Để học sinh nhận biết, tìm hiểu đúng giá trị nghệ thuật và vận dụng cóhiệu quả phép từ so sánh, đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh một cách cụthể, gần gũi với tư duy, nhận thức củ
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Mở đầu 2
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3-15 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm, các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
5-15 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 15-16 3 Kết luận, kiến nghị 19
3.1 Kết luận 19
3.2 Kiến nghị 19
Tài liệu tham khảo 20
Danh mục 21
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện
Có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn con người Trong đó, Tiếng Việt làphân môn góp một phần không nhỏ làm nên điều này mà biện pháp tu từ so sánh
là nhân tố quan trọng
So sánh là phép tu từ có khả năng khắc hoạ hình ảnh và gây ấn tượngmạnh mẽ, có tác dụng làm cho lời nói cụ thể sinh động, diễn đạt được mọi sắcthái biểu cảm Biện pháp tu từ so sánh còn là phương thức bộc lộ tâm tư, tìnhcảm một cách kín đáo, tế nhị Như vậy, trong tác phẩm văn học, phép tu từ sosánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm Nhờ những hình ảnh bóng bẩy,ước lệ, dùng cái này đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà
so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca Phép tu từ so sánh giúp các
em hiểu và cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong văn chương Từ đó góp phần
mở mang tri thức, làm phong phú về tinh thần, tạo hứng thú trong học văn, làmvăn
Tuy nhiên, nhiều năm dạy khối 6, khi dạy về phép tu từ so sánh, tôi nhậnthấy nhiều học sinh hiểu khái niệm còn chung chung, chưa đi sâu tìm hiểu giá trịbiểu đạt và vận dụng chưa linh hoạt phép tu từ này vào tìm hiểu, tạo lập văn bản
và trong giao tiếp Lời văn nghèo nàn, diễn đạt chưa sinh động, bóng bẩy, hìnhảnh, chưa bộc lộ rõ nét
Để học sinh nhận biết, tìm hiểu đúng giá trị nghệ thuật và vận dụng cóhiệu quả phép từ so sánh, đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh một cách cụthể, gần gũi với tư duy, nhận thức của các em về cách nhận biết, cách tìm hiểugiá trị nghệ thuật nói chung và so sánh nói riêng, cách vận dụng các phép tu từvào nói, viết Nghĩa là, phải gắn với những hiểu biết từ thực tế cuộc sống vànhững hiểu biết cơ bản mà các em đã phân tích tìm hiểu ở phần văn bản Nhưvậy quá trình dạy học phân môn Tiếng Việt sẽ thu hút được sự chú ý của họcsinh, các em sẽ nhận biết chắc hơn, hiểu sâu hơn về giá trị nghệ thuật của phép
tu từ này Đồng thời, một lần nữa nâng cao kĩ năng sử dụng phép tu rừ so sánhcho học sinh, luyện cho các em cách viết lời văn trau chuốt, có hình ảnh, hàmsúc, có tính biểu cảm cao Từ đó, rèn luyện ý thức yêu quí tiếng Việt, giữ gìn sựtrong sáng của tiếng Việt
Từ nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong quá trình giảngdạy, bản thân tôi đã rút ra một số kinh nghiệm khi dạy học phép tu từ so sánh
Đó là đưa ra được những cách hiểu đúng về phép tu từ so sánh như: So sánh là
gì ? Cấu trúc của so sánh ? Yêu cầu của so sánh ? Các yếu tố của so sánh ? Cáckiểu so sánh Đặc biệt, là chỉ rõ các đơn vị kiến thức cần dạy của bài so sánh,
và cách dạy các đơn vị kiến thức này để giúp học sinh có kĩ năng sử dụng phép
tu từ so sánh một cách chuẩn xác và hay hơn
Phép tu từ so sánh chỉ là một đơn vị kiến thức nhỏ, một phép tu từ trongrất nhiều phép tu từ của tiếng Việt, nhưng đây cũng là vấn đề khiến tôi trăn trở
và tập trung nghiên cứu, sưu tầm và thử nghiệm nhiều năm qua Hy vọng cùng
Trang 3được trao đổi với các bạn đồng nghiệp cách dạy phép tu từ so sánh qua đề tài
này Vì vậy, tôi xin được trình bày vấn đề ''Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 6 nâng cao kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh''
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này để áp dụng vào giảng dạy môn Ngữ văn nóichung và phân môn Tiếng Việt nói riêng, đặc biệt rèn cho học sinh nâng cao kĩnăng sử dụng phép tu từ so sánh, giúp các em cảm thụ tốt tác phẩm văn chương,nhất là thơ trữ tình
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 6 nâng cao kĩ năng sử dụngphép tu từ so sánh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu về đề tài ''Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 6 nâng cao kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh'' tôi sử dụng các phương pháp
sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: khảo sát chất lượng về năng lực nhậnbiết, thông hiểu, vận dụng của học sinh để tìm ra điểm yếu kém của học sinhtrong môn học (khảo sát từ kết quả thi khảo sát chất lượng)
- Phương pháp thực nghiệm: đưa ra các phương pháp, các cách thức hướng dẫn học sinh thực hiện thông qua các bài tập Từ kết quả nhận thức của học sinh để phân tích, khẳng định khả năng thực thi của đề tài, đánh giá các phương pháp phù hợp với trình độ của học sinh và ở mức độ nào
- Phương pháp nghiệm thu và đối chiếu, so sánh: nghiệm thu kết quả sau khi vận dụng đề tài; so sánh, đối chiếu kết quả giảng dạy đạt được với trước khi vận dụng đề tài
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp, đánh giá kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học qua phân tích cái hay cái đẹp củaphép tu từ so sánh
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Khái niệm về biện pháp tu từ so sánh có rất nhiều tài liệu nghiên cứu đưa
ra Tuy nhiên khái niệm chính thống được sử dụng hiện nay là: So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng
sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt (1) So sánh có thể coi là phép tu từ phổ
biến, là phương thức quan trọng trong việc làm tăng giá trị biểu cảm của ngônngữ Dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 6, ngoài việc giúp các em hiểu bảnchất, cấu trúc, tác dụng của nó còn là bước đầu giúp các em nâng cao năng lực
Trang 4cảm thụ văn chương, luyện cho các em cách diễn đạt lời văn trau chuốt, có hìnhảnh, hàm súc, có tính biểu cảm cao và năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách sinhđộng, giàu hình ảnh trong giao tiếp Vì thế, muốn dạy tốt kiến thức về so sánh,người thầy phải luôn chịu khó tìm tòi, học hỏi, tích luỹ kiến thức để tìm phươngpháp và bước đi thích hợp thì mới mong đạt được mục tiêu của bài dạy.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, phân môn Tiếng Việt có các bài học
về các biện pháp tu từ Nội dung đề tài này, tôi chỉ đề cập đến bài 19, 21: Sosánh - Ngữ văn 6, tập 2
Trong quá trình giảng dạy, vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi thấyhọc sinh dễ tiếp thu kiến thức hơn, nâng cao kĩ năng nhận diện, phân tích, sửdụng phép tu từ so sánh, năng lực cảm thụ văn chương sâu sắc hơn
2.2 THỰC TRẠNG
Dạy học văn chương nói chung là vừa dạy môn khoa học vừa dạy mônnghệ thuật Bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Đối với phân mônTiếng Việt nói riêng đặc biệt khi dạy các biện pháp tu từ, người thầy phải hướngdẫn học sinh phát hiện được: Cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật,cách vận dụng các phép tu từ trong khi nói và viết Từ đó giúp các em cảmnhận được giá trị và ý nghĩa của tiếng Việt Song thực tế giảng dạy cho thấy,phân môn Tiếng Việt từng được coi là đơn giản nhất so với hai phân môn còn lại
là Văn học và Tập làm văn Vì thế, không ít đơn vị kiến thức tiếng Việt, đặc biệt
là phép tu từ so sánh chưa được giáo viên đặc biệt coi trọng để nghiên cứu kĩcàng nên nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫnhọc sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trịnghệ thuật, cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạycòn nghèo nàn Kết quả là nhiều học sinh không hiểu bản chất của so sánh,không sử dụng được so sánh trong nói và viết, không cảm nhận được nội dung
tư tưởng câu văn, câu thơ có hình ảnh so sánh Cơ bản các em mới nhận biếtđược hình ảnh so sánh Còn kĩ năng phân tích hiệu quả thẩm mỹ thì gần như đa
số không vận dụng được
Qua đề kiểm tra chất lượng giữa học kì II - Môn Ngữ văn - Năm học2016-2017 (Ngân hàng đề thi của trường):
Đề bài: Viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về nghệ thuật so
sánh trong câu ca dao:
''Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra''.
Tôi khảo sát thực tế bài làm của học sinh ở trường thấy rằng : trên 70% sốhọc sinh chưa biết viết đoạn văn cảm thụ, chưa phân tích được giá trị biểu đạtcủa phép tu từ so sánh
Số học sinh có khả năng cảm thụ, xử lí yêu cầu của đề bài trên 21%, sốhọc sinh đạt giỏi là 0% - một con số đáng báo động trong việc học phân mônTiếng Việt hiện nay trong nhà trường THCS
Trang 5Bảng khảo sát chất lượng năm học 2016- 2017
2.3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Từ thực trạng trên, để hoàn thành đề tài nghiên cứu ''Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 6 nâng cao kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh'', tôi
? Các em hãy tìm ở các ví dụ trên, những sự vật được so sánh với nhau?
