ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BÙI THỊ TUYẾT NHUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 LUẬN VĂ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ TUYẾT NHUNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH
QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ TUYẾT NHUNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH
QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 8140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Khánh Thành
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu của bản thân là sự tận tình giảng dạy, hướng dẫn của các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại Học Quốc gia Hà Nội Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và cán bộ viên chức của trường Đại học Giáo dục - Đại Học Quốc gia Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bản thân được học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Trần Khánh Thành, người đã đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp trường Phổ thông song ngữ liên cấp Wellspring – Long Biên, trường THPT Quang Trung – Đống Đa đã động viên, cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểm chứng kết quả nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị Tuyết Nhung
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Khái niệm tích hợp 9
1.1.2 Tổng quan về dạy học tích hợp 10
1.1.3 Giá trị sống 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học tích hợp trong nhà trường hiện nay 21 1.2.2 Thực trạng việc tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua bộ môn Ngữ văn 27
1.2.3 Khảo sát thực trạng giáo viên đã áp dụng tích hợp giáo dục các giá trị sống qua các giờ Văn 31
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 41
2.1 Những giá trị sống quan trọng cần giáo dục cho học sinh 41
2.1.1 Hòa bình 41
2.1.2 Tôn trọng 41
2.1.3 Hợp tác 42
2.1.4 Trách nhiệm 42
2.1.5 Trung thực 42
2.1.6 Khiêm tốn 43
Trang 52.1.7 Giản dị 43
2.1.8 Khoan dung 43
2.1.9 Đoàn kết 43
2.1.10 Tình yêu thương 44
2.1.11 Tự do 44
2.1.12 Hạnh phúc 44
2.2 Các hình thức có thể tích hợp giáo dục giá trị sống trong giờ Văn 45
2.2.1 Trong tiết dạy hướng dẫn đọc - hiểu văn bản 46
2.2.2 Khi củng cố nội dung bài học 46
2.2.3 Ra bài tập về nhà 46
2.2.4 Trong kiểm tra, đánh giá 47
2.3 Xác định địa chỉ tích hợp gắn với các nội dung tích hợp cụ thể trong dạy học truyện ngắn 47
2.4 Phương pháp dạy học để tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam 55
2.4.1 Nguyên tắc đề xuất phương pháp 55
2.4.2 Những PPDH đã áp dụng để tích hợp GDGTS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 57
2.4.3 Ứng dụng các PPDH trong một số tác phẩm, đoạn trích cụ thể 64
Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích thực nghiệm 76
3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 76
3.3 Yêu cầu thực nghiệm 77
3.4 Đối tượng, không gian và thời gian thực nghiệm 77
3.4.1 Đối tượng 77
3.4.2 Không gian và thời gian thực nghiệm 77
3.5 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 77
3.5.1 Chuẩn bị thực nghiệm 77
Trang 63.5.2 Tiến hành thực nghiệm 78
3.6 Giáo án thực nghiệm 80
3.7 Tiến trình thực nghiệm 95
3.8 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 96
3.9 Kết quả thực nghiệm 96
3.9.1 Đánh giá qua quan sát giờ học 96
3.9.2 Đánh giá qua phiếu điều tra 98
3.9.3 Đánh giá qua bài làm của học sinh 100
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNTT Công nghệ thông tin
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Đánh giá thực trạng chung về Dạy học tích hợp ở trường PT 23
Bảng 1.2 Nhận thức của GV về ý nghĩa của việc GDGTS trong môn Ngữ văn 34 Bảng 1.3 Thực trạng DHTH về GDGTS trong môn Ngữ văn của GV 36
Bảng 1.4 Đánh giá hiệu quả những giờ học văn có tích hợp GDGTS 38
Bảng 3.1: Tổng kết bảng điểm (80 học sinh) 100
Bảng 3.2: Phân loại kết quả 101
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, khoa học công nghệ, thông tin phát triển như vũ bão Vấn đề này ít nhiều có ảnh hưởng, tác động lớn đến mọi mặt của đời sống, xã hội Một số chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, quy tắc sống đang có chiều hướng bị thay đổi theo chiều hướng không tích cực, nhất là ở thế hệ trẻ trong lứa tuổi học đường Những năm gần đây, giáo dục phổ thông (GDPT) ở nước ta đã và đang thay đổi mạnh mẽ Mục tiêu của giáo dục (GD) chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho học sinh (HS) theo hướng bám sát bốn trụ cột của GD thế
giới thế kỷ XXI: Học để biết, học để làm, học để khẳng định mình và học để
cùng chung sống Từ năm 2008, phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ GD&ĐT đề ra cũng đã xác định rõ một
trong năm nội dung cơ bản của phong trào này là rèn luyện kĩ năng sống cho
HS Trong thực tế triển khai phong trào, chúng ta thấy rằng việc rèn luyện kĩ năng sống luôn phải gắn bó mật thiết với việc xác định giá trị sống Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ không đạt hiệu quả nếu chúng ta không quan tâm đến giáo dục giá trị sống (GDGTS) Theo nhiều chuyên gia, việc giáo dục kĩ năng sống hiện nay ở trong nhà trường và ngoài xã hội rất dễ dẫn đến việc kém hiệu quả hoặc sai lệch vì không được dựa trên nền tảng của GDGTS Có thể nói một cách hình ảnh rằng: giá trị sống được coi là gốc còn kĩ năng sống là ngọn Nên dạy về giá trị sống là dạy cái gốc rễ của cuộc sống, góp phần quan trọng tới quá trình hình thành nhân cách và bồi dưỡng tâm hồn con người
Giá trị sống của mỗi cá nhân không tự nhiên có mà được hình thành từ quá trình nhận thức và trải nghiệm của mỗi người Tuy nhiên, giá trị sống không phải là tri thức để có thể truyền tải theo cách thông thường Thậm chí GDGTS bằng lời khuyên, sự thuyết giảng đạo đức…thường không đem lại kết quả GDGTS chỉ thực sự hiệu quả khi chính bản thân HS được trải nghiệm
