1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động dạy học môn toán tại trường trung học phổ thông tống văn trân, huyện ý yên, tỉnh nam định theo tiếp cận phát triển năng lực

121 140 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC --- PHẠM THUÝ HẰNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỐNG VĂN TRÂN, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH THEO TI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-

PHẠM THUÝ HẰNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TỐNG VĂN TRÂN, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-

PHẠM THUÝ HẰNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TỐNG VĂN TRÂN, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN HỮU CHÂU

Hà Nội, 2017

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành của mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản, giúp tôi hoàn thành khoá học quản lý giáo dục và luận văn tốt nghiệp

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh của trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện, giúp đỡ tận tình tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, cung cấp thông tin cho tôi trong thời gian nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Hữu Châu,

cán bộ hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tôi trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn, song không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong Quý thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học và bạn bè đồng nghiệp thông cảm, giúp đỡ và đưa ra những chỉ dẫn quý báu để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Thuý Hằng

Trang 4

ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

4 CSVC, TTBDH Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 7

1.2.1 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 7

1.2.2 Quản lý hoạt động dạy học 8

1.3 Hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực người học 12

1.3.1 Nhà trường THPT 12

1.3.2 Vị trí, vai trò của môn Toán trong trường THPT 13

1.3.3 Mục tiêu của môn Toán trong trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực 14

1.3.4 Xu hướng dạy học môn Toán 15

1.3.5 Năng lực và năng lực Toán học của học sinh THPT 17

1.3.6 Hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT theo định hướng tiếp cận phát triển năng lực 21

1.4 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực người học 24

1.4.1 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên 24

1.4.2 Quản lý hoạt động học của học sinh 32

Trang 6

iv

1.4.3 Xây dựng "môi trường sư phạm" cho HĐDH môn Toán tạo điều

kiện cho HS phát triển năng lực 35

1.5 Các yếu tố tác động đến việc quản lý hoạt động dạy học môn Toán tại trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực 37

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2 40

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN 40

Ở TRƯỜNG THPT TỐNG VĂN TRÂN, NAM ĐỊNH 40

THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 40

2.1 Khái quát chung về trường THPT Tống Văn Trân - huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 40

2.1.1 Quy mô trường lớp 40

2.1.2 Số lượng, chất lượng đội ngũ QLGD, GV Toán, HS Trường THPT Tống Văn Trân - huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định 42

2.1.3 Đội ngũ giáo viên 42

2.1.4 Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy học môn Toán 44

2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 45

2.2.1 Mục đích của khảo sát 45

2.2.2 Đối tượng khảo sát 45

2.2.3 Nội dung khảo sát: 45

2.2.4 Phương pháp khảo sát 46

2.2.5 Thời gian khảo sát 46

2.3 Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 46

2.3.1 Phương thức đánh giá thực trạng hoạt động dạy của GV 46

2.3.2 Thực trạng hoạt động học môn Toán của học sinh 53

Trang 7

v

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT

Tống Văn Trân, Ý Yên, Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực 57

2.4.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên Toán 57

2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh 67

2.4.3 Đánh giá chung về thực trạng QLDH môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 69

2.4.4 Nguyên nhân những tồn tại 71

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỐNG VĂN TRÂN,HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNHTHEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 74

3.1 Nguyên tắc để xây dựng biện pháp quản lý 74

3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống 74

3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 74

3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 75

3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 75

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực người học 75

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của việc dạy học môn Toán theo tiếp cận phát triển năng lực 76

3.2.2 Biện pháp 2: BGH chỉ đạo làm tốt công tác lập kế hoạch giảng dạy môn Toán theo từng học kỳ, năm học 77

3.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao năng lực dạy học môn Toán cho đội ngũ GV theo tiếp cận phát triển năng lực người học 78

Trang 8

vi

3.2.4 Biện pháp 4: BGH chỉ đạo quản lý hoạt động học môn Toán học của

học sinh 80

3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường dạy học phân hoá hướng tới từng nhóm học sinh với năng lực Toán khác nhau 82

3.2.6 BGH chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh cho phù hợp với các yêu cầu mới đặt ra 83

3.2.7 Biện pháp 7: BGH tăng cường quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học môn Toán và nâng cao hiệu quả sử dụng 86

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 87

3.4 Khảo nghiệm tính khả thi, cần thiết của các biện pháp quản lý đề xuất 88

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng khảo sát năng lực theo PISA qua các năm 21

Bảng 1.2: Mô tả 6 mức độ đánh giá năng lực Toán học trong PISA 31

Bảng 2.1: Số lớp và học sinh của nhà trường theo năm học 40

Bảng 2.2: Kết quả xếp loại của HS và tỉ lệ tốt nghiệp THPT 40

Bảng 2.3 : Bảng tổng hợp số liệu HS khối 12 môn Toán Đại học 2015 - THPT Quốc gia 2016 41

Bảng 2.4: Đội ngũ GV Toán của trường THPT Tống Văn Trân 42

Bảng 2.5: Thực trạng hoạt động chuyên môn các môn học theo định kỳ của trường THPT Tống Văn Trân 42

Bảng 2.6: Kết quả hoạt động chuyên môn theo định kỳ của 43

Bảng 2.7: Cơ sở vật chất - TBDH của trường (năm học 2015-2016) 44

Bảng 2.8: Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động giảng dạy 48

Bảng 2.9: Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Toán 52

Bảng 2.10 Kết quả đánh giá tình hình học tập môn Toán của HS 54

Bảng 2.11: Thực trạng việc thực hiện hoạt động học tập môn Toán 56

Bảng 2.12: Thực trạng về quản lý chỉ đạo DH của tổ chuyên môn 58

Bảng 2.13: Quản lý thực hiện nội dung, chương trình Toán hiện nay 60

Bảng 2.14: Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của GV 62

Bảng 2.15 : Thực trạng QL việc lên lớp và sau khi lên lớp của GV 63

Bảng 2.16: QL đổi mới phương pháp DHPH hướng tới từng nhóm HS có 65

năng lực khác nhau 65

Bảng 2.17: Quản lý đánh giá năng lực Toán học của từng HS dựa trên công cụ và phương pháp đánh giá đổi mới 66

Bảng 2.18: Thực trạng QL hoạt động học của HS đối với môn Toán 68

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước

và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại Bối cảnh đó đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất và năng lực của người lao động sao cho đáp ứng được nhu cầu của xã hội

Tại Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI xác đi ̣nh nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng tâm

giai đoa ̣n 2011 – 2020 là: "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" Để làm được điều đó chúng ta cần thiết phải đổi mới trước tiên về tư duy dạy và học đã cố hữu suốt bao đời nay, đổi mới về nội dung, phương pháp dạy, học, đổi mới hệ thống trường lớp, đổi mới về hệ thống quản lý giáo dục và đào tạo Tuy nhiên việc đổi mới đó vẫn phải đảm bảo tính hệ thống, phù hợp với từng đối tượng và cấp học, có lộ trình và bước đi phù hợp

Mặt khác, việc nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học không thể là hoạt động ngày một ngày hai, cần có sự kiên trì và đầu tư về mọi mặt mà trong đó đổi mới công tác quản lý giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng.Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có sự tăng cường lãnh đạo đối với đổi mới giáo dục và đào tạo Các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo đổi mới theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học một cách mạnh mẽ và đồng bộ Tuy nhiên quá trình đó vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi việc lạc hậu, nặng nề và đôi khi còn chưa thật phù hợp với môi trường dạy học ở nước ta Công tác quản lý quá trình dạy học, giáo dục đào tạo chậm đổi mới và có nhiều bất cập

