1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và phương pháp giải bài nhận biết các chất vô cơ cho học sinh lớp 9

25 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 330,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học bản thân cũng rất trăn trở vớiviệc nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn, vì vậy tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Kinh nghiệm rèn kỹ năn

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi học sinh cần phải có kỹnăng tư duy và sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải các bàitập Phương pháp giải bài tập giữ vai trò quan trọng trong các phương pháp dạyhọc của bộ môn Trong quá trình giải bài tập, các thiếu sót được sửa chữa, kiếnthức được mở rộng, đào sâu Từ đó học sinh được rèn luyện kỹ năng vận dụngkiến thức đã học vào từng trường hợp cụ thể, mở rộng kiến thức hoá học vào cáclĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống hàng ngày

Thực tiễn giảng dạy ở Trường THCS tôi thấy, học sinh thường rất lúng túngđối với các bài tập nhận biết, sự đa dạng của loại bài nhận biết thường đẩy họcsinh vào bế tắc trong khi dạng bài tập này lại rất phổ biến trong hầu hết các kỳthi Do đó việc phân loại và biết được phương pháp giải từng dạng của bài tậpnhận biết là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi học sinh Qua dạng bàitập nhận biết còn củng cố kiến thức về mặt lý thuyết mà học sinh đã được học

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học bản thân cũng rất trăn trở vớiviệc nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn, vì vậy tôi đã đi sâu vào nghiên

cứu đề tài “Kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và phương pháp giải bài nhận biết các chất vô cơ cho học sinh lớp 9 Trường THCS Hoằng Minh" để

phân dạng và đưa ra các phương pháp giải phù hợp với từng dạng bài nhận biếtcác chất vô cơ Xây dựng và đưa ra các bài tập phù hợp với từng dạng, qua đócác em học sinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các dạng bàinhận biết, đồng thời cũng là một tài liệu để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm

tư liệu trong quá trình giảng dạy nhằm nâng cao kỹ năng và phương pháp giảicác bài toán nhận biết

1.2 Mục đích nghiên cứu

Chương trình hóa học THCS ngoài nhiệm vụ hình thành ở học sinh nhữngkiến thức hóa học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng, năng lực nhận thứccho học sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng

Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ đó và dựa vào kinh nghiệm giảng dạy Hóahọc ở trường THCS tôi muốn đưa ra cách phân loại và phương pháp giải bàinhận biết các chất vô cơ giúp học sinh có thể vận dụng để giải từng bài tập cụthể Từ đó học sinh sẽ yêu thích bộ môn Hóa học hơn và nâng cao chất lượng bộmôn Hóa của Trường THCS Hoằng Minh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, đối tượng tôi lựa chọn nghiêncứu là:

- Tìm hiểu các dạng bài tập nhận biết các chất vô cơ và phương pháp giảitừng dạng

- Tìm hiểu khả năng vận dụng các phương pháp giải dạng bài tập nhận biếtcác chất vô cơ của học sinh trường THCS Hoằng Minh

Trang 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống:

- Phương pháp khảo sát

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 4

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,

đào tạo có viết "quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với

thực tiễn" Trong dạy học Hoá học đã khẳng định "không có tri thức thì sẽ không

có kỹ năng Không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển kỹ năng Ngược lại nếu chỉ có tri thức mà không có kỹ năng, không biết áp dụng tri thức thì những kiến thức đó cũng trở thành vô dụng”.

Thông qua việc giải bài tập hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyệncủng cố kỹ năng về Hoá học Từ đó kiến thức lý thuyết sẽ được nắm vững thực

sự nên có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành bài tập lý thuyết

và thực hành

Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy việc giải các bài tập nhận biết ởnhiều học sinh còn rất mơ hồ, lúng túng và cho là khó không những đối vớiTrường THCS Hoằng Minh nơi đang công tác nói riêng mà đó cũng là thựctrạng chung của các trường THCS hiện nay Đa phần là do nhiều học sinh chưanắm vững lý thuyết hoặc kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức thực tế cònkém, nhưng phần lớn các em chưa biết chọn lọc kiến thức đặc trưng của từngchất để nhận biết Muốn làm các bài tập nhận bết thành thạo các em phải dựavào các phản ứng hóa học đặc trưng để nhận biết, nghĩa là phản ứng đó phải làphản ứng gây ra các hiện tượng bên ngoài mà giác quan ta có thể cảm nhận vàcảm thụ được Cụ thể là dùng mắt để nhận biết hiện tượng hoà tan; kết tủa; mấtmàu; tạo màu hay đổi màu Dùng mũi để nhận biết các mùi vị đặc trưng như