Trang 10thực tế, trải nghiệm cảm xúc,…dẫn đến thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi Điều này cho thấy “thế mạnh” của các môn khoa học xã hội (KHXH), nhất là môn Ngữ văn trong việc tích hợp GDGTS cho HS Thông qua việc phân tích, tìm hiểu tác phẩm văn học, các em được bồi dưỡng những giá trị Chân –Thiện -
Mỹ Ai cũng có thể nhận thấy chức năng đặc thù của văn học là bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách, trang bị những cảm xúc nhân văn, làm giàu hơn đời sống tinh thần của con người Qua văn học, con người được “thanh lọc” ít nhiều sẽ trở nên tốt hơn, nhân ái hơn, có điều kiện để suy ngẫm, chiêm nghiệm về những giá trị nhân bản như cái đẹp, tình yêu thương, hạnh phúc…Ngoài chức năng là môn học công cụ, môn Ngữ văn góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp của học sinh Người GV dạy Văn ngoài việc hướng dẫn HS tìm hiểu giá trị của tác phẩm về nội dung, nghệ thuật còn phải biết tích hợp những giá trị sống để định hướng các em có những tình cảm cao đẹp, chân chính để thực hiện được nhiệm vụ cao quý của môn học Chúng tôi thiết nghĩ, giáo dục cho giới trẻ nói chung, HS nói riêng nhận thức được ý nghĩa của những giá trị sống là việc cần thiết và rất quan trọng
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông (PT), chúng tôi nhận thấy việc GDGTS cho HS trung học phổ thông (THPT) là việc cần thiết và cấp thiết bởi có không ít HS có biểu hiện xuống cấp về đạo đức với những biểu hiện cụ thể như: sống buông thả, thờ ơ, thiếu trách nhiệm, có
xu hướng bạo lực, ứng xử thiếu văn hóa…mà theo chúng tôi nguyên nhân chính là do các em thiếu hụt những giá trị sống cơ bản
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12”
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các nghiên cứu về lí thuyết tích hợp
Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng…thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để
Trang 11giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng; phát triển được năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau Với những ý nghĩa thiết thực đó, dạy học tích hợp đã và
đang trở thành một xu thế chung của GD thế giới
2.1.1 Ở một số nước, đã có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu về
vấn đề này được công bố như: Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học
diễn ra vào tháng 9/1968, tại Varna (Bungari) do Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức, với sự bảo trợ của UNESCO Hội nghị đặt ra 2 vấn đề: Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học? và Dạy học tích hợp các khoa học là gì? Theo đó, dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc
quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” Định nghĩa của
UNESCO cho thấy dạy học tích hợp (DHTH) xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở HS những năng lực trình độ cao, đáp ứng yêu cầu
của xã hội Bên cạnh đó, cuốn sách Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào
để phát triển các năng lực ở nhà trường của Xavier Roegierf do Đào Trọng
Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch đã ra đời dựa trên nền tảng từ những vấn đề
đặt ra về dạy học tích hợp trong Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa
học nêu trên Qua cuốn sách, tác giả đã đưa ra định nghĩa và mục tiêu của
khoa sư phạm tích hợp; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình, việc đánh giá những kiến thức HS lĩnh hội và ảnh hưởng đối với việc biên soạn sách giáo khoa (SGK) Điều đó đã mang lại những giá trị lớn lao về
lý luận, giúp chúng ta hiểu được bản chất, nội dung căn bản nhất của tích hợp cũng như tầm ảnh hưởng quan trọng của vấn đề tích hợp đối với chương trình SGK và nội dung kiến thức mà HS lĩnh hội Ngoài ra, quan điểm tích hợp
Trang 12trong GD cũng đã được ứng dụng thể hiện khá rõ trong SGK của một số nước như: Trung Quốc, Pháp, Malaysia, Đức, Úc…Điểm chung trong cách cấu tạo một bài học được đưa vào SGK ở những quốc gia trên đều thống nhất ở chỗ: Mỗi bài học đều bắt đầu bằng việc cung cấp một văn bản theo cụm thể loại hoặc phương thức biểu đạt Tiếp đó phần hướng dẫn đọc và giải thích văn bản không chỉ yêu cầu HS tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật của văn bản mà còn khai thác các đơn vị ngôn ngữ và kiểu loại của các văn bản đó; phần luyện tập hướng dẫn HS rèn luyện tổng hợp các kiến thức và kỹ năng được giới thiệu
trong bài học Ví dụ, trong cuốn Văn học và thực hành tiếng Pháp lớp 9, mỗi bài học được sắp xếp theo một bố cục thống nhất: Đầu tiên là bài khóa được
lựa chọn theo mục đích phân tích hay soạn thảo nội dung đã nêu rõ trong tiêu
đề của bài; bài khóa chứa các yếu tố sẽ là cơ sở để tiến hành phân tích Tiếp
đó, phần định hướng chỉ ra những trường từ vựng hoặc những từ ngữ chứa
đựng chủ đề của bài khóa, những câu văn, đoạn văn cần nắm vững để hiểu nội dung ý nghĩa của bài…
2.1.2 Trong khi ở nhiều nước trên thế giới, bằng những nỗ lực vượt bậc họ đã nghiên cứu và đạt nhiều thành tựu quan trọng về vấn đề tích hợp thì
ở Việt Nam mới chỉ có những bước đi ban đầu Trước đây, việc giảng dạy tích hợp được thực hiện ở mức độ đơn giản như phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều môn học, nhiều lĩnh vực lại với nhau để cùng giải quyết một vấn đề trong quá trình giảng dạy thì từ những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây, vấn đề này mới thực sự được nhiều người quan tâm, nghiên cứu rồi ứng dụng vào thực tế ở các trường phổ thông Lý thuyết về dạy học tích hợp cũng
đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó phải kể đến những công
trình như: Dạy học tích hợp của Trần Bá Hoành, Thiết kế dạy học Ngữ văn
THCS theo hướng tích hợp của Trương Dĩnh, Bài tập rèn luyện kĩ năng tích hợp Ngữ văn THCS của Nguyễn Thanh Hùng, Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt của Nguyễn Thanh Hùng, Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THCS của Đoàn Thị Kim Nhung, Dạy học Tiếng Việt 10 THPT ban cơ