Môn toán có thể coi là một trong những môn học gắn bó dài nhất với cuộc đời học sinh Từ trước đến nay, dù yêu thích hay không các em học sinh vẫn phải học toán, làm các bài kiểm tra, và vượt qua hàng loạt các kỳ thi quan trọng nhất với môn toán.Vì vậy Toán là một trong những môn học có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường ở bất kì cấp học nào

Tuy được quan tâm nhưng chất lượng môn Toán vẫn còn thấp, chưa đáp ứng

Trang 11

2

được yêu cầu đề ra Thực tế trong những năm qua tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, chất lượng giáo dục đã từng bước được nâng lên, cùng với đó công tác quản lý đã được quan tâm để hoạt động dạy học dần theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học Tuy nhiên, phương pháp dạy học theo lối truyền thống một chiều từ thầy đến trò, “dạy chay”, các bài giảng thiên về lý thuyết thuần túy, gò bó theo sách giáo khoa, ít có liên hệ giữa kiến thức Toán học và những ứng dụng thực tế trong đời sống vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi và ở các cấp học trong đó có nhiều trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Việc giúp cho học sinh hình thành ý thức tự giác, tự học, tự nghiên cứu như: tự tìm hiểu kiến thức, tự thao tác thực hành, tự phát hiện và giải quyết vấn đề chưa được giáo viên chú trọng

Do đó, tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức chưa được phát huy

Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn

Toán tại trường Trung học phổ thông Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Câu hỏi nghiên cứu

Cần những biện pháp quản lý nào để nâng cao kết quả hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực người học?

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất các biện pháp QL hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực nhằm nâng cao kết quả hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL HĐDH môn Toán tại trường THPTtheo tiếp cận phát triển năng lực

4.2Khảo sát và phân tích đánh giá thực trạng về QL HĐDH môn Toán tại trường THPT Tống Văn Trân theo tiếp cận phát triển năng lực

4.3Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH môn Toán tại trường THPT Tống

Trang 12

3

Văn Trân theo tiếp cận phát triển năng lực

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý HĐDH môn Toán ở trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý HĐDH môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực

6 Phạm vi nghiên cứu

Quản lý HĐDH môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định từ năm học 2014-2015 đến năm học 2015-2016

7 Giả thuyết khoa học

Những biện pháp được đề xuất nếu có cơ sở khoa học và tính khả thi cao sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Tống Văn Trân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định theo tiếp cận phát triển năng lực người học nói riêng và nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán của các nhà trường nói chung

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết

của Đảng, Nhà nước, các tài liệu của Bộ GD&ĐT, các tài liệu có liên quan để xây dựng

cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Điều tra, khảo sát thực tiễn

+ Phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn và phương pháp tổng kết phân tích tình hình thực tiễn, điều tra bằng bảng hỏi

- Nhóm phương pháp bổ trợ: phương pháp thống kê Toán học để xử lý các

dữ liệu thu được về mặt định lượng

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Trang 14

5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNGDẠY HỌC MÔN

TOÁNTẠITRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN PHÁT

TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Từ xưađến nay giáo dục luôn gắn bó với loài người, định hướng và dẫn dắt

sự phát triển của mỗi thế hệ con người Giáo dục thực hiện sứ mệnh lịch sử là chuyển giao nền văn hoá từ thế hệ này cho thế hệ kia Giáo dục là phương thức đặc trưng, cơ bản để bảo tồn và phát triển văn hoá nhân loại Đã có rất nhiều nhà chính trị, tư tưởng trên thế giới cũng như Việt Nam nghiên cứu về giáo dục nói chung, và trong nhiều năm trở lại đây đi sâu vào quản lý giáo dục nói riêng mang lại nhiều thành tựu to lớn, có tính ứng dụng cao trong thực tiễn cuộc sống

Sự phát triển KT-XH với nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo ra nhu cầu học ngày càng tăng, mục tiêu học ngày càng đa dạng để thực hiên triết lý giáo dục cho mọi người trong bối cảnh mới: Học để biết, học để làm, Học để chung sống, học để làm người, Học suốt đời Bên cạnh đó nền kinh tế tri thức cũng đòi hỏi một lực lượng lao động có năng lực tư duy và kĩ năng thay đổi nên chỉ riêng việc "học để làm" cũng đã yêu cầu cần phải nâng cao năng lực thích ứng Đã có rất nhiều thay đổi diễn ra trong các nhà trường trong giai đoạn hiện nay.Những thay đổi này có thể do yêu cầu của nghành giáo dục gắn với các cuộc vận động và phong trào được phát động trong giai đoạn đổi mới giáo dục (xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cức; chuẩn hoá nghề nghiệp giáo viên; đổi mới quy trình và phương pháp giáo dục, dạy học; đào tạo theo nhu cầu xã hội ) Tuy nhiên nhiều vấn đề liên quan đến hoàn thiện nhà trường , tạo thương hiệu, tự thân nhà trường nhận thấy nếu không thay đổi thì khó tồn tại và phát triển Vì vậy, phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học là điều kiện tiên quyết để thích ứng với thay đổi của xã hội

Trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường, dạy học tồn tại như một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động của con người Để thực hiện các nhiệm

vụ giáo dục: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ

và giáo dục lao động Như vậy dạy học là con đường cơ bản nhằm phát triển trí tuệ,

Trang 15

6

phát triển hoàn thiện nhân cách cho người học Và để dạy học đạt kết quả, cả thầy

và trò cần có cách thức truyền đạt và chiếm lĩnh tri thức đúng đắn Nói cách khác là

có PPDH phù hợp vì nó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới chất lượng của quá trình dạy học

Với tầm quan trọng của việc dạy học đối với sự phát triển của các vấn đề lý thuyết và thực tiễn sư phạm nên DH luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà GD trong và ngoài nước từ xưa đến nay

Trong những năm gần đây đứng trước nhiệm vụ đổi mới GD&ĐT nói riêng

và đổi mới hoạt động DH nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những nhà

GD, tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu về đổi mới QL hoạt động DH nhằm nâng cao tính hiện đại, gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống như: các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD như: Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Đức Chính, Đặng Bá Lãm, Đặng Xuân Hải, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Hữu Châu Các kết quả nghiên cứu , tổng kết của các nhà khoa học giáo dục là những tri thức quý báu để làm tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận giáo dục và xây dựng nền giáo dục nước nhà Kế thừa kết quả đó, những năm gần đây có rất nhiều thạc sĩ chuyên nghành QLGD làm luận văn về đề tài khoa học Quản lý hoạt động dạy học như Hồ Hồng Sơn với "QL hoạt động dạy học môn lịch sử ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay", Khổng Ngọc Sơn với "Quản lý đổi mới hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở các viện trong CAND" Tuy nhiên những đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo phát triển năng lực người học ở trường THPT vẫn còn mới và ít tác giả nghiên cứu

Hiện nay, đã có một vài đơn vị đứng ra biên soạn tài liệu về vấn đề này, ví

dụ như Vụ giáo dục trung học và Dự án phát triển giáo dục THPT giai đoạn 2 đã cùng nhau viết tài liệu hội thảo - tập huấn" Đổi mới tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh" vào tháng 12/2015 Nhưng những nghiên cứu nói trên vẫn chưa đủ để có thể làm rõ và thay đổi cách quản lý hoạt động dạy học theo hướng mới, vẫn cần nhiều những nghiên cứu sâu hơn về hoạt động quản lý nhà trường đặc biệt là QL quá trình dạy học Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận phát triển năng lựclàm cơ sở để áp dụng vào thực tế dạy học trong các