NH3 có mùi khai; SO2 có mùi sốc; H2S mùi trứng thối Tuyệt đối không dùngphản ứng không đặc trưng Vậy đòi hỏi học sinh phải nắm vững lý thuyết về tínhchất hoá học và biết phản ứng nào là đặc trưng, từ đó vận dụng làm bài tập.Nhưng để nhớ được tính chất hoá học đặc trưng của vô số chất thì quả là khó

Để khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối học thụ động, máy móc, cầnphải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, phương pháp dạy học truyền thống

và phương pháp dạy học hiện đại

Do đó, bản thân tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và phương pháp giải bài nhận biết các chất vô cơ cho học sinh lớp 9 Trường THCS Hoằng Minh" với mong muốn giúp các em thích học

môn Hóa học hơn và biết phân dạng bài nhận biết từ đó có phương pháp giảiphù hợp nhất mang lại hiệu quả cao trong học tập

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

2.2.1 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Thực tế giảng dạy ở trường THCS cho thấy đã có một bộ phận học sinh dokhó hiểu, khó khăn trong lĩnh hội kiến thức không muốn học Hóa học, ngàycàng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của Hóa học Nhiều trường do thiết bị và hóachất đã lâu chưa có điều kiện thay mới nên khi tiến hành thí nghiệm gặp nhiềukhó khăn hoặc kết quả thường không chính xác, vì vậy giáo viên và học sinh đôikhi ít thực hiện Do đó một lượng lớn kiến thức Hoá học của các em bị hổng Ởtrường THCS Hoằng Minh nơi tôi đang công tác đa số HS cũng trong tình trạng

Trang 5

đó Hơn nữa với một bài tập nhận biết thì việc vận dụng lý thuyết và kết quảthực hành lại càng quan trọng, đặc biệt tính chất đặc trưng của mỗi chất, đó làchìa khóa để giúp học sinh giải bài tập một cách hiệu quả nhất.

Bài tập nhận biết các chất vô cơ các em đã được làm quen ở chương trìnhlớp 8 nhưng còn rất nhiều hạn chế thường chỉ sử dụng ở cuối học kỳ II Trongchương trình lớp 9 với số lượng bài tập nhận biết nhiều nên việc phân loại vàđưa ra được phương pháp giải phù hợp cho từng dạng làm sao cho hiệu quả thìphần lớn các em chưa biết hoặc chưa thành thạo

Tôi có đưa ra 4 bài nhận biết cho HS giải kết quả khảo sát rất bất ngờ nhưsau:

2.2.2 Kết quả khảo sát chất lượng môn Hóa học đầu năm học: 2017- 2018

2.2.3 Nguyên nhân cuả thực trạng:

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả khảo sát trên là rất thấp, trong đó

có một số nguyên nhân chính sau:

+ Về phía giáo viên:

Lượng kiến thức Hóa học rất nhiều mà số tiết lại ít nên phần lớn chỉ chohọc sinh nắm được kiến thức lý thuyết là đã hết thời gian nên việc đưa ra cácdạng bài tập và các phương pháp giải là không nhiều Đặc biệt nếu không phânhóa rõ đối tượng HS để phân dạng bài tập cũng như phương pháp giảng dạy phùhợp, sẽ dẫn đến tình trạng học sinh chỉ chép cho đầy vở mà không biết gì

Trong đó dạng bài tập nhận biết đòi hỏi học sinh phải nhớ những hiệntượng của các phản ứng đặc trưng, vì vậy bản thân học sinh và giáo viên phảitrực tiếp tiến hành cho học sinh quan sát nhưng dụng cụ và hóa chất đã lâu (donhiều trường bảo quản không tốt hoặc chưa có điều kiện thay mới) nên thường

Trang 6

khó tiến hành hoặc kết quả thường khó chính xác Do đó dẫn đến học sinh khónhớ và khó vận dụng.

Sau thời gian tìm hiểu và nắm bắt rõ hơn đối tượng HS, cũng như vị trí củadạng bài tập này trong dạy học bộ môn Để góp phần làm đơn giản hoá các khó

khăn tôi đã đưa ra đề tài “Kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và phương pháp giải bài nhận biết các chất vô cơ cho học sinh lớp 9 Trường THCS Hoằng Minh" Việc đưa ra các phương pháp giải phù hợp với trình độ, điều kiện

và năng lực của học sinh trong năm học qua đã thu được kết quả nhất định

2.3 Các giải pháp thực hiện:

2.3.1 Hệ thống phân loại bài tập nhận biết

Trong quá trình dạy học tôi đã chia thành một số dạng bài tập sau:

2.3.2 Nguyên tắc và phương pháp giải dạng bài tập nhận biết

- Muốn nhận biết hay phân biệt các chất ta phải dựa vào phản ứng đặc trưng

và có các hiện tượng: như có chất kết tủa tạo thành sau phản ứng, đổi màu dungdịch, giải phóng chất có mùi hoặc có hiện tượng sủi bọt khí Hoặc có thể sửdụng một số tính chất vật lí (nếu như bài cho phép) như nung ở nhiệt độ khácnhau, hoà tan các chất vào nước,

- Phản ứng hoá học được chọn để nhận biết là phản ứng đặc trưng đơn giản

và có dấu hiệu rõ rệt Trừ trường hợp đặc biệt, thông thường muốn nhận biết nhoá chất cần phải tiến hành (n – 1) thí nghiệm

- Tất cả các chất được lựa chọn dùng để nhận biết các hoá chất theo yêu cầucủa đề bài, đều được coi là thuốc thử

2.3.3 Phương pháp trình bày một lời giải về nhận biết

* Bước 1: Lấy mẫu thử các chất nhận biết vào các ống nghiệm (đánh số thứ

tự)

* Bước 2: Chọn thuốc thử (tuỳ thuộc yêu cầu đề bài yêu cầu: Thuốc thử tuỳ

chọn, hay hạn chế, hay không dùng thuốc thử bên ngoài, )

Nhận biết chất

Nhận biết các chất trong hỗn hợp

Phương pháp định lượng

Phương pháp

định tính

Phương pháp định lượng Phương phápđịnh tính

Dùng thuốc thử không giới hạn Dùng thuốc thử hạn chế

Nhận biết các chất riêng biệt

Trang 7

* Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được (mô

tả hiện tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào

* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ (nếu có)

Ta thấy rằng bước 2 là quan trong nhất học sinh phải xác định được phảidùng thuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được Muốn vậy các em phảinắm rõ phản ứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà giáoviên cung cấp sau:

MỘT SỐ THUỐC THỬ DÀNH CHO HỢP CHẤT VÔ CƠ

BẢNG 1 TRẠNG THÁI, MÀU SẮC CỦA CÁC ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT:

K2Cr2O7 Đỏ da cam MnO2 Màu đen

Zn Trắng hơi xanh H2S Khí mùi trứng thối

Hg Lỏng, bạc trắng SO2 Khí không màu, mùi hắcHgO Vàng hoặc đỏ SO3 Lỏng, không màu, sôi ở 45o

MnO Xám lục nhạt I2 Tím, rắn, có thăng hoa

AgI Kết tủa vàng đậm Fe3O4 Rắn đen

CuS, FeS, NiS, Kết tủa đen Fe2O3 Nâu đỏ

Cu2O Rắn da cam hay đỏ AgCl Kết tủa trắng

Muối Cu2+ Xanh lá mạ Ag2S Màu đen

FeCl3 Vàng nâu K2MnO4 Màu lục thẫm

BẢNG 2 NHẬN BIẾT MỘT SỐ CHẤT KHÍ

1.SO2 -Nước brom: làm mất màu Br2

- DD KMnO4: Làm mất màu

-Dung dịch H2S: ↓ màu vàng

- Dd I2: Nhạt màu vàng của I2

- Dung dịch Ca(OH)2 dư: Làm

cho nước vôi trong bị vẩn đục

- Làm quì tím ẩm mất màu

- Dung dịch KI

- Làm mất màu dung dịch brom

Cl2 + H2O → HCl + HClO (tẩy màu)

Cl2 + 2KI → 2KCl + I2

I2 làm xanh giấy tẩm hồ tinh bột2Cl2 +Br2 + 6H2O → 2HBrO3 + 10HCl3.N2 Que diêm đang cháy dở: que

Trang 8

- Giấy tẩm dung dịch HCl: Có

khói trắng xuất hiện

2NH3 + 3CuO → 3Cu + N2 + 3H2O4NH3 + Cu(OH)2 →[Cu(NH3)4](OH)2

5.NO Không màu

- Khí NO: Hóa nâu khi gặp O2 2NO + O2 → 2NO2 ↑ (màu nâu)

6.NO2 - Hòa tan kim loại hoặc làm quì

tím hóa đỏ trong nước khi sục

-Kết tủa đen với dd Cu(NO)3

- Tạo kết tủa vàng với HNO3 (l)

- Tạo bột màu vàng với SO2

12.SO3 - Tạo kết tủa với dd BaCl2

15

H2O

- Hơi nước làm cho CuSO4

(khan, màu trắng) -> màu xanh

CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O (màu xanh)