Trang 13bản theo hướng tích hợp của Lưu Quỳnh Nga, Luận án Hệ thống đề kiểm tra nhằm đánh giá năng lực Ngữ văn THCS theo yêu cầu tích hợp của Nguyễn
Thị Hồng Vân
Ngoài ra còn một số bài báo bàn về quan điểm tích hợp trong môn Ngữ văn và dạy học Ngữ văn: bài viết của Trần Bá Hoành, Nguyễn Thanh Hùng,
Đỗ Chu Ngọc, Nguyễn Khắc Phi, Vũ Thị Sơn, Phan Trọng Luận, Trần Đình
Sử, một số tài liệu về định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục 2017
theo hướng tích hợp, tài liệu cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho
giáo viên trung học do Bộ GD&ĐT phát động
2.2 Các nghiên cứu về vấn đề giáo dục giá trị sống
Đối với lịch sử phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, các giá trị bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng cho hướng phát triển đi lên của cả xã hội Lịch sử đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, quá trình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những con người Việt Nam với nhiều phẩm chất đáng quý: giàu lòng yêu nước thương dân, yêu quý thiên nhiên, trân trọng con người, lạc quan, anh dũng, kiên cường, bất khuất Những đức tính đó đã trở thành nét đẹp trong văn hóa truyền thống được lưu truyền mà hàng ngàn đời nay thế hệ sau tiếp nối thế hệ
trước cùng nhau nâng niu, giữ gìn
Ở Việt Nam, vấn đề GDGTS còn khá mới mẻ Tuy nhiên, như đã nói ở
trên, GDGTS cho người học là một trong những vấn đề có tính cấp bách của
thời đại Vì thế, việc đưa nội dung này vào GD trong các nhà trường PT đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bộ GD&ĐT, cũng như các nhà nghiên cứu tâm lý, giáo dục học và các lực lượng GD trong toàn xã hội Một trong
những công trình nghiên cứu về vấn đề này là công trình Giá trị - định hướng
giá trị nhân đạo và cách giáo dục giá trị thuộc đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Nhà nước do Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ, toàn diện hệ thống các thang bậc, sự hình thành định hướng giá trị nhân cách cũng như quá trình
Trang 14giáo dục giá trị Trong cuốn Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học nghệ thuật
hiện nay của Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2015 cũng đề cập tới vấn đề này
qua những bài viết cụ thể của nhiều tác giả như: Lòng yêu nước – một giá trị đạo
đức, một hằng số văn hóa trong văn học dân tộc của Trần Hoài Anh hay bài viết Nhà văn với đạo đức xã hội thời kinh tế thị trường của Vũ Nho Ngoài ra, trên các
tạp chí vấn đề GDGTS cũng trở thành đề tài nhận được sự quan tâm của nhiều tác
giả: Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên của Đinh Thế Đinh, tạp chí Giáo dục, số 1, 2005; Giáo dục giá trị của Tác giả Phạm Minh Hạc, tạp chí
nghiên cứu con người, số 37, 2008 v.v
Giá trị sống được coi là gốc còn kĩ năng sống là ngọn Mỗi con người, nếu được trang bị những kiến thức hiểu biết sâu sắc về giá trị sống chắc chắn
sẽ có được những kĩ năng sống tốt, có thể thích ứng được với mọi hoàn cảnh
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thanh Bình một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kĩ năng sống Tác giả có nhiều bài báo, đề tài khoa học cấp Bộ, giáo trình bàn về kĩ
năng sống như: Giáo dục kĩ năng sống (Chuyên đề cao học, ĐHSP Hà Nội),
Giáo dục kĩ năng sống (Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sư phạm,
NXB Đại học Sư phạm Hà Nội), Những nghiên cứu và thực hiện chương
trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam (Viện Chiến lược và Chương trình
giáo dục, Hà Nội) Với những công trình nghiên cứu này tác giả Nguyễn Thanh Bình đã trình bày được rõ những lý luận cốt lõi về kĩ năng sống như khái niệm, các loại kĩ năng sống để từ đó trình bày khái quát được các phương pháp, cách thức giáo dục kĩ năng sống Những công trình này góp phần đáng
kể, mở ra hướng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Đức Thạc trong tạp chí giáo dục số 81/2004 cũng đã đề
cập đến việc Rèn luyện kĩ năng sống một hướng tiếp cận mới về chất lượng
giáo dục đào tạo Tác giả đã khẳng định việc rèn kĩ năng sống là một hướng
tiếp cận mới, đó cũng là hướng để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nói chung cho HS
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các phương pháp tích hợp GDGTS cho HS THPT qua dạy học một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12 nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện, góp phần GD nhân cách cho người học, đáp ứng yêu cầu xã hội và mục tiêu đổi mới GD toàn diện của đất nước trong thời kì hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến việc tích hợp GD các giá trị sống cho HS THPT qua dạy học một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp12
- Đề xuất các giải pháp tích hợp GDGTS cho HS THPT qua dạy học một
số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các phương pháp nhằm tích hợp GDGTS cho HS THPT qua dạy học một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12
- Khảo sát được tiến hành trên phạm vi trường Quốc tế Wellspring, HS lớp 12B1, 12B2
- Một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam lớp 12 trong chương trình
chuẩn như: Vợ nhặt (Kim Lân), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu),
6 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được trình bày trong 3 chương:
Trang 16Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Biện pháp tích hợp GDGTS cho HS qua dạy học một số tác
phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh:
integration với nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên
cơ sở những bộ phận riêng lẻ
Theo Từ điển Anh - Anh (Oxford Advanced Learner's Dictionany), từ
integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một
tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhƣng thích hợp
