thức đòi bồi thường thiệt hại như đã phân tích ở trên Tuy nhiên cách thức bảo vệ này vẫn bộc lộ những khó khăn trong việc xác định các loại giấy tờ cần thiết nào và các trình tự thủ tục cụ thể gì để đăng ký quyền sở hữu tài sản