Cu HNO3 đậm đặc → tan + dd xanh + NO2 ↑ màu nâu

Cu + HNO3 ->Cu(NO3)2 +2NO2 +H2O

Trang 9

+ AgNO3 Cu + AgNO3 -> Cu(NO3)2 + Ag

Ag + HNO3, sau đó cho NaCl

vào dung dịch

→ tan + NO2 ↑ nâu + ↓ trắng

Ag + 2HNO3 -> AgNO3 + NO2 + H2OAgNO3 + NaCl -> AgCl + NaNO3

CaO + H2O

+ dd Na2CO3

→ tan, dd đục, CaO + H2O -> Ca(OH)2

CaO + H2O + Na2CO3 -> CaCO3 ↓+2NaOH

P2O5 + H2O Tan, làm đỏ quì tím; P2O5+3H2O ->2H3PO4

Al2O3 Tan trong cả axit và kiềm Al2O3 + 6HCl -> 2AlCl3 + 3 H2O

Al2O3 + NaOH -> 2NaAlO2 + H2OCuO + dd HCl, HNO3, H2SO4 Tạo dd màu xanhCuO + 2HCl -> H2O+ CuCl2

Ag2O + dd HCl đun nóng Ag2O + 2HCl -> H2O+ 2AgCl↓ trắng

MnO2 + dd HCl đun nóng MnO2 +4HCl ->MnCl2+ 2H2O+ Cl2↑vàng lục

BẢNG 5 CÁC DUNG DỊCH MUỐI ( NHẬN BIẾT GỐC AXIT)

+ AgNO3

Cl2 + 2I- -> 2Cl- + I2→ dd có màu xanh

→AgI↓ vàng đậm

S2- + Cd(NO3)2, Pb(NO3)2 → CdS↓ vàng, PbS↓ đen

SO42- + dd BaCl2 , Ba( NO3)2 Ba2+ + SO42- → BaSO4 ↓ trắng

→ Na+ cháy với ngọn lửa màu vàng

→ K+ cháy với ngọn lửa màu tím

Trang 10

Rb+

Cs+

Ba2+

Ca2+

→ Rb+ cháy với ngọn lửa màu đỏ huyết

→ Cs+ cháy với ngọn lửa màu xanh da trời

→ Ba2+ cháy với ngọn lửa màu lục (hơi vàng)

→ Ca2+ cháy với ngọn lủa màu đỏ da cam

Mg2+ Dd OH- Mg2+ + 2OH- -> Mg(OH)2 ↓ trắng keo

- Fe2+ Dd OH-

+ dd thuốc tím

trong H+

Fe2+ + 2OH- -> Fe(OH)2 ↓ trắng xanh

dd mất màu tím và hơi ngã sang màu vàng nhạt 5Fe2+ + MnO4- + 8H+ → Mn2+ + 5Fe3+ + 4H2O

- Fe3+ + dd OH-

+ dd chứa SCN-

Fe3+ + 3OH -> Fe(OH)3↓ nâu đỏ

Fe3+ + 3SCN- → Fe(SCN)3 dd màu đỏ máu

- Al3+ + dd OH- đến dư → Al3+ +3OH-→ Al(OH)3 ↓trắng keo sau đó tan

Al(OH)3 + OH- → AlO2- + H2O

- Pb2+ +dd Na2S, dd H2S PbS↓ đen, PbCl2 ↓ trắng

- Cu2+ + dd OH- → Cu(OH)2 ↓ xanh: Cu2+ + OH- →Cu(OH)2

Zn2+ + dd OH- đến dư ↓màu trắng sau đó tan:

Cd2+ Dùng S2- Kết tủa màu vàng: Cd2+ + S2- → CdS

Hg2+ Dùng I

-Kết tủa màu đỏ:

Ag+ Dùng AgCl Kết tủa màu trắng: Ag+ + Cl- → AgCl

Sr2+ Dùng gốc SO42- Kết tủa màu trắng: Sr2+ + SO42- → SrSO4

2.3.4 Các giải pháp cụ thể cho từng phương pháp

Trong quá trình giảng dạy bài tập hoá học cho HS tôi luôn tập hợp cácdạng bài tập từ dễ đến khó từ vận dụng đơn giản đến vận dụng kiến thức tổnghợp và có sáng tạo Đối với dạng bài tập này cũng vậy học sinh phải được luyệntập từ bài tập dễ đến bài khó, từ đơn giản đến phức tạp

Một bài tập nhận biết HS cần xác định rõ đề bài yêu cầu là nhận biết bằngtính chất vật lý, hay nhận biết bằng tính chất hóa học hoặc nhận biết dựa vào cảhai tính chất Để giải bài tập nhận biết học sinh có thể giải ra nháp với cách giảitừng bước hoặc sơ đồ