với nhau Từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang
Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), thì nêu chung nghĩa của từ integration có hai khía cạnh: Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ; Trạng thái mà trong
đó có cái chung, cái toàn thể đƣợc tạo ra từ những cái riêng lẻ Còn theo Từ
điển tiếng Việt thông dụng của Trung tâm từ điển học nghiên cứu thì giải
thích: “Tích hợp có nghĩa là lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ thống
để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [35, 813]
Nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập lại quan niệm: “Dạy học tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học đƣợc ở môn học này, phần này của môn học đƣợc sử dụng nhƣ những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn
học khác, trong các phần khác của cùng một môn học” (Bài giảng phương
pháp dạy học sinh học ở trường THPT Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007)
Trang 18Từ những cách giải thích trên, có thể thấy hai tính chất cơ bản của tích hợp, liên hệ mật thiết, quy định lẫn nhau: Tính liên kết có thể tạo nên một thực thể toàn vẹn trong đó không cần phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hoặc giải quyết một vấn đề
Như vậy, tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập, sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy
1.1.2 Tổng quan về dạy học tích hợp
Trong lịch sử phát triển khoa học của nhân loại, song song với việc phân hóa sâu sắc người ta cũng hướng tới sự tích hợp chặt chẽ với sự ra đời của các khoa học liên ngành, đa ngành Ở lĩnh vực khoa học giáo dục, khái niệm dạy học tích hợp (DHTH) xuất hiện từ thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVIII) dùng để chỉ một quan điểm lý luận GD toàn diện con người, hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Ngày nay, dạy học tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình đã trở thành xu thế phát triển GD trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua
1.1.2.1 Khái niệm dạy học tích hợp
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ 400 năm nay) thành một “môn học” mới Ví dụ môn Khoa học (science) được hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp của các môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học; môn Nghiên cứu xã hội được
Trang 19hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp của các môn thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội (KHXH): Lịch sử, Địa lý, Xã hội học, Kinh tế học Tích hợp cũng có thể là lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường, an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội…xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường PT và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong GD và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn Ở nhiều nước trong khu vực Châu
Á và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định
Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trong một số môn ở trường tiểu học như môn Cách trí, sau đổi thành môn Khoa học thưởng thức Môn học này còn được dạy một số năm ở trường cấp I của miền Bắc nước ta Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu
Tự nhiên và xã hội” theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết kế để đưa vào dạy học ở trường cấp I từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình năm 2000 đã được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong chương trình và SGK cùng các hoạt động dạy học
ở tiểu học Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều GV Một
số đã có nhận thức ban đầu nhưng còn hạn chế về kĩ năng vận dụng Tích hợp
là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong GV Hiểu đúng và làm đúng quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong một thể thống nhất
Trang 20DHTH là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo
để mỗi HS biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các
hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực DHTH đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này HS có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với các em
Như vậy, thực hiện DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai của đất nước
1.1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học tích hợp
Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống Trước hết phải thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại thành của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp Mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau DHTH trong nhà trường nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cũng có nghĩa là đảm
bảo để mỗi HS biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào
các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ Qua đó, giúp các em trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại
DHTH đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này HS có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý
Trang 21nghĩa đối với các em Với cách hiểu như vậy, DHTH phải được thể hiện ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học (PPDH), phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổ chức dạy học Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập như cũ
và giảng dạy như cũ theo chương trình và SGK gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới dạy học cần phải đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, giáo dục pháp luật, phòng chống ma túy, giáo dục sức khỏe, an toàn giao thông…, nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học lên được Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm vụ GD nhiều mặt cho HS mà không quá tải
Thực tế ở một số trường PT cho thấy, các bài soạn của GV để dạy học theo hướng tích hợp đã giúp cho các thầy cô tiếp cận tốt nhất với chương trình