Câu a): ''Trẻ em'' được so sánh với ''búp trên cành''
Câu b): ''Rừng đước'' được so sánh với "hai dãy trường thành vô tận''
? Em hãy chỉ ra cơ sở để có thể so sánh như vậy?
Học sinh chỉ ra được điểm giống nhau nhất định, những nét tương đồngnhất định (ít nhất theo quan sát của tác giả) giữa các sự vật được đem ra so sánhvới nhau
? Em hãy cho biết sánh như thế nhằm mục đích gì?
Trang 6- Mục đích của các cách nói bằng so sánh trên là để làm nổi bật được cảmnhận của người viết, người nói về những sự vật được nói đến (''Trẻ em'', ''rừngđước''), làm cho câu văn câu thơ có hình ảnh và gợi cảm
- Từ đó học sinh hiểu được so sánh là gì?
*Để khắc sâu kiến thức, tôi cho học sinh tìm một số câu thơ, câu văn, tụcngữ, ca dao có hình ảnh so sánh bằng cách thi nhanh giữa các tổ:
Ví dụ:
- Mẹ già như chuối chín cây.
- Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà.
* Sau khi hình thành xong khái niệm so sánh là gì? Giáo viên cần lưu ýhọc sinh phân biệt so sánh tu từ với so sánh logic
- Giống nhau: Đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng vớinhau
- Khác nhau:
+ So sánh logic: là một hoạt động nhận thức phổ biến của tư duy conngười nhằm nhận dạng và chiếm lĩnh bản chất của các sự kiện, hiện tượng được
so sán; là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng cạnh nhau nhằm tìm ra các
sự giống nhau và khác nhau giữa chúng
+ So sánh tu từ (còn gọi là so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ trong
đó người ta đối chiếu các sự vật với nhau miễn là giữa các sự vật có một néttương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trongnhận thức người đọc, người nghe (2)
(Lê A, Phương pháp dạy học Tiếng Việt)
Ví dụ: So sánh tu từ So sánh logic
Mặt tươi như hoa Mặt con cũng tròn như mặt mẹ
2.3.2 Tìm hiểu cấu tạo phép so sánh:
- Hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo của phép so sánh, tôi tiếp tục sửdụng 2 ví dụ a, b ở phần hình thành khái niệm, đồng thời đưa thêm 2 ví dụ Giớithiệu cho học sinh mô hình cấu tạo so sánh, sau đó cho học sinh điền tập hợpchứa hình ảnh so sánh vào mô hình so sánh
Trang 7d) Tim tôi chiếc lá dâu xanh
Tằm đời ăn rỗi trơ cành còn chi!
(Trần Huyền Trân)
Mô hình cấu tạo phép so sánh
Ví dụ
Vế A(Sự vật được
b Rừng đước dựng lên caongất như hai dãy trường thành
vô tận
- Cho học sinh tự nhận xét về các yếu tố của phép so sánh có đối chiếugiữa các ví dụ từ đó rút ra kết luận:
Một so sánh có cấu trúc so sánh hoàn chỉnh gồm bốn yếu tố sau:
- Yếu tố 1: Yếu tố được hoặc bị so sánh (sự vật được so sánh - vế A)
- Yếu tố 2: Nêu thuộc tính của sự vật (phương diện so sánh)
- Yếu tố 3: Thể hiện quan hệ so sánh (từ chỉ quan hệ so sánh)
- Yếu tố 4: Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (sự vật dùng để sosánh - vế B)
Giáo viên lưu ý học sinh:
* Trong bốn yếu tố trên đây, yếu tố (1) và yếu tố (4) phải có mặt Nếuvắng yếu tố (1) thì giữa yếu tố (1) và yếu tố (4) phải có điểm tương đồng quenthuộc Đó là so sánh ngầm (ẩn dụ)
* Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi
là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do
đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiềuhơn
Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành
Vế A Từ so sánh Vế B
(Hồ Chí Minh)
So sánh thiếu vắng yếu tố nêu thuộc tính so sánh (phương diện so sánh)
Ở trường hợp này, người đọc có thể liên tưởng hình ảnh trẻ em tươi non, đầy sức sống, chứa chan hi vọng như búp trên cành.
Trang 8* Yếu tố (3) có thể là các từ như: giống, tựa, khác nào, tựa như, giốngnhư, là, bao nhiêu bấy nhiêu, hơn, kém Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc tháikhác nhau:
- Như có sắc thái giả định
- Là có sắc thái khẳng định
- Tựa thể hiện mức độ chưa hoàn hảo.