2.3.4.1 Phương pháp vật lý

a) Nguyên tắc : Thông thường những tính chất vật lý mà học sinh có thể dựa

vào đó để nhận biết là: tính tan, trạng thái, màu sắc, mùi vị, t0 sôi, t0 nóng chảy

b) Các ví dụ cụ thể

- Phương pháp định tính

Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày cách nhận biết các khí sau đựng

trong các lọ riêng biệt: Cl2, H2, NH3, H2S

Hướng dẫn giải:

Khí nào có màu vàng lục là Cl2 Các khí còn lại không màu là: H2, NH3 , H2S

mở nắp lấy tay phẩy nhẹ khí nào có mùi khai là NH3; Khí nào có mùi trừng thối

là H2S; Khí còn lại không có mùi gì là H2

- Phương pháp định lượng: HS phải dùng một số phương pháp như cân, đo,đong, đếm để phân biệt các chất đó

Ví dụ 1 : Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày 2 cách phân biệt 2 lọ chứ 2

chất bột kim loại màu trắng bạc: Al và Fe

Hướng dẫn giải:

Trang 11

Cách 1: Dùng nam châm cho vào gần 2 lọ đựng 2 chất bột trên lọ nào bị namchâm hút là Fe, lọ còn lại không có hiện tượng gì là Al

Cách 2: Cân cùng một thể tích 2 kim loại trên chất nào nhẹ hơn là nhôm (vì D=2,7g/cm3) chất nào nặng hơn là Fe (vì D = 7,856g/cm3)

Chú ý: Với phương pháp vật lý thường ít áp dụng tuy nhiên để giải được các bàitập nhận biết bằng phương pháp vật lý đòi hỏi HS phải nhớ được màu sắc, trạngthái, mùi vị, khối lượng riêng, niệt độ nóng chảy, tính tan của từng chất mới làmđược

+ Bước 1: Lấy mỗi chất một ít làm mẫu thử

+ Bước 2: Cho cả 4 mẫu hoà tan vào nước

Thấy mẫu nào không tan là: MgO, mẫu nào ít tan tạo dd đục là CaO

Không tan tan

MgO Na2O, P2O5, ( CaO ít tan dd đục )

Quỳ tím

Na2O xanh hoá hoá đỏ P2O5

Phương trình: CaO + H2O -> 2Ca(OH)2

Trang 12

Không hiện tượng: NaNO3, H2O ↓trắng: NaCl Đun nóng

Bay hơi hết: H2O lắng đọng chất rắn: NaNO3

Phương trình: Na2SO4 + BaCl2 -> BaSO4 + 2NaCl

2HCl + Na2CO3 -> 2NaCl + CO2 + H2O

NaCl + AgNO3 -> NaNO3 + AgCl

Ví dụ 3: Nhận biết các khí sau chứa trong các lọ riêng biệt bằng phương pháp

hóa học : O2, N2, Cl2, NH3, H2

Hướng dẫn giải:

Đánh số thứ tự Dùng quỳ tím ẩm cho vào 4 mẫu khí trên

Khí nào làm quỳ tím ẩm hóa xanh là NH3 Khí nào làm quỳ tím ẩm hóa đỏ sau

đó mất màu là Cl2 PTHH: Cl2 + H2O  HCl + HClO

Ba khí còn lại không có hiện tượng gì là: O2 , N2, H2

Cho tàn đóm đỏ vào các khí trên Khí nào làm tàn đóm bùng cháy là O2 Khí cònlại làm tàn đóm tắt dần là N2, H2 Đốt hai khí còn lại, khí nào cháy được là H2,khí không cháy là N2 (N2 không cháy ở nhiệt độ dưới 20000C)

4H2 + O2 t0

  2H2O

Ví dụ 4: Có 3 kim loại Al, Ag, Fe Hãy nêu phương pháp hóa học để nhận biết

từng kim loại Các dụng cụ hóa chất coi như có đủ Viết các PTHH để nhận biết

Hướng dẫn giải:

Lấy mỗi chất một ít làm thí nghiệm

Cho dd NaOH vào các kim loại trên Kim loại nào tan ra là Al

PTHH: 2Al + 2NaOH + 2H2O  2NaAlO2 + 3 H2

Hai kim loại còn lại không phản ứng, dùng dd HCl cho và 2 kim loại trênkim loại nào tan ra là Fe, Kim loại nào không tan là Ag:

PTHH: Fe + 2HCl  FeCl2 + H2

Sơ đồ

Al, Ag, Fe

+ dd NaOH

Ngày đăng: 21/03/2019, 09:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w