và SGK mới Bài dạy linh hoạt, HS học được nhiều, được chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kĩ năng Muốn tiến hành có hiệu quả, cần phải chú trọng đến việc bồi dưỡng GV Các thầy cô phải hiểu được thế nào là tích hợp, phải nghiên cứu chương trình, tài liệu xem nó dựa trên môn khoa học xác định nào, có thể mở rộng quan hệ tương tác với các khoa học khác như thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra sao? Từ thực tiễn GD ở các cấp học
ở nhiều nước và Việt Nam cho thấy, dạy học theo hướng tích hợp là xu thế
mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Các GV khi đã quen với cách DHTH thì việc xử
lí các tình huống GD trở nên linh hoạt, mềm dẻo góp phần đổi mới nội dung
và PPDH theo hướng tích cực hơn Bên cạnh đó, dạy học theo hướng tích hợp kiến thức mà thầy cô truyền tải sẽ sâu sắc hơn, khái quát và thiết thực gần gũi hơn đối với HS góp phần đắc lực trong việc phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Như vậy, thực hiện DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia
Trang 22đình, người công dân, người lao động tương lai Đồng thời, DHTH cũng là một cách để thầy cô trau dồi thêm kiến thức, rèn luyện nhuần nhuyễn hơn kĩ năng, PPDH tất cả đều hướng tới một mục tiêu chung đó là để nâng cao chất lượng đào tạo GD, đào tạo ra những con người đủ đức, đủ tài, có trí tuệ, có kĩ năng tốt có thể đáp ứng được những yêu cầu của đất nước và thích ứng được với nhân loại trong thời kì hiện đại
1.1.2.3 Các mức độ tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông
Nhiều nhà khoa học đã thống nhất và phân chia các mức độ tích hợp theo thang tăng dần như sơ đồ dưới đây:
Truyền thống (traditional)
Từng môn học được giảng dạy, xem xét riêng rẽ, biệt lập, không có bất
kì sự liên hệ, kết nối nào giống như chụp ảnh cận cảnh từng đoạn-một hướng, một cách nhìn, sự tập trung hạn hẹp vào một môn riêng rẽ Ví dụ: GV áp dụng quan điểm này trong giảng dạy từng môn như Toán, Khoa học, nghiên cứu xã hội, nghệ thuật, ngôn ngữ một cách riêng biệt, chỉ trong khuôn khổ kiến thức của môn học mình dạy Các vấn đề được giải quyết chỉ trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó
Kết hợp/lồng ghép (fusion)
Một nội dung nào đó được kết hợp vào chương trình đã có sẵn Ví dụ, ở một trường THPT của bang Illinois (Mỹ) đã kết hợp các nghiên cứu về toàn cầu hóa vào trong chương trình của nhà trường Điều này sẽ giúp cho HS hiểu sâu hơn các vấn đề của thế giới từ nhiều góc nhìn khác nhau Hoặc ở một trường học khác của bang New Jersey, nhà trường cho rằng các yếu tố xã hội
và xúc cảm là những yếu tố quan trọng nhất đối với đời sống của đứa trẻ
Trang 23Chính vì thế, ở từng khía cạnh nhận thức của nhà trường được thiết kế để chỉ
rõ cho HS biết là người lớn quan tâm đến chúng Nhà trường đã sử dụng chương trình học về xã hội và xúc cảm để hướng dẫn sự kết hợp Hiệu trưởng chỉ đạo các cuộc họp với cha mẹ, với HS và GV để thảo luận và cam kết thực hiện chương trình trên Từng HS được cảm nhận và trải nghiệm chương trình
đó hàng ngày Các em sẽ bắt đầu một ngày với công việc dành cho phát triển cộng đồng Chúng thuộc về các tổ/nhóm và có cơ hội tiếp cận với tổ nhóm
GV của mình càng nhiều càng tốt Cha mẹ được khuyến khích tham gia như
là những đối tác và có một Trung tâm cha mẹ trong nhà trường Có chương trình truyền hình phục vụ cộng đồng là sản phẩm của HS được phát hàng ngày, trong đó nói về những tin tức của HS và những điểm nóng phục vụ công cộng Những điểm nóng này được rút ra từ chính những nghiên cứu của các em và nội dung thường tác động đến những chủ đề hình thành nhân cách người học, đạo đức lối sống
Hoặc như ở nước ta, trong nhiều năm qua đã kết hợp, lồng ghép các chủ đề về dân số, môi trường, an toàn giao thông, sức khỏe sinh sản, kĩ năng sống vào các lĩnh vực môn học như Địa lý, Sinh học, giáo dục đạo đức và công dân
Tích hợp trong một môn học
Tích hợp trong nội bộ môn học Tích hợp những nội dung của các phân môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định Ví dụ: Tích hợp nội dung của hóa học vô cơ, hóa học hữu cơ trong nội dung của chương Hóa học và các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường; tích hợp giữa các phân môn Đại số, Hình học và Lượng giác trong môn Toán tại một số thời điểm Chẳng hạn như: ứng dụng lượng giác trong hình học (khi tính diện tích, thể tích); ứng dụng lượng giác trong đại số, như biến đổi, chứng minh một số bất đẳng thức; ý nghĩa hình học và
cơ học của đạo hàm
Trang 24 Đa môn (multidisciplinary)
Ở đây các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung Có thể sơ đồ hóa như sau:
Khi HS học/nghiên cứu về một vấn đề nào đó các em đồng thời được tiếp cận từ nhiều bộ môn khác nhau Ví dụ, khi HS học/nghiên cứu về cuộc nội chiến của Mỹ ở môn Lịch sử và đồng thời các em được đọc câu chuyện về Biểu hiện của lòng dũng cảm ở môn Tiếng Anh Chủ đề Nội chiến có thể có ở
môn nghệ thuật, âm nhạc và các môn học khác Đôi khi được gọi là Chương
trình song song Cùng một vấn đề được dạy ở nhiều môn cùng một lúc
Từ cách tiếp cận đa môn này, GV không cần phải thay đổi nhiều lắm nội dung giảng dạy bộ môn của mình Nội dung và đánh giá vẫn nguyên theo
bộ môn Chỉ có HS được mong đợi là tạo ra những kết nối giữa các lĩnh vực
bộ môn, tức là các em sẽ giải quyết vấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộ môn khác nhau Đôi khi cách tiếp cận đa môn đã tạo ra những liên kết rất mạnh và khi đó thì những ngăn cách bộ môn bị mờ đi và chương trình chuyển sang lãnh địa liên môn (interdisciplinary)
Liên môn (interdisciplinary)
Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung
Trang 25Chương trình liên môn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề/vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt Sơ đồ sau chỉ rõ tiếp cận liên môn:
Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thành môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học Thí dụ: môn Lí-Hoá, Sử-Địa, Sinh-Địa chất, Hoá-Địa Ví dụ: chương trình và SGK các môn Khoa học của Pháp gồm: môn Lí - Hoá; môn Sinh-Địa chất (hoặc Khoa học về Trái đất)
Xuyên môn (transdisciplinary)
Cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với HS
mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới khác với môn học truyền thống Cách tiếp cận này bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực (real-life context) Nó không bắt đầu bằng môn học hay bằng những khái niệm hoặc kĩ năng chung Điều quan tâm nhất
ở đây là sự phù hợp đối với HS Điểm khác duy nhất so với liên môn là ở chỗ chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của HS Ví dụ, một trường Quốc tế của Mỹ có 460 HS ở bang Texas có mục đích là cung cấp cho
HS những kiến thức và kĩ năng khoa học để làm việc trong ngữ cảnh toàn cầu hóa và "làm thay đổi thế giới" Nhà trường đã đưa ra một chương trình học tích hợp phong phú HS lựa chọn vấn đề quốc tế và tiến hành thu thập nghiên cứu, chuẩn bị trang web thông tin, thiết kế và thực hiện dự án nghiên cứu -
Trang 26phục vụ và trình bày kết quả của mình trước một Hội đồng những người am hiểu của cộng đồng Các chủ đề đa dạng có thể là tình trạng vô gia cư hay lạm dụng chất gây nghiện ở trẻ vị thành niên Một vài phương pháp giảng dạy mang tính truyền thống Tuy nhiên, tất cả HS phải đi thám hiểm Mỗi nhóm/lớp phải tham quan trực tiếp một nơi nào đó để học/nghiên cứu về vấn
đề quốc tế Ví dụ, như người mới vào nghề, các em đến nhà ga Quốc tế Heifer
ở Arkansas và sống ở đó 4 ngày để trải nghiệm những thách thức về nhu cầu kinh tế và học về sự phát triển bền vững
Nói tóm lại, DHTH là một khái niệm còn tương đối mới, đang được cụ thể hóa ở nhiều cấp độ khác nhau trong các chương trình giáo dục Tùy theo vấn đề, nội dung cũng như nhu cầu thực tế và trình độ của GV mà mức độ tích hợp trong giảng dạy là khác nhau Tích hợp như thế nào trong chương trình để tránh sự lồng ghép "cơ học", để tiếp cận vấn đề được tự nhiên đòi hỏi phải có sự nghiên cứu công phu và khoa học
1.1.3 Giá trị sống
1.1.3.1 Khái niệm giá trị sống
Hiểu một cách đơn giản thì giá trị là cái mà con người dùng làm cơ sở xem xét một vật có ích lợi như thế nào đối với con người; cái mà người ta dựa vào chúng để xem xét một người đáng quí đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng; những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của
xã hội
Còn theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội), giá trị là cái mà
con người dùng làm cơ sở để xem xét một vật có ích lợi đến mức nào đối với con người; cái mà con người dùng để xem xét một người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng; những quan niệm và thực tại về cái đẹp,
sự thật, điều thiện của xã hội; tính chất quy ra được thành tiền của một vật trong quan hệ buôn bán, đổi chác… Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội Giá trị trong Đạo
Trang 27đức học gắn với các khái niệm như: cái thiện, cái ác, sự bình đẳng, lòng bác
ái Dưới góc độ Tâm lý học, giá trị được nghiên cứu để tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo phát triển nhân cách Ở mỗi lĩnh vực như xã hội, đạo đức, tâm lí học, giá trị được xem xét ở những góc độ cụ thể, song theo cách nghĩ chung nhất thì giá trị là cái làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý với chủ thể, được mọi người thừa nhận
Như vậy giá trị sống là những điều mà mọi người cho là tốt, là quan trọng, cần phải có, cần phải vươn tới Giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của con người GDGTS có ý nghĩa tạo ra động lực thúc đẩy con người phát triển nhân cách; giúp con người hướng tới chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân với cộng đồng, tự nhiên
1.1.3.2 Những giá trị sống cơ bản
Vì giá trị sống là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có
ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người nên giá trị sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó Có những giá trị sống đích thực, trở thành những giá trị chung cho nhiều người và toàn XH như lòng trung thực, hoà bình, tôn trọng, yêu thương, công bằng, tình bằng hữu, lòng vị tha
Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau Có người cho rằng "tiền bạc là trên hết”, có người cho danh vọng là thước đo giá trị, có người lại cho rằng nhàn hạ là giá trị cuộc sống trong khi những người khác cho rằng tình yêu thương mới là điều quý giá nhất trên đời Có người coi trọng lòng trung thực, sự bình yên… Chính vì vậy cho nên việc học tập để nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống
là điều thực sự cần thiết Một thứ gì đó chỉ thực sự có giá trị khi nó được xem
là cần thiết, là tốt, được mong đợi và có ảnh hưởng chi phối đến tình cảm, thái
độ, hành vi của một cá nhân Giá trị sống là những nguyên tắc hướng dẫn, giúp ta chọn đường đi đúng Giá trị sống được hình thành trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, nhưng giai đoạn vị thành niên (10-18 tuổi) là giai đoạn
có ý nghĩa nhất trong cuộc đời của mỗi con người
Trang 28Để nghiên cứu xem những giá trị phổ quát là những giá trị nào, năm
1995 một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên hơn 100 nước,
và UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
đã đưa ra kết quả với 12 giá trị sau:
là phần ngọn Nếu con người không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù cho được học nhiều kỹ năng đến đâu, chúng ta sẽ không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi ích cho bản thân và cho
xã hội Không có nền tảng giá trị chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước
Trang 29những đổi thay, có khi còn tỏ ra tham lam, cao ngạo về kỹ năng mình có Vì vậy, dạy về giá trị sống là dạy cái gốc rễ của cuộc sống, là dạy cho mọi người cách sống với nhau bằng tình yêu thương và sự tôn trọng Thiếu đi nền tảng giá trị sống, con người dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất Giá trị sống là cái neo giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những biến động của cuộc đời
Các kỹ năng sống trọng yếu là các kỹ năng cá nhân hay xã hội giúp trẻ
em truyền đạt những điều họ biết (kiến thức), những gì học suy nghĩ (thái độ) và những gì họ tin (giá trị) thành khả năng thực tiễn và những gì cần làm và làm như thế nào Việc đưa các thành tố trọng yếu của kỹ năng sống vào cuộc sống của học sinh sẽ giúp các em nâng cao năng lực để có những lựa chọn lành mạnh,
có những giải quyết tích cực phù hợp trước nhiều áp lực của cuộc sống
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học tích hợp trong nhà trường hiện nay
1.2.1.1 Thực trạng chung
Trong Đề án đổi mới chương trình và SGK sau năm 2015 của Bộ
GD&ĐT đã đặt ra mục tiêu rất cụ thể đó là: Chương trình mới, SGK mới được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng GD tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi học sinh; tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục và công nghệ thông tin Riêng trong chương trình giáo dục phổ thông (GDPT), Bộ GD&ĐT cũng đã xác định: chúng ta sẽ giảm bớt môn học, thực hiện tích hợp cao ở cấp tiểu học và THCS; phân hóa ở cấp THPT
“GDPT 12 năm, gồm hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp THCS 4 năm) và giai đoạn định hướng nghề nghiệp (cấp THPT 3 năm)” Những nội dung cơ bản của GDPT sẽ được trang bị cho HS ở bậc học THCS, còn ở THPT sẽ là cấp học định hướng nghề nghiệp Như vậy
Trang 30trong chương trình PT mới, mỗi cấp học có vai trò rất quan trọng trong tiến trình GDPT nói chung Riêng cấp học THPT, tuy sẽ là cấp học định hướng nghề nghiệp nhưng vẫn phải tiếp tục phát triển và hoàn thiện chương trình GD tri thức, nhân cách, đạo đức cho người học để chuẩn bị cho các em những kĩ năng cần thiết nhất trước khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời
Xuất phát từ những mục tiêu đó, để góp phần vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GDPT thì vấn đề DHTH là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết Không những thế, DHTH đã trở thành xu hướng tất yếu trong đổi mới PPDH, đáp ứng được yêu cầu GD toàn diện người học tránh phiến diện, một chiều thiếu hiệu quả Hiện nay, ở các trường PT nhiều thầy cô giáo đã nhận thức được tầm quan trọng của việc DHTH cũng như những yêu cầu cơ bản, quan trọng để DHTH có thể thành công Đó là một quá trình lâu dài mà người thầy vừa phải tích lũy kiến thức chuyên môn của môn học mà mình đảm nhận, đồng thời phải tìm hiểu cả những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác như triết học, kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lí học, Từ nhận thức đó, nhiều GV đã thực hiện việc DHTH trong quá trình giảng dạy và đã có những thành công bước đầu đáng ghi nhận Tuy nhiên, bên cạnh đó do một số hạn chế nhất định khiến khá nhiều GV còn e dè, chưa mạnh dạn tích cực trong việc DHTH mà chủ yếu chỉ dạy đúng, đủ lượng kiến thức theo yêu cầu của chương trình, của bộ môn mà mình phụ trách
Để có thêm thông tin liên quan đến vấn đề này, chúng tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát nhanh về thực trạng chung của việc DHTH trong nhà trường PT Đối tượng cụ thể của chúng tôi là 20 thầy cô giáo hiện đang công tác tại Trường Phổ thông liên cấp song ngữ Wellspring – Long Biên – Hà Nội
và 20 thầy cô giáo hiện đang giảng dạy tại Trường THPT Quang Trung – Đống Đa – Hà Nội Kết quả của cuộc khảo sát này như sau:
Trang 31Bảng 1.1 Đánh giá thực trạng chung về Dạy học tích hợp ở trường PT
của học sinh với
thầy cô trong giờ
Trang 32Như vậy, nhìn vào bảng khảo sát sơ bộ về việc DHTH của 40 GV nêu trên ta có thể thấy hầu hết GV đã có nhận thức tích cực và mức độ cần thiết của việc DHTH Đa phần thầy cô đã chú ý và thực hiện thường xuyên việc DHTH trong quá trình giảng dạy của mình Tuy nhiên, số lượng thầy cô luôn luôn áp dụng cách dạy học này còn khá khiêm tốn (25%) mặc dù 32,5% GV cho rằng việc DHTH của mình hiếm khi gặp khó khăn trở ngại Tỉ lệ GV không bao giờ áp dụng cách DHTH còn cao khá cao (35%) trong khi các em
HS cũng rất thích thú và hưởng ứng khá nhiệt tình với cách dạy học thú vị này (50% HS được thầy cô đánh giá là có hứng thú, hào hứng tham gia trong các giờ DHTH) Bản thân 42,5% GV cũng nhận thấy hiệu quả tốt của những giờ dạy học theo hướng tích hợp Có rất nhiều nguyên nhân khiến GV chưa thực
sự chú ý và đầu tư nghiêm túc, công phu tới việc DHTH như: kiến thức chương trình khá nặng trong khi đó thời lượng ít, điều kiện cơ sở vật chất đôi khi không thuận lợi, GV chưa được tập huấn một cách bài bản, nhiều GV cao tuổi khả năng sử dụng công nghệ thông tin hạn chế nên thường có tâm lí ngại thay đổi Nhưng dẫu sao, với xu hướng chung của GD thế giới là đào tạo ra những “công dân toàn cầu” có thể đáp ứng mọi yêu cầu về kiến thức, kĩ năng trong nhiều hoàn cảnh, điều kiện khác nhau thì việc DHTH đang dần trở thành một xu thế của GD hiện đại
1.2.1.2 Thực trạng của việc dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn
Khi trao đổi về PPDH và đổi mới PPDH nói chung, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, các Sở giáo dục tốn không ít kinh phí để đào tạo GV, báo chí tốn không ít thời gian và giấy mực để bàn luận về vấn đề này Nhưng khi đi vào thực tiễn thì PPDH chưa thực sự trở thành một chìa khoá vạn năng, một công cụ để giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng GD trong giảng dạy mà đôi khi PPDH vẫn còn là một khái niệm chung chung, nằm trong các văn bản giấy tờ Nhiều khi GV còn khá loay hoay đọc để hiểu được khái niệm đó cũng không phải dễ chứ chưa nói đến việc thực hiện nó thành công Điều đó khiến khá nhiều GV tâm