* Trường hợp thay đổi trật tự các yếu tố trong so sánh: Vế B đứng trước
+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: ''Ngôi nhà sàn dài hơn cả tiếng chiêng''
Trang 9* Nhưng nhìn chung, dù phong phú đến bao nhiêu ta vẫn tìm ra sự trùngkhớp giữa các loại so sánh trên ở hai điểm tạo nên sự phân biệt cơ bản của 2kiểu so sánh Đó là so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng.
+ So sánh ngang bằng có mô hình: A là B
Ví dụ:
" Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là hoa cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen".
(Ca dao) Các so sánh ngang bằng thường sử dụng các từ chỉ quan hệ so sánh như:
như, như là, như thế, giống như, y như
+ So sánh không ngang bằng có mô hình: A không bằng B Từ chỉ quan
hệ so sánh trong các so sánh không ngang bằng là: khác, kém hơn, chẳng bằng, chưa bằng, hơn
Trong phép so sánh không ngang bằng, vế A và vế B chỉ những sự vật, sựviệc tuy hơn kém nhau một phương diện nào đó nhưng vẫn có nét tương đồngvới nhau Chính nét tương đồng này cho phép so sánh các sự vật, sự việc vớinhau
Từ việc tham khảo ở các tài liệu nâng cao, hiểu rõ về vấn đề, tôi hướngdẫn học sinh khai thác dễ dàng ví dụ sách giáo khoa tìm ra các kiểu so sánh
''Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đó thức vì chúng con Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời''
+ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời (2)
- GV cho học sinh so sánh các từ ngữ chỉ ý so sánh ở hai ví dụ này (chẳngbằng/ là) để tìm ra sự khác nhau giữa chúng, sự khác nhau giữa 2 kiểu so sánh
- Từ đó có thể rút ra mô hình của hai kiểu so sánh
So sánh ngang bằng : A là B
So sánh hơn kém : A chẳng bằng B
- Học sinh có thể tìm thêm những từ ngữ chỉ ý so sánh ngang bằng hoặc
so sánh không ngang bằng
Trang 102.3.4 Cách tìm, phân tích giá trị nghệ thuật (hiệu quả thẩm mỹ)
- Cách thức tôi hướng dẫn học sinh tìm và phân tích giá trị nghệ thuật củaphép tu từ so sánh Trước hết, tôi yêu cầu các em phải nắm vững tác dụng củaphép tu từ so sánh là tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt Cụ thể: gợihình là gợi lên hình ảnh của sự vật, hiện tượng được so sánh; gợi cảm là gợi cảmxúc về sự vật, hiện tượng
- Nắm vững tác dụng của phép tu từ so sánh, học sinh sẽ hiểu được mụcđích, ý nghĩa so sánh giữa vế A và vế B là gì? Để từ đó các em xác định cấu trúccủa phép so sánh cụ thể, tìm, phân tích hiệu quả thẩm mỹ của hình ảnh so sánhđó
- Sau khi học sinh đã tìm được phép so sánh trong các mẫu ví dụ, tôihướng dẫn các em phân tích nội dung, ý nghĩa của vế B để làm rõ nội dung của
vế A và toàn câu thơ/văn Muốn hiểu được vế B một cách chuẩn xác buộcchúng ta phải sử dụng vốn hiểu biết từ thực tế, vốn kiến thức văn học đã có Khicác em làm tốt khâu này các em đã tìm được giá trị nghệ thuật đích thực củaphép tu từ này
- Từ những đặc điểm về màu sắc, về trạng thái non tơ của “Búp trên cành”
đã giúp người đọc liên tưởng tới đặc điểm tươi trẻ, tràn trề sức sống của trẻ em
Ví dụ 2:
''Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện''.
(Trích: Dế Mèn phiêu lưu kí- Tô Hoài)
- Giáo viên cho học sinh xác định cấu trúc của ví dụ Giúp học sinh hìnhdung hình ảnh người nghiện thuốc phiện: Dáng người gầy gò, ốm yếu, da vàngtái, đi liêu xiêu…
Thông qua hình ảnh dùng để so sánh đó, học sinh hiểu được tác giả códụng ý làm rõ hơn cái ốm yếu, quoặt quẹo, yểu tướng của anh chàng Dế Choắt
2.3.5 Sử dụng lời văn phân tích giá trị biểu đạt, hiệu quả thẩm mỹ của phép tu từ so sánh
Dùng lời bình để làm rõ ý nghĩa của biện pháp tu từ đó trong một đoạnthơ, đoạn văn là hạn chế lớn đối với học sinh, phần lớn các em chỉ nêu đượcphép tu từ và nêu tác dụng của vế A và vế B mà thôi Vì vậy, các em chưa cảmnhận được nghệ thuật đặc sắc cũng như ý đồ của tác giả Để giúp các em nâng