Trang 16

7

trường hiện nay Nhưng đã có rất nhiều cán bộ quản lý ở các trường phổ thông đặc biệt là các trường công lập trên địa bàn Hà Nội đã có những sáng kiến từ việc rút ra kinh nghiệm trong thực tế quản lý dạy học nhằm đổi mới phương pháp dạy học môn Toán Đó là thực tế đáng trân trọng góp phần không nhỏ cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý giáo dục

QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các nguồn lực trong xã hội nhằm đưa giáo dục tới mục đích đề ra Sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong QLGD phải có hệ thống, liên tục và phải phù hợp với quy luật khách quan Theo tác giải Trần Kiểm, khái niệm quản lý GD được hiểu dưới hai cấp độ chủ yếu là cấp độ vi mô, cấp độ vĩ mô:

* Cấp vi mô:

Quản lý GD là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) có chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD trong nhà trường

* Cấp vĩ mô:

Quản lý GD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu phát triển GDĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD

Từ những định nghĩa trên ta có thể tựu chung: Quản lý GD là được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định

1.2.1.2 Quản lý nhà trường

* Nhà trường:

Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển xã hội [5,tr13]

Trang 17

8

Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo, nội dung, chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, mục

đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại

* Quản lý nhà trường:

Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy- học tức là

làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo khi nghiên cứu về quản lý nhà trường đã quan niệm: "Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa có tính kinh tế, trong đó nhà trường trung học phải xác định được sứ mệnh là đào tạo học sinh trở thành con người có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông hành đi vào đời là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật nghề nghiệp và giấy thông hành kinh doanh".[3,tr17]

1.2.2 Quản lý hoạt động dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường thực hiện mục đích giáo dục Nghiên cứu theo lý thuyết hoạt động thì ta thấy dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể đó là giáo viên (hoạt động dạy) và học sinh (hoạt động học) Hai hoạt động này có mỗi quan hệ biện chứng với nhau

Do đó, quản lý HĐDH là những tác động của chủ thể quản lý tới hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò và môi trường dạy học

1.2.2.1 Hoạt dộng dạy học

HĐDH ở đây được hiểu là dạy học trong nhà trường - một bộ phận của hoạt động của giáo dục tổng thể chứ không hàm ý nói đến dạy học nói chung Hoạt động dạy học bao hàm hai hoạt động tương hỗ cơ bản là hoạt động dạy (của giáo viên) và hoạt động học ( của học sinh)

Khi nói đến HĐDH, có nhiều cách tiếp cận khác nhau như tiếp cận hướng vào hoạt động dạy của thầy hoạt tiếp cận hướng vào hoạt động học của trò Dạy học hướng vào hoạt động của thầy thì trọng tâm của HĐDH hướng vào hoạt động dạy của giáo viên, giáo viên là người tổ chức việc học, gợi cho học sinh khám phá tạo

Trang 18

tự khám phá ra nội dung của bài học một cách tích cực, chủ động

Như vậy, HĐDH là một hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa

GV và HS , trong đó dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân"[14,tr8]

1.2.2.2 Một số đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT

Đặc điểm về phát triển thể chất:

Tuổi học sinh THPT (từ 15 đến18 tuổi) là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Hoạt động trí tuệ của các

em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên

rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức

Điều kiện sống và hoạt động của các em xoay quanh gia đình, nhà trường, xã hội

Đặc điểm của hoạt động học tập:

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy

Trang 19

10

khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với

sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ

Ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc của các em

Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ:

Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ

Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ

Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng

Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên

1.2.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

* Quản lý hoạt động dạy học của GV

Quản lý hoạt động giảng dạy thực chất là quản lý nhiệm vụ của đội ngũ GV,

GV tổ chức điều khiển quá trình học tập của học sinh, giúp họ nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ Song song với đó, GV phải thường xuyên học tập, bồi

Trang 20

11

dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật những nội dung, phương pháp học tập mới để nâng cao chất lượng dạy học, bắt kịp với xu hướng dạy học mới.Việc quản lý hoạt động dạy học của GV bao gồm:

- QL mục tiêu,xây dựng kế hoạch dạy học của GV

- QL việc thực hiện chương trình giảng dạy

- QL việc soạn giáo án, chuẩn bị bài trên lớp của GV

- QL việc vận dụng, áp dụng những phương pháp dạy học mới vào bài giảng

- QL việc KT- ĐG kết quả học tập của học sinh

- QL việc khai thác, sử dụng thiết bị dạy học

- QL việc thực hiện quy trình hoàn thiện hồ sơ chuyên môn

- QL hoạt động tự nâng cao trình độ của GV

* Quản lý hoạt động học tập của HS

Quản lý HĐHT của HS là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh trong quá trình học tập.Quản lý chặt chẽ hoạt động học tập của học sinh giúp các em có thái độ, động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện tính kỷ luật, tự giác trong học tập Quản lý tốt hoạt động học tập cũng nhằm phân loại học sinh, từ

đó có phương pháp giảng dạy phù hợp.Quản lý HĐHT của học sinh bao gồm: xây dựng nề nếp học tập cho học sinh, bồi dưỡng động cơ, thái độ đúng đắn cho học sinh, quản lý hoạt động học tập của học sinh trên lớp, quản lý việc tự học của học sinh, quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức các hoạt động hướng nghiệp Như vậy, quản lý hoạt đọ ̂ng da ̣y - học thực chất là những tác đọ ̂ng của chủ thể quản lý vào quá trình da ̣y ho ̣c (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lu ̛ợng xã họ ̂i) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào ta ̣o của nhà trường

1.2.2.4 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT

Để quản lý tốt hoạt động dạy học THPT cần phải tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

- Xây dựng kế hoạch hoạt động: Tích cực triển khai Chương trình hành động

thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thức tám Ban chấp hành Trung ương khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội khoá 13 về đổi mới chương trình, SGK

Trang 21

12

giáo dục phổ thông Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nội dung các cuộc vận động, các phong trào thi đua của nghành bằng việc làm thiết thực,hiệu quả, phù hợp điều kiện từng địa phương, gắn với việc đổi mới hoạt động giáo dục của nhà trường, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ quản lý, GV, HS tại mỗi cơ quan

sở giáo dục

- Đổi mới phương pháp dạy học: Dạy học sao cho phát huy tính chủ động,

tích cực, sáng tạo của HS, tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Đa dạng hoá các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của HS Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học

- Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

và rèn luyện của HS: việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính trung thực, khách

quan,; phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học tập với đánh giá cuối

kỳ, cuối năm học; đánh giá của GV với tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau của HS; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội

- Quản lý và sử dụng CSVC- TBDH:trong nhà trường CSVC-TBDH cũng là

yếu tố rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học Trên cơ sở tận dụng tối đa những

cơ sở đã có sẵn trong nhà trường thì cần phải bổ sung, mua sắm những thiết bị còn thiếu Và khuyến khích để giáo viên có thể tự làm, tự thiết kế ra đồ dùng dạy học

- Tập trung phát triển đội ngũ GV: về năng lực chuyên môn, kỹ năng xây

dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực HS; năng lực đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; quan tâm phát triển đội ngũ tổ trưởng tổ chuyên môn, GV cốt cán,

GV chủ nhiệm lớp; chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên môn; nâng cao vai trò của

GV chủ nhiệm lớp, của tổ chức Đoàn, Đội, Hội, gia đình và cộng đồng trong việc quản lý, phối hợp giáo dục toàn diện cho học sinh

1.3 Hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực người học

1.3.1 Nhà trường THPT

Nhà trường THPT là cấp học cuối cùng của bậc học bao gồm 3 năm học, là giai đoạn quan trọng trước khi HSbước vào giai đoạn học tập mới Theo điều 27

Trang 22

1.3.2 Vị trí, vai trò của môn Toán trong trường THPT

Trong nhà trường phổ thông môn Toán có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng: Môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông Nó góp phần phát triển nhân cách, cùng với việc tạo điều kiện cho

HS kiến tạo những tri thức và rèn luyện kĩ năng Toán học cần thiết Môn Toán còn góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá rèn luyện những đức tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, phê phán, tính sáng tạo, bồi dưỡng óc thẩm mỹ

Ngoài ra môn Toán THPT tiếp nối chương trình THCS, cung cấp vốn văn hoá toán phổ thông một cách có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh bao gồm kiến thức, kĩ năng, phương pháp tư duy

Môn Toán còn là công cụ giúp cho việc dạy học và học các môn khác, trong cuộc sống Toán học còn được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, từ công nghệ, sản xuất đến chế tạo dường như không có nghành nghề nào là không có sự xuất hiện của Toán học

Mặc dù có vai trò quan trọng nhưng hiện nay việc giảng dạy môn Toán vẫn còn nhiều hạn chế Việc dạy học còn thiên về kĩ năng giải toán, chưa chú trọng đến phát triển tư duy sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, phát triển năng lực học sinh Tình trạng quá tải trong chương trình khiến cho giáo viên không có thời gian để hướng dẫn học sinh tìm tòi cái mới trong mỗi bài học, dẫn đến hạn chế về phát triển về năng lực tư duy độc lập, sáng tạo Từ thực tế đó, chúng ta phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp, tạo cho các em HS nhiều hứng thú, phát huy hết khả năng tư duy, tìm tòi khám phá, yêu thích môn học nói chung, bồi dưỡng nhân tài cho các lớp chuyên Toán nói riêng

Trong những năm gần đây đã có nhiều hoạt động đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực người học được triển khai và sẽ

Trang 23

14

tiếp tục được triển khai trong những năm tới như: tổ chức Cuộc thi KHKT cấp quốc gia dành cho học sinh trung học (VIEF) thu hút hàng ngàn HS tham gia, Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn dành cho HS trung học từ năm 2012-2013 đến nay; mô hình dạy học gắn với sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường tại địa phương: dạy học gắn với sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè, mía đường tại Tuyên Quang, dạy học gắn với sinh thái ở Lào Cai Như vậy Bộ giáo dục và Đào tạo đã và đang bắt tay vào việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, coi trọng dạy cách học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, chú trọng vào "phát triển năng lực người học" Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học

1.3.3 Mục tiêu của môn Toán trong trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực

Môn Toán trong nhà trường THPT Việt Nam là môn học rất được coi trọng,

HS sẽ được tiếp cận từ những năm đầu đời và được coi là môn học công cụ Vì thế đây là môn học được hầu hết phụ huynh và học sinh rất quan tâm, đầu tư Việt Nam

đã tham gia rất nhiều cuộc thi Toán học mang tầm cỡ quốc tế và giành được nhiều huy chương danh giá không hề thua kém các nước bạn: olympic Toán quốc tế (IMO); Olympic Toán học trẻ quốc tế (IMC)2015 ở Trung Quốc, đội tuyển Việt Nam đã xếp thứ nhất toàn đoàn; Olympic Toán và Khoa học trẻ quốc tế (IMSO) đội tuyển Việt Nam đã xếp thứ nhất với 7 huy chương vàng, 2 bạc và 3 đồng Hiện nay có 3 tạo chí về Toán dành cho học sinh THPT: Tạp chí Toán học tuổi thơ, Tạp chí Toán học tuổi trẻ và Tạp chí PI vừa ra đời cách đây không lâu do GS Ngô Bảo Châu là người đề xuất Hội Toán học Việt Nam Ngoài ra còn có các Viện nghiên cứu về Toán: Viện Toán học Việt Nam, Viện nghiên cứu cao cấp về Toán cũng rất quan tâm đến việc dạy học Toán ở phổ thông

Mục tiêu hướng tới sau năm 2015 đối với giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông Để làm được điều này, cần phải có nội dung thích hợp cho từng đối tượng học sinh Và môn Toán vẫn được xem là môn học bắt buộc cho mọi HS, vì vậy việc phải xây dựng những

Trang 24

15

chương trình, tài liệu giáo khoa khác nhau sao cho phù hợp với mục đích lựa chọn của HS là cần thiết Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy ở giai đoạn này có nhiều chương trình với tài liệu dạy học tương ứng cho các nhóm học sinh khác nhau với

sự khác biệt về nội dung và mức độ cần đạt

1.3.4 Xu hướng dạy học môn Toán

Trong những năm qua, hoạt động đổi mới hình thức và phương pháp dạy học

cấp THPT đã được quan tâm và thu được những kết quả bước đầu Từ việc trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi tư duy, cách tiếp cận quá trình giáo dục Giáo viên phải thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS Rèn luyện cho HS kỹ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua vận dụng tri thức tổng hợp Cùng với đó GV cần ứng dụng công nghệ thông tin- truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học một cách rộng rãi, hợp lý, hiệu quả

Xu hướng dạy học môn Toán nói riêng và các môn học khác nói chung theo quan điểm dạy học tiếp cận phát triển năng lực người học đều có sự tương đồng và được các nhà QLGD đưa ra như sau:

*Cải tiến phương pháp dạy học truyền thống

Thuyết trình, đàm thoại, luyện lập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc

*Vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Một trong những mục đích cốt yếu của hình thức dạy học này là giúp học sinh phát triển các khả năng: khả năng phát hiện và trình bày vấn đề, khả năng tìm kiếm cách giải quyết vấn đề, khả năng tổ chức quá trình giải quyết vấn đề, khả năng kiểm tra đánh giá kết quả và phương pháp tiến hành giải quyết vấn đề, Nói cách khác, nó cũng cung cấp cho học sinh những tri thức phương pháp Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn, học sinh chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy, bên cạnh dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống

Trang 25

16

*Vận dụng dạy học theo tình huống

Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống

và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập

Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp.Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học đỉển hinh của dạy học theo tỉnh huống, trong dó HS tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gán với thực tiễn thông qua làm việc nhóm *Vận dụng dạy học theo định hướng hành động

Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình học tập.Đây là một quan điểm dạy học tích cực hóa và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội *Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan trong dạy học Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học.Hiện nay, việc trang bị phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên, các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần dược phát huy

Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại.Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử e-leaming

*Sử dụng kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo

Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành dộng của giáo viên và học sinh

Trang 26

17

trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại.Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như "động não", "tia chớp", "bể cá", …

Tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn.Bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau, việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn.Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn

*Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học.Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm

và giới hạn sử dụng riêng.Vì vậy, cần phối hợp linh hoạt, đa dạng các phương páp dạy học để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học

1.3.5 Năng lực và năng lực Toán học của học sinh THPT

1.3.5.1 Năng lực

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đạc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn

- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tái tập, năng lực tưởng tượng

- Năng lực chuyên môn là năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của môn học/hoạt động nào đó.Nhóm