Trang 33huyết với nghề trồng người và thường xuyên lưu tâm đến vấn đề này không khỏi băn khoăn, trăn trở Ta có thể lí giải hạn chế này là do trong một thời gian dài, người thầy được trang bị và bị chi phối truyền thụ kiến thức cho học trò theo quan hệ một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận Đối tượng trung tâm của các giờ học không phải là HS mà là GV Thế nên, đôi khi các em HS-một chủ thể của giờ dạy đã gần như bị lãng quên, trở thành người thụ động trong suốt quá trình giờ học diễn ra Trong khi các thầy cô nỗ lực hết mình, làm đủ mọi cách để có thể truyền tải tất cả những kiến thức sách vở lẫn kinh nghiệm cá nhân mà mình tích lũy được từ khi ngồi trên giảng đường Đại học tới khi làm việc trong thực tiễn mong sao HS có thể tự lấp đầy kho kiến thức của riêng mình thì bản thân các em lại thụ động tiếp nhận tri thức, ngoan ngoãn lắng nghe, ghi ghi chép chép rồi học thuộc những điều thầy cô dạy, ít khi có sự trao đổi qua lại Học trò luôn có tâm lí những điều thầy cô truyền đạt luôn luôn đúng và coi đó là những kiến thức chuẩn tự trang bị cho mình trong suốt quá trình học tập Dần dần các em trở thành những người học thụ động, thiếu sự sàng lọc kiến thức trong suốt quá trình học tập Không những thế, nhiều HS còn có tâm lí e ngại: ngại nghĩ, ngại sáng tạo, ngại phản biện để đưa ra quan điểm của cá nhân mình Thay vào đó, các em thường tự điều chỉnh quan điểm, suy nghĩ của mình sao cho trùng khớp hoặc phù hợp nhất với quan điểm của thầy cô Khi cách học như thế kéo dài đã dẫn đến tình trạng người học thiếu sự chủ động linh hoạt, sáng tạo và non kém về bản lĩnh
và sự tự tin
Do PPDH truyền thống luôn chú ý đến người dạy và ít quan tâm tới người học nên những suy nghĩ, những ý tưởng cá nhân của các em dần bị thủ tiêu thay vào đó là những kiến thức áp đặt, phiến diện Trong xã hội hiện đại, mọi suy nghĩ cổ hủ, chậm tiến dần phải được thay thế bằng những quan điểm mới, tích cực hơn nên việc đổi mới PPDH là điều tất yếu Có như vậy chúng
ta mới khuyến khích được HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập Một trong những PPDH mới, rất tiêu biểu đó là DHTH
Trang 34Trong dự thảo môn Văn chương trình THPT, năm 2002 của Bộ GD&ĐT đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học,
từ Đọc văn, tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của
GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [3, tr.40]
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiết Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hóa nghệ thuật…mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần khắc phục, xóa bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và
kĩ năng có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời các kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS có thể gặp sau này Nói cách khác thì đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các
bộ phận Văn học, tiếng Việt và Tập làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích
hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn
Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức để khắc phục hạn chế lối dạy truyền thống, nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được, đảm bảo cho mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Mặt khác, tránh được những nội
Trang 35dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được
Không những thế, việc tích hợp giáo dục trong giờ đọc - hiểu các bản
văn học đã mang tác phẩm văn chương đến gần hơn với các em, giúp thầy cô kéo trang sách gần hơn với cuộc đời Việc được phát biểu chính kiến, tham gia vào các tình huống cụ thể gần gũi với vấn đề trong tác phẩm đã phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong tiếp nhận kiến thức của HS Những thông điệp mà nhà văn thể hiện qua các hình tượng nghệ thuật đã góp phần bồi dưỡng đạo đức, lý tưởng, tâm hồn, nhân cách của người học Chính
vì thế việc tích hợp các nội dung GD rất được quan tâm trong chỉ đạo cũng như giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường PT
1.2.2 Thực trạng việc tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua bộ môn Ngữ văn
1.2.2.1 Mục đích của việc giáo dục giá trị sống cho học sinh
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà hàng ngày con người luôn phải đối mặt với vô số những vấn đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng tới nhân cách, đạo đức, lối sống Hàng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn thường đưa tin những vụ việc liên quan đến các tệ nạn xã hội như: nghiện ma túy, cờ bạc, mê tín, tảo hôn, ấu dâm v.v Những tệ nạn này có tính phổ biến trong xã hội biểu hiện ở những hành vi sai lệch với chuẩn mực đạo đức, lối sống gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống xã hội, cản trở tiến
bộ xã hội của nền văn hóa lành mạnh Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra tội phạm, những đối tượng nguy hiểm cho xã hội Ngoài ra, mặt trái của CNTT còn khiến chúng ta, nhất là giới trẻ trong đó có
HS, SV luôn bị bủa vây bởi game online, các trang mạng xã hội, những bộ phim đầy rẫy các cảnh quay bạo lực, sex, lừa lọc…Các bậc làm bậc cha mẹ thì lo lắng, mệt mỏi tìm đủ mọi cách để che chắn, bảo vệ cho con mình Còn nhà trường thì liên tiếp tổ chức những hoạt động ngoại khóa, phong trào để tuyên truyền, GD HS giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh đúng với thuần
Trang 36phong mĩ tục của dân tộc Nhìn chung, cả xã hội đang không ngững nỗ lực để vun đắp, xây dựng nên một thế hệ khỏe về thể chất, vững về tinh thần
Để có được những năng lực cần thiết để tự bảo vệ mình tránh xa những cám dỗ dung tục, xấu xa đồng thời biết sống nhân văn, hướng thiện trau dồi thêm những đức tính tốt như trung thực, đoàn kết, biết tôn trọng bản thân và những người xung quanh khiêm tốn, dũng cảm và rộng lượng…các em HS rất cần được thầy cô định hướng, giúp đỡ Đây là trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