1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập học kỳ luật lao động (8 điểm) cuộc đình công có thể chấm dứt vào những thời điểm nào lý giải tại sao

12 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, nếu cuộc đình công được kết luận là bất hợp pháp, bên phía tập thể lao động sẽ buộc phải chấm dứt đình công và quay trở lại làm việc.. Việc công ty Mai Linh yêu cầu A đặt cọc 10

Trang 3

BÀI LÀM

Câu 1: Cuộc đình công có thể chấm dứt vào những thời điểm nào? Lý giải tại sao? (4 điểm)

Trả lời:

Được xem là “vũ khí cuối cùng” của tập thể lao động để đòi quyền lợi,

đình công dưới góc độ pháp lý được hiểu “là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động” (khoản 1 Điều 209 BLLĐ 2012).

Quyền năng này được ghi nhận tại Điều 8 Công ước về những quyền kinh tế,

xã hội, văn hóa và được nội luật hóa trong pháp luật lao động Việt Nam từ trước đến nay Pháp luật hiện hành cũng đã có những quy định tương đối đầy

đủ và chi tiết về vấn đề đình công và giải quyết đình công Trên cơ sở các quy định đó, có thể nhận thấy cuộc đình công có thể chấm dứt vào các thời điểm sau:

Xuất phát từ nguồn gốc phát sinh đình công, nhận thấy, đình công phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, gắn liền với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Nó là biểu hiện về mặt hình thức của tranh chấp lao động tập thể về lợi ích đang tồn tại, chưa được giải quyết triệt để bằng các biện pháp ôn hòa như hòa giải hay trọng tài Như vậy, lật ngược lại vấn đề, nếu như tranh chấp giữa các bên không còn nữa thì đình công đương nhiên chấm dứt Tạo điều kiện cho các bên chủ động giải quyết đình công, trước và trong quá trình đình công, pháp luật quy định cho họ có những quyền nhất định Điều 214 BLLĐ 2012 ghi nhận:

Thứ nhất, hai bên (tập thể lao động và người sử dụng lao động) có quyền

“tiếp tục thỏa thuận để giải quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể”

(khoản 1) Quy định này thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước trong việc để cho các bên trong cuộc đình công tự thương lượng với nhau về tranh chấp còn tồn tại Nếu hai bên thương lượng thành, mục đích của cuộc đình công không

Trang 4

còn nữa và như đã nói ở trên, đình công sẽ chấm dứt Đây là một thời điểm có thể dẫn tới chấm dứt đình công

Thứ hai, cũng tại khoản 1 Điều 214 BLLĐ có quy định các bên có thể “cùng

đề nghị cơ quan quản lý Nhà nước về lao động, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở cấp tỉnh tiến hành hòa giải” Trong trường

hợp các bên không thể tự đứng ra thương lượng với nhau thì theo quy định này, họ có quyền mời chủ thể thứ ba tới hòa giải Chủ thể thứ ba ở đây được quy định rất rõ tại điều luật: cơ quan quản lý Nhà nước về lao động cấp tỉnh (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), tổ chức công đoàn cấp tỉnh hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở cấp tỉnh Nếu chủ thể thứ ba này tiến hành hòa giải thành, cuộc đình công cũng sẽ chấm dứt

Thứ ba, pháp luật cũng quy định cho Ban chấp hành công đoàn có quyền

“rút quyết định đình công nếu chưa đình công hoặc chấm dứt đình công nếu đang đình công” (điểm a khoản 2) Sau khi hoàn thành các thủ tục cần thiết

và ra quyết định đình công, nếu bên phía tập thể lao động, đại diện là Ban chấp hành công đoàn không muốn tiến hành đình công vì lý do nào đó thì hoàn toàn có thể rút lại quyết định đình công đã gửi đi trước đó Thời điểm Ban chấp hành công đoàn rút quyết định đình công cũng là thời điểm chấm dứt đình công Trong trường hợp đang tiến hành đình công mà bên phía tập thể lao động không muốn tiếp tục đình công nữa, họ cũng có quyền chấm dứt đình công, quay trở lại làm việc bình thường

Thứ tư, về phía người sử dụng lao động, luật quy định cho họ có quyền

“chấp nhận một phần hoặc toàn bộ” yêu cầu của tập thể lao động (điểm a

khoản 3) Khi đó bên tập thể lao động sẽ được đáp ứng một phần hoặc tất cả những yêu sách mà họ đặt ra Vì thế mà mục đích đình công sẽ có khả năng mất đi và cuộc đình công có thể sẽ chấm dứt

Thứ năm, một quyền năng mà pháp luật lao động quy định cho cả hai bên

chủ thể của cuộc đình công đó là quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công Về phía tập thể lao động, điểm b khoản 2 Điều 214 quy định

Trang 5

Ban chấp hành công đoàn có quyền đại diện cho tập thể lao động “yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp” Còn bên người sử dụng lao động lại có quyền “yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp” Khi nhận được yêu cầu này từ một trong hai bên hoặc cả hai bên, Tòa

án nhân dân cấp tỉnh sẽ xem xét ra ra quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công Trong trường hợp hai bên không đồng ý với quyết định này, có thể khiếu nại lên Tòa án nhân dân tối cao và quyết định của Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng Theo đó, nếu cuộc đình công được kết luận là bất hợp pháp, bên phía tập thể lao động sẽ buộc phải chấm dứt đình công và quay trở lại làm việc Còn nếu kết luận của Tòa án là cuộc đình công hợp pháp thì tập thể lao động có quyền tiếp tục đình công cho tới khi đạt được yêu sách đã đặt ra hoặc tự chấm dứt đình công Vấn đề này tuy vậy chưa được quy định một cách cụ thể mà chỉ là suy đoán pháp lý từ những quy định đã có

Ngoài ra, nếu cuộc đình công có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, lợi ích công cộng thì có thể bị buộc phải hoãn hoặc ngừng bởi quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (Điều 221 BLLĐ 2012) Nghị định 46/2013/NĐ - CP ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tranh chấp lao

động có giải thích các khái niệm “hoãn đình công” và “ngừng đình công” Theo đó, “hoãn đình công” là việc chuyển thời điểm bắt đầu thực hiện cuộc

đình công mà Ban chấp hành công đoàn đã ấn định sang một thời điểm khác

Còn “ngừng đình công” là việc chấm dứt cuộc đình công đang diễn ra cho

đến khi không còn nguy cơ xâm hại nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân

và lợi ích công cộng Giả thiết đặt ra là nếu như sau khi cuộc đình công bị hoãn hoặc ngừng lại, phía tập thể lao động không tiến hành đình công nữa dù

họ đã có quyền đình công trở lại thì cuộc đình công cũng được coi là chấm dứt Đây cũng là một thời điểm chấm dứt đình công

Trang 6

Câu 2:

Anh Nguyễn Văn A lái xe cho công ty taxi Mai Linh từ tháng 5/2013 theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn Để ràng buộc A trong việc thực hiện hợp đồng và giữ gìn xe taxi, khi giao kết hợp đồng lao động, công

ty Mai Linh yêu cầu A đặt cọc 10 triệu đồng Đến 10/7/2013, vì lý do cá nhân,

A xin nghỉ việc Giám đốc công ty Mai Linh không đồng ý Tuy nhiên, sau 2 tháng, ngày 10/9/2013, A vẫn nghỉ việc

Hỏi:

1 Việc công ty Mai Linh yêu cầu A đặt cọc 10 triệu đồng có hợp pháp hay không? Tại sao? (1,5 điểm)

Giả sử nếu áp dụng biện pháp đặt cọc thì theo anh (chị) có cách nào để ràng buộc người lao động trong việc đảm bảo tài sản cho người sử dụng lao động trong những trường hợp như trường hợp nêu trên không? (1,5 điểm)

2 Việc chấm dứt hợp đồng lao động của anh A là đúng hay sai? Tại sao? (2 điểm)

3 Khi chấm dứt hợp đồng lao động anh A được hưởng những quyền lợi gì? (1 điểm)

Trả lời:

1 Việc công ty Mai Linh yêu cầu A đặt cọc 10 triệu đồng là không hợp pháp, trái với quy định của của pháp luật lao động Vì:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 23 BLLĐ về nội dung hợp đồng lao

động, không có quy định nào nói rằng người lao động phải đặt cọc tiền khi giao kết hợp đồng lao động Khoản đặt cọc này phải được công ty hủy bỏ, nói khác đi, công ty không được phép yêu cầu người lao động đặt cọc tiền như là một nội dung của hợp đồng lao động Nếu thanh tra lao động phát hiện khoản đặt cọc ghi trong hợp đồng lao động thi có quyền buộc hủy bỏ nội dung đó

Thứ hai, Điều 20 BLLĐ 2012 quy định về những hành vi người sử

dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động Các hành vi đó bao gồm:

Trang 7

“1 Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2 Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.”

Theo đó, dù với bất kì mục đích nào, người sử dụng lao động cũng không được phép thực hiện những hành vi nêu trong điều luật khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động Có thể thấy những hành vi nói trên thường được thực hiện với mục đích ràng buộc người lao động trong việc thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết Bởi lẽ khi người sử dụng lao động có trong tay bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động hoặc giữ một khoản tiền hoặc tài sản nào đó của người lao động sẽ phần nào đảm bảo rằng người lao động khó có thể, thậm chí không thể tùy tiện chấm dứt hợp đồng cũng như

có hành vi gây thiệt hại cho phía người sử dụng lao động Tuy nhiên, BLLĐ

2012 đã quy định rất cụ thể, rõ ràng, giành riêng một điều luật để nói về vấn

đề này Theo đó, người sử dụng không được thực hiện các hành vi nêu trên

Trong tình huống đề bài đặt ra, khi giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn với anh A, công ty taxi Mai Linh đã yêu cầu anh A đặt cọc

10 triệu đồng để ràng buộc anh trong việc thực hiện hợp đồng lao động và giữ gìn xe taxi Như vậy, trong trường hợp này, công ty Mai Linh đã yêu cầu anh

A phải thực hiện biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng lao động mà hai bên giao kết Biện pháp bảo đảm đó chính là số tiền 10 triệu đồng mà anh

A phải đặt cọc Đối chiếu với các quy định nêu trên, cụ thể là khoản 2 Điều 20 BLLĐ, có thể khẳng định đây là hành vi không hợp pháp, trái với quy định của BLLĐ

Giả sử nếu áp dụng biện pháp đặt cọc thì theo em, để ràng buộc người lao động trong việc bảo đảm tài sản cho người sử dụng lao động trong những trường hợp như trường hợp nêu trên, hai bên có thể thỏa thuận và giao kết với nhau một hợp đồng dân sự về giao, nhận, sử dụng

và bảo quản tài sản, trong trường hợp cụ thể này là xe taxi mà công ty Mai Linh giao cho anh A sử dụng và bảo quản.

Trang 8

Điều 358 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về đặt cọc như sau:

“1 Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2 Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ dân sự trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Theo đó, khi công ty Mai Linh giao xe taxi cho anh A sử dụng và bảo quản, hai bên sẽ giao kết một hợp đồng dân sự về giao, nhận, sử dụng và bảo quản tài sản là xe taxi Trong hợp đồng ghi rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Cùng với đó là thỏa thuận của cả hai bên về vấn đề đặt cọc nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng nói trên Hoạt động này hoàn toàn mang tính chất dân sự, vừa thỏa mãn được yêu cầu của công ty taxi, vừa không trái với quy định của pháp luật lao động Nếu một trong hai bên vi phạm hợp đồng sẽ áp dụng quy định của pháp luật dân sự để giải quyết

2 Việc chấm dứt hợp đồng lao động của anh A là đúng Vì:

Theo giả thiết đề bài đặt ra, anh A xin nghỉ việc ngày 10/7/2013 nhưng Giám đốc công ty Mai Linh không đồng ý Hai tháng sau, ngày 10/9/2013, anh A mới bắt đầu nghỉ việc Như vậy, trong trường hợp này, anh A được coi

là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì việc chấm dứt hợp đồng lao động này hoàn toàn chỉ do ý muốn chủ quan của anh A, Giám đốc công ty Mai Linh không đồng ý với yêu cầu này của A

Điều 37 BLLĐ 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

Trang 9

“1 Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g, Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục

3 Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn

có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Theo đề bài, hợp đồng lao động giữa anh A và công ty Mai Linh là hợp đồng không xác định thời hạn - hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng (điểm a khoản 1 Điều 22 BLLĐ 2012) Căn cứ vào khoản 3 Điều 37 nêu trên, anh A có quyền chấm dứt

Trang 10

hợp đồng lao động với công ty Mai Linh vào bất cứ thời điểm nào sau khi hợp đồng giữa hai bên có hiệu lực với điều kiện phải báo cho công ty biết trước ít nhất 45 ngày (anh A đương nhiên không là đối tượng áp dụng Điều 156 nói trên vì Điều 156 quy định về quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai) Báo trước là thủ tục bắt buộc được quy định chung cho cả người lao động và người sử dụng lao động Quy định này nhằm cho các bên có điều kiện chuẩn bị và chủ động giải quyết hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Đối với người lao động là

để người lao động có thời gian tìm việc mới, còn đối với người sử dụng lao động là để người sử dụng lao động có điều kiện bố trí lao động đảm bảo thay thế, duy trì, ổn định sản xuất

Trên thực tế, anh A bắt đầu nghỉ việc từ ngày 10/9/2013, đây là thời điểm hợp đồng lao động giữa hai bên chấm dứt Trước đó, ngày 10/7/2013 anh A đã xin nghỉ việc, đây được xem là thời điểm mà anh A thông báo nguyện vọng của mình về việc chấm dứt hợp đồng lao động với công ty, thông báo này đã đến được tay Giám đốc công ty vì đề bài cho biết Giám đốc công ty Mai Linh không đồng ý với việc A nghỉ việc Như vậy, tính từ thời điểm anh A thông báo cho chủ sử dụng lao động của mình biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình (10/7/2013) tới khi anh bắt đầu nghỉ việc (10/9/2013) là hai tháng, thỏa mãn điều kiện về thời gian báo trước mà điều luật quy định (ít nhất 45 ngày)

Kết luận, việc chấm dứt hợp đồng lao động của anh A là đúng

3 Khi chấm dứt hợp đồng lao động, anh A được hưởng những quyền lợi gì?

Điều 47 BLLĐ 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“1 Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w