Trang 27

18

các năng lực chuyên biệt được hình thành, phát triển thông qua dạy học các bộ môn, đáp ứng yêu cầu riêng biệt của lĩnh vực xã hội như năng lực tổ chức , năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, Toán học

Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Những năng lực cơ bản này không phải là bẩn sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người

1.3.5.2 Năng lực Toán của học sinh THPT

Năng lực Toán học là khả năng của một cá nhân biết lập công thức

(formulate), vận dụng (employ) và giải thích (explain) Toán học trong nhiều ngữ cảnh Nó bao gồm suy luận Toán học , sử dụng khái niệm, phương pháp, sự việc, công cụ để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng

Năng lực Toán học còn là các đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là các đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng yêu cầu hoạt động Toán học và giúp cho việc nắm giáo trình toán một cách sáng tạo, tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo Toán học

Theo khung đánh giá của OECD/PISA ta có tám năng lực Toán học như sau:

+ Năng lực tƣ duy và suy luận: Điều này liên quan đến việc đặt các câu hỏi

đặc trưng toán (Có hay không ? Nếu như vậy có bao nhiêu? ); phân biệt các mệnh

đề khác nhau (định nghĩa, định lý, phỏng đoán, giả thiết ), hiểu và xác định phạm vi cũng như các hạn chế của các khái niệm đã cho

+ Năng lực lập luận: Điều này liên quan đến việc biết các chứng minh Toán

học là gì và chúng khác với các loại suy luận khác thế nào; theo dõi và đánh giá các chuỗi lập luận toán của nhiều loại khác nhau; thu được cảm nhận về giải quyết vấn

đề bằng kinh nghiệm ("Điều có thể (không thể) xảy ra và tại sao?") tạo nên và trình bày các lập luận toán

+ Năng lực giao tiếp: Năng lực này liên quan đến việc bộc lộ mình, theo

nhiều cách, về những vấn đề với một nội dung toán, theo dạng nói cũng như dạng viết, hiểu được những mệnh đề được nói hay viết bởi những người khác về cùng vấn đề

Trang 28

19

+ Năng lực mô hình hoá Toán học (Năng lực vận dụng Toán học vào

thực tiễn): chuyển thể "thực tế" thành các cấu trúc toán; giải thích các mô hình

Toán học theo nghĩa "thực tế"; làm việc với một mô hình toán; làm cho mô hình thoả đáng; phản ánh, phân tích và đưa ra sự phê phán cũng như các kết quả của nó; giao tiếp về mô hình và các kết quả của nó; giám sát và điều khiển quá trình mô hình hoá Hay nói cách khác là vận dụng toán vào đời sống, giải quyết các bài toán trong thực tiễn cuộc sống

+ Năng lực sáng tạo Toán học : Năng lực này thường xuất hiện ở những học

sinh giỏi toán, các nhà Toán học , ngoài khả năng hiểu những cấu trúc Toán học họ còn có thể phát hiện ra những cấu trúc Toán học , quy luật Toán học mới

+ Năng lực tự học toán: là năng lực người học có thể tự tìm tòi khám phá ra

cách giải quyết vấn đề trong Toán học , người học có thể hợp tác với người khác một cách hiệu quả trong quá trình học tập

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, hình thức, kĩ thuật và các phép

toán:Hiểu, thao tác và ứng dụng các biểu thức kí hiệu; sử dụng các kết quả được kiến

tạo dựa vào các định nghĩa, các quy tắc và quy ước, hệ hình thức

1.3.5.3 Cấu trúc năng lực toán theo Crutexki

Theo Crutexki vấn đề năng lực chính là vấn đề khác biệt cá nhân Nếu tất cả mọi người đều có khả năng phát triển như nhau theo mọi hướng và đối với mọi lĩnh vực của con người thì vấn đề năng lực sẽ không đặt ra Khi ta nói đến vấn đề năng lực tức là đã giả định rằng có một sự khác biệt nào đó về một mặt nào đó giữa các

cá nhân Mỗi cá nhân đều có năng lực nhiều hơn về một mặt nào đó và có năng lực

ít hơn về mặt khác

Các nhà khoa học đều cho rằng các trẻ em đều có khả năng học tập: mỗi HS khoẻ mạnh, bình thường về mặt tâm lý, không có bệnh tật gì đều có khả năng tiếp thi nền học vấn trung học và GV phải làm sao cho tất cả học sinh tiếp thu tốt chương trình đó.Tuy nhiên thừa nhận điều đó không có nghĩa là thừa nhận mọi học sinh đều có năng lực như nhau, đều học dễ dàng như nhau: trong điều kiện tổ chức giảng dạy như nhau ta thấy có em học nhanh, có em học chậm, có em có thể dễ dàng đạt được thành tích cao, kết quả tốt mà không tốn sức nhưng có em lại rất vất

vả, mất nhiều cố gắng cũng không đạt thành tích như vậy Với ý nghĩa đó, chúng ta

Trang 29

20

nói đến học sinh có ít hay nhiều năng lực và các từ "năng lực" có thể dùng để nêu các khác biệt cá nhân trong việc học tập của học sinh Tất cả mọi HS đều có khả năng và phải nắm được chương trình trung học, nhưng khả năng đó khác nhau từ

HS này qua HS khác Các khả năng không phải cố định, không thay đổi: các năng lực không phải nhất thành bất biến mà hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện để nắm được hoạt động tương ứng GV cần chú ý đến những mặt năng lực còn yếu của mỗi HS để có biện pháp kịp thời giúp các em phát triển các mặt năng lực này Mặt khác, GV có nhiệm vụ tìm xem Hs có năng lực về mặt nào nhiều nhất để giúp các em phát huy được khả năng, như vậy mới tìm ra và đào tạo được những HS giỏi trong lĩnh vực nhất định

1.3.5.4 Cấu trúc năng lực Toán học theo quan điểm của P.I.S.A (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế)

Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (The programme for International Student Asseessment)-PISA được xây dựng và điều phối bởi tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) vào cuối thập niên 90 và hiện vẫn diễn ra đều đặn 3 năm một lần Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức cuộc sống sau này ở mức độ nào Ngoài ra chương trình đánh giá PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau:

- Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học của học sinh độ tuổi 15

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của học sinh

- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy - học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh

Một số đặc điểm cơ bản của PISA:

- Quy mô của PISA rất lớn và có tình toàn cầu Qua 5 cuộc khảo sát đánh giá, ngoài các nước thuộc khối OECD còn có rất nhiều đối tác của khối OECD đăng kí tham gia

- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm 1 lần) tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu cơ bản

Trang 30

21

- Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về năng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết quốc gia

- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

+ Chính sách công (Public policy)

+Năng lực phổ thông (Literacy)

+ Học tập suốt đời (Lifelong learning)

Khảo sát PISA mặc dù mỗi kì đều kiểm tra kiến thức thuộc ba lĩnh vực chính, nhưng lĩnh vực trọng tâm sẽ được lựa chọn quay vòng, để từ đó các dữ liệu chi tiết được cập nhật liên tục theo chu kỳ đối với mỗi lĩnh vực và được so sánh đánh giá chuyên sâu 9 năm một lần

Bảng 1.1: Bảng khảo sát năng lực theo PISA qua các năm

Đọc hiểu

Toán học Khoa học

Đọc hiểu

Toán học

Khoa học

Đọc hiểu Toán học

Khoa học

PISA đánh giá khả năng học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng đọc để hiểu nhiều tài liệu khác nhau mà họ có khả năng sẽ gặp trong cuộc sống hàng ngày; khả năng vận dụng kiến thức Toán học vào các tình huống liên quan đến Toán học ; khả năng vận dụng kiến thức khoa học để hiểu và giải quyết các tình huống khoa học

1.3.6 Hoạt độngdạy học môn Toán ở trường THPT theo định hướng tiếp cận phát triển năng lực

Dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực về cơ bản vẫn là dạy học thông thường nhưng chú trọng `tới từng đối tượng người học

1.3.6.1 Tư tưởng chủ đạo của dạy học theo quan điểm phát triển năng lực người học

- Lấy trình độ phát triển chung của học sinh trong lớp làm nền tảng

- Tìm cách đưa nhóm học sinh yếu, kém lên trình độ chung

- Tìm cách đưa diện khá, giỏi đạt yêu cầu nâng cao trên cơ sở đạt yêu cầu cơ bản

1.3.6.2 Hoạt động giảng dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực người học

Hoạt động giảng dạy trong dạy học môn Toán theo tiếp cận phát triển năng

Trang 31

22

lực người học, người GV không những giúp học sinh đạt được mục tiêu hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ mà còn đạt được mục tiêu xa hơn đó là trên cơ sở kiến thức, kĩ năng đã đạt được phát triển khả năng thực hiện các hành động có ý nghĩa thực tiễn

Quy trình dạy học môn Toán cấp THPT theo tiếp cận phát triển năng lực thường được thực hiện theo các giai đoạn:

- Chuẩn bị bài giảng

- Thực thi kế hoạch giảng dạy

- Đánh giá cải tiến

Trong giai đoạn thực thi kế hoạch bài dạy sẽ chú ý tới tổ chức các hoạt động sau cho học sinh:

+ Hoạt đông trải nghiệm (khởi động)

và kĩ thuật dạy học tích cực Từ đó học sinh sẽ tích cực lĩnh hội tri thức, chú trọng đến năng lực giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, trao đổi, chia sẻ, hợp tác, từ các tình huống học tập GV có thể đánh giá được năng lực người học

1.3.6.3 Hoạt động học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực

Khi GV giảng dạy phát triển năng lực người học sinh trong lớp học thành nhóm học sinh với năng lực khác nhau dựa trên năng lực và nhu cầu nhận thức, người ta thường dựa vào biểu hiện của học sinh về ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ Người ta phân được thành 3 nhóm như sau:

* Học sinh có trình độ nhận thức khá, giỏi:

Những HS có năng khiếu về Toán học sẽ thường biểu hiện:

- Có khả năng hiểu và áp dụng các ý tưởng một cách nhanh chóng

- Khả năng quan sát và tư duy trừu tượng tốt

Trang 32

23

- Có khả năng chuyển hoá, vận dụng kiến thức toán học và tình huống mới

- Có khả năng lập luận tốt, sử dụng thành thạo các suy luận phân tích, quy nạp

- Có hứng thú theo đuổi những bài toán khó, phức tạp

- Biết sử dụng các giải pháp một cách linh hoạt và sáng tạo để giải quyết vấn đề Như vậy đối với đối tượng học sinh này, GV cần phải:

- Chuẩn bị nội dung bài học có mức độ phức tạp hơn

- Có phương pháp dạy học sao cho kích thích HS tự khám phá, lĩnh hội tri thức

- Tập trung giải quyết các vấn đề phức tạp và kếtthúc mở

- Gợi ý và tạo cơ hội để HS tìm thấy ứng dụng của các kiến thức trong các nghành khoa học khác, trong thực tiễn cuộc sống

* Học sinh có nhận thức trung bình:

Biểu hiện của HS có nhận thức trung bình:

- Có khả năng nắm được kiến thức cơ bản, giải quyết được các bài toán tương tự

- Gặp khó khăn trước vấn đề mới và đòi hỏi tư duy linh hoạt hoặc những kiến thức

đã có bị biến đổi

- Khả năng suy luận, tư duy, trí tưởng tưởng phát triển ở mức trung bình

- Thái độ học tập không ổn định, lúc thờ ơ, lúc lại rất tích cực

Đối với đối tượng học sinh này GV cần:

- Chuẩn bị nội dung bài học bám sát sách giáo khoa

- Phương pháp dạy học mang tính gợi mở để các em có thể tự mình chiếm lĩnh được tri thức trong SGK

- Tập trung giúp các em giải quyết tốt các bài tập có sẵn trong SGK

- Gợi ý để các em có thể tìm tòi những bài toán khó hơn khi đã hoàn thành tốt bài tập SGK

* Học sinh có nhận thức yếu-kém:

- Tư duy thiếu linh hoạt, suy luận máy móc Điều này rõ nhất khi các em giải bài tập toán

- Không nắm được những kiến thức, kĩ năng cơ bản

- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng phát triển chậm

- Có thái độ thiếu tự tin, ngại cố gắng, nhiều lúc thờ ơ với học tập Trong lớp luôn học thụ động, ko tự giác tích cực

Trang 33

24

Đối với đối tượng học sinh này, GV cần phải:

- Giúp các em xác định và cố gắng bổ sung kiến thức hổng

- Quan sát các em nhiều hơn để có sự giúp đỡ kịp thời, cho các em thực hành nhiều hơn

- Hoạt động hoặc bài tập đánh giá được cấu trúc cụ thể hơn, ít bước hơn, kĩ năng đơn giản hơn

- Thời gian tính toán nhiều hơn

- Cho phép bỏ qua việc thực hành những kiến thức và kĩ năng đã thành thạo

Như vậy lí luận và thực tiễn đều cho thấy mọi HS bình thường đều có khả năng lĩnh hội kiến thức của chương trình phổ thông Trong thực tế dạy học cho thấy, năng lực học tập Toán của từng đối tượng HS là không đồng đều nên bên cạnh số đông HS sẽ đạt chuẩn còn có một bộ phận HS có nhu cầu và khả năng vượt chuẩn hoặc số ít HS khó khăn trong việc đạt chuẩn Vì vậy PPDH phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh là rất cần thiết để tạo điều kiện cho mọi học sinh đều đạt chuẩn, đồng thời tạo

cơ hội cho một bộ phận HS có khả năng vượt chuẩn phát huy cao độ năng lực của mỗi cá nhân trong mỗi tiết học Toán

1.4 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực người học

1.4.1 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

Năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc Như đã biết, năng lực bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành Người giáo viên muốn dạy học theo cách tiếp cận phát triển năng lực người học ta cần chú ý đến vấn đề sau:

- Giáo viên phải quan tâm tới hoạt động học và kết quả hoạt động học của học sinh -Giáo viên vừa phải chú trọng trang bị kiến thức , kĩ năng cho học sinh, vừa phải hình thành thái độ, hành vi ứng xử trong cuộc sống

- Thước đo để đánh giá năng lực của cá nhân dựa vào kết quả công việc hay hoạt động của chủ thể hoạt động vì vậy giáo viên phải giúpngười học phát huy được hết khả năng bản thân

Tiếp cận năng lực Toán học cho học sinh là chủ trương giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được hay tư duy Toán học để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra

Trang 34

25

Để đáp ứng được việc dạy học theo tiếp cận phát triển đòi hỏi người giáo viên Toán phải chỉ ra được sự khác biệt và tương đồng của dạy học nhằm trang bị kiến thức với dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học trong dạy học Toán ở trường THPT Giáo viên còn phải chú ý đến hình thức dạy học:

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc chuyển hình thức tổ chức giáo dục từ chủ yếu là dạy học trên lớp sang đa dạng hoá hình thức học tập, đồng thời với dạy học trên lớp phải chú ý trọng các hoạt động xã hội và nghiên cứu khoa học Từ những kiến thức Toán học được trên lớp người học sinh có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn, không những thế còn có thể đề xuất các cách giải quyết sáng tạo khác với lối mòn Cân đối giữa dạy học và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân; giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn để đảm bảo hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng của học sinh vừa đảm bảo chất lượng giáo dục chung , vừa phát triển tiềm năng cá nhân người học

-Cùng với dạy học trên lớp, coi trọng các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo Dạy học ngoài lớp học, tham quan, khảo sát địa phương, ngoại khoá có nhiều tác dụng thiết thực trong việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng học tập góp phần nâng cao năng lực nhiều mặt cho HS, tạo hứng thú học tập, gắn kiến thức lý thuyết với kiến thức thực tiễn, trang bị cho HS kĩ năng tự học

Về phương pháp dạy học: Tăng cường vận dụng các phương pháp dạy học tích cực đề cao chủ thể nhận thức của HS như Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phổ biến theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học HS: phương pháp dạy học thuyết trình (giảng giải, giảng thuật, diễn giảng), sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học đặc thù của môn học

Về phương tiện dạy học: Sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học, đặc biệt

là công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới việc lựa chọn và thiết kế nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Giáo viên cần tạo điều kiện để

HS được học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội nhất là internet Từ đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế tự học suốt đời

1.4.1.1 Quản lý sự phân công giáo viên Toán

Người giáo viên Toán ngoài năng lực Toán học không chỉ là kiến thức Toán

Trang 35

26

học mà còn là phương pháp làm việc, nghiên cứu Toán, có khả năng vận dụng Toán vào giải quyết vấn đề thực tiễn, đồng thời, phải thường xuyên theo dõi, học tập để nắm được xu hướng phát triển Toán học , từ đó áp dụng vào dạy học Giáo viên đang giảng dạy ở trường phổ thông, cần được bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu này Vì vậy các nhà quản lý GS.TS Đào Tam (Hội giảng dạy Toán phổ thông) và

TS Nguyễn Chiến Thắng (khoa Sư phạm Toán học , Trường ĐH Vinh) đã cùng đề xuất các năng lực cốt lõi của giáo viên Toán ở phổ thông, đáp ứng dạy học theo định hướng phát triển năng lực:

- Năng lực hiểu biết tốt về môn học

- Năng lực hiểu biết sâu sắc về đặc điểm và cấu trúc tâm lí riêng biệt của học sinh khi học tập môn Toán

- Năng lực chẩn đoán, đo trình độ học sinh trong học tập môn Toán

- Năng lực thiết kế và tổ chức các tình huống dạy học Toán có hiệu quả cho sự phát triển của học sinh, trong đó bao hàm dạy học phân hóa, thiết kế các tình huống Toán học hóa

- Năng lực xử lý và biến đổi thông tin trong dạy học Toán

- Năng lực giải thích tài liệu Toán học và các vấn đề liên quan đến môn Toán

- Năng lực ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học Toán

- Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục Toán học

- Năng lực chuyển hóa sư phạm nhằm định hướng cách phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học Toán

Ông PGS.TS Vương Dương Minh (Trường ĐH SP Hà Nội) lại đưa ra 3 điểm nhấn trong năng lực giáo viên Toán gồm:

- Vận dụng tốt phương pháp dạy học Toán theo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Trang 36

27

- Phát triển chương trình giáo dục

Ngoài ra, đáp ứng yêu cầu mới, giáo viên Toán cần không ngừng tự bồi dưỡng

và trải nghiệm sáng tạo

Như vậy người quản lý muốn có được chất lượng dạy học môn Toán tốt cần chú ý đến năng lực chuyên môn của từng giáo viên, am hiểu về đối tượng học sinh: với việc bồi dưỡng học sinh giỏi thì đối tượng giáo viên như nào, đối với học sinh còn yếu kém cần những giáo viên như nào sao cho GV và HS phù hợp với nhau, tạo điều kiện để đạt được kết quả tốt nhất

1.4.1.2 Quản lý việc dạy học Toán theo chuẩn chương trình THPT

Chương trình và sách giáo khoa Toán phổ thông Việt Nam tính từ năm 1945

đã trải qua 5 lần thay đổi để đáp ứng nhu cầu cho mỗi thời kì phát triển của xã hội Chương trình môn Toán hiện nay được thực hiện từ năm 2002 Từ 1/2017 Bộ giáo dục và Đào tạo cùng Ngân hàng Thế giới đã tổ chức hội nghị khởi động dự án Hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông trong đó có việc biên soạn lại sách giáo khoa THPT nói chung cũng như biên soạn sách giáo khoa môn Toán THPT nói riêng Thông qua chương trình giáo dục phổ thông mới để nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng việc biên soạn sách giáo khoa phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới và đổi mới đánh giá giáo dục học sinh

Nội dung chương trình THPT đã giảm được tính hàn lâm, kinh viện, quan tâm đến thực hành,ứng dụng, yêu cầu liên bộ môn thông qua việc xây dựng chuẩn kiến thức và kỹ năng SGK Toán đã bám sát nội dung chương trình để cụ thể hoá nội dung cần học một cách đầy đủ, đảm bảo tính vừa sức, sự hát triển logic của kiến thức, hệ thống bài tập đa dạng, phù hợp với các trình độ, nhiều bài tập có nội dung thực tiễn Chương trình thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh tiếp cận với chương trình toán của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới

1.4.1.3 Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học phân hoá hướng đến từng nhóm học sinh với năng lực Toán khác nhau

Một trong những vấn đề còn tồn tại của cách dạy học truyền thống hiện nay

là chưa giải quyết được tính đa dạng trong lớp học Chương trình và cách dạy vẫn chủ trương áp dụng cho số đông Điều này đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để phát huy

Trang 37

28

được tối đa khả năng cá nhân của từng người học? Và một trong những giải pháp sư phạm được đưa ra là tổ chức dạy học phân hoá Nhưng hiện nay ở Việt Nam việc dạy học phân hoá chưa được các CBQL quan tâm trong hoạt động dạy và học của thầy và trò

Dạy học phân hoá là chiến lược giảng dạy dựa trên nhận thức của giáo viên

về nhu cầu của từng cá nhân người học Đối với dạy học phân hoá, giáo viên cần hiểu rõ đối tượng giáo dục Từ năng lực hiểu đối tượng giáo dục, giáo viên cần thiết

kế năng công cụ dạy học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Có nhiều cách để tổ chức dạy học phân hoá như: phân hoá theo hứng thú, phân hoá theo sự nhận thức, phân hoá giờ học theo học lực, phân hoá giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của người học Trong giới hạn của đề tài luận văn chúng ta nghiên cứu phân hoá theo năng lực và nhu cầu người học

Thực tế cho thấy học sinh trong lớp có nhiều điểm khác biệt, về quan điểm, khả năng Do đó, phương pháp giảng dạy của giáo viên cần phân hoá theo đối tượng người học Chiến lược dạy học phân hoá đòi hỏi giáo viên phải "làm rõ mục đích học tập" bắt nguồn từ các tiêu chuẩn về nội dung, nhưng được thực hiện một cách khéo léo để đảm bảo mọi học sinh đều tham gia và hiểu bài" Bản chất của quá trình dạy học phân hoá là điều chỉnh nội dung kiến thức để đáp ứng nhu cầu, khả năng, kinh nghiệm của người học Ứng dụng một cách khéo léo dạy học phân hoá, người dạy sẽ có nhiều cách thức khác nhau để giúp người học đạt được mục tiêu

Với hình thức dạy học phân hóa, giáo viên lên kế hoạch và bài giảng sao cho tích hợp nhiều chiến lược giảng dạy nhất có thể, nhằm công nhận các điểm khác biệt của học sinh trong lớp Dạy học phân hóa bao gồm các việc: Điều chỉnh nội dung để đáp ứng năng lực, kinh nghiệm, và mối quan tâm của học sinh; Đưa ra nhiều cách thức khác nhau để đạt được mục tiêu bài học; Cho phép học sinh được chứng minh hiểu biết của mình theo nhiều cách có ý nghĩa; Cho phép tồn tại sự đa dạng trong môi trường học tập dựa vào nhu cầu của từng học sinh; Không đòi hỏi giáo viên phải xây dựng kế hoạch giảng dạy riêng cho từng học sinh Thay vào đó, phương pháp này đòi hỏi giáo viên tìm kiếm các kiểu nhu cầu và sau đó phân nhóm học sinh có nhu cầu hoặc sở thích tương tự để giáo viên có thể đáp ứng nhu cầu của từng nhóm

Như vậy ta có thể kết luận: Dạy học phân hoá là quan điểm dạy học đòi hỏi

Trang 38

29

phải có tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, sở thích, nhu cầu, các điều kiện học tập nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhất và sự phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằng trong giáo dục

Phương pháp dạy học theo hướng tích cực này sẽ giúp tất cả học sinh có thể huy động mọi khả năng Toán học của mình để HS tự tìm tòi, khám phá ra những nội dung mới của bài học Ngoài ra còn giúp phân hoá HS theo trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm HS tạo điều kiện và phương tiện hoạt động

để HS có thể tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề; tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch hợp lý giải quyết vấn đề Từ đó các em có thể tập trung cố gắng để phát triển năng lực, sở trường của mỗi em, tạo cho mỗi em có niềm tin và niềm vui trong việc học Toán

1.4.1.4 Quản lý việc đánh giá năng lực Toán học cụ thể của từng học sinh dựa trên các công cụ và phương pháp đánh giá đổi mới

PISA là chương trình đánh giá học sinh quốc tế về khả năng hiểu biết Toán học của học sinh đang được quan tâm hiện nay Tham gia PISA là một bước tiến tích cực trong việc hội nhập quốc tế về giáo dục nước ta Những dữ liệu thu thập được (ở quy mô lớn, độ tin cậy cao) từ PISA giúp cho chúng ta có cơ sở để "so sánh" mặt bằng giáo dục quốc gia với giáo dục quốc tế, biết được những điểm mạnh, điểm yếu của nền giáo dục nước nhà

Trước khi tìm hiểu về cách đánh giá năng lực Toán học của PISA ta phải hiểu cách xác định năng lực Toán học của mỗi học sinh

Theo các chuyên gia OECD/PISA định nghĩa: Hiểu biết Toán học là năng lực của một cá nhân cho phép xác định và hiểu vai trò của Toán học trong cuộc sống đưa ra những phán xét có cơ sở và gắn kết với Toán học theo những cách khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của cá nhân với tư cách là một công dân có tinh thần xây dựng, biết quan tâm và biết phản ánh Nghĩa là HS có thể sáng tạo những kiến thức và kỹ năng Toán học , có khả năng áp dụng Toán học vào thực tế cuộc sống Thông qua kiến thức nền tảng, HS có thể giải quyết các vấn đề tình

Trang 39

30

huống, yêu cầu thực tế Đối với việc đánh giá năng lực Toán học của học sinh THPT chúng ta còn phải tính đến những đặc điểm liên quan tới đối tượng này Khung này phân biệt giữa các nội dung bao quát, quan trọng đối với năng lực Toán học của từng cá nhân nói chung và các chủ đề nội dung cụ thể phù hợp với học sinh tuổi THPT

Phương pháp đánh giá đổi mới so với trước đây là thay vì kiểm tra kiến thức, kỹ năng giải bài tập mà PISA còn quan tâm đánh giá khả năng ứng xử hay giải quyết vấn đề của các em khi gặp một bài toán thực tế PISA đánh giá tập trung vào các vấn đề thường gặp trong thế giới thực, di chuyển vượt ra ngoài các loại tình huống và các vấn đề thường gặp trong các lớp học của nhà trường Một trong những đánh giá quan trọng của PISA về Toán học là: Năng lực Toán học phổ thông

"Năng lực Toán học phổ thông (Mathematical) là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức Toán học trong cuộc sống; vận dụng và phát triển tư duy Toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt; là khả năng phân tích suy luận, lập luận , khái quát hoá, trao đổi thông tin hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn

đề Toán học trong các tình huống, hoà cảnh khác nhau, trong đó chú trọng quy trình, kiến thức và hoạt động" [tr84, PISA và các dạng câu hỏi]

Năng lực Toán học phổ thông không đồng nhất với khả năng tiếp cận nội dung của chương trình toán trong nhà trường phổ thông truyền thống, mà điều cần nhấn mạnh đó là kiến thức Toán học được học, vận dụng và phát triển như thế nào

để tăng cường khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hoá và phát hiện được những tri trức Toán học ẩn dấu bên trong các tình huống, các sự kiện

Theo PISA và các dạng câu hỏi do OECD phát hành lĩnh vực Toán học ta cócác mức độ (Levels) đánh giá năng lực Toán học :

Trang 40

Ở trình độ 6, học sinh biết cách khái niệm hoá, khái quát hoá và

sử dụng thông tin dựa vào việc các em tìm hiểu và mô phỏng những tình huống phức tạp Các em biết kết nối nhiều nguồn thông tin, trình bày và diễn giải linh hoạt thông tin Ở trình độ này học sinh có khả năng suy nghĩ và suy luận Toán học cao cấp Các em có khả năng áp dụng nhận thức và hiểu biết việc

am hiểu các ký hiệu, công thức và mối quan hệ Toán học để xây dựng nhiều phương pháp tiếp cận và chiến lược mới trong việc giải quyết nhiều tình huống lạ

Ở trình độ 5 học sinh biết phát triển và làm việc với các mô hình tình huống phức tạp, xác định khó khăn và nêu phương án giải quyết Các em có thể lựa chọn, so sánh và đánh giá các chiến lược phù hợp giải quyết vấn đề để xử lý nhiều vấn đề phức tạp liên quan tới các mô hình này Ở trình độ này, học sinh biết làm việc có kế hoạch sử dụng suy nghĩ tư duy phát triển và kỹ năng suy luận tốt, trình bày có sự liên kết phù hợp, các đặc điểm biểu trưng và chính thức, có tư duy sâu sắc đối với những tình huống này Các em biết suy ngẫm về hành động, xây dựng thuyết trình và giải thích lý luận

Ở trình độ 4, học sinh biết làm việc hiệu quả với các mô hình

cụ thể về những tình huống phức tạp cụ thể có thể liên quan tới khó khăn hạn chế hoặc nêu lên giả định Các em biết chọn lọc

và tích hợp các phần trình bày, gồm có trình bày ký hiệu, liên kết trực tiếp chúng với các khía cạnh trong tình huống thực tế

Ở trình độ này,học sinh biết sử dụng kỹ năng toàn diện và suy luận hợp lý,cùng với tư duy theo bối cảnh Các em biết xây dựng và giải thích cũng như biện luận dựa vào sự diễn giải, lý luận và hành động của mình

Ngày đăng: 20/03/2019, 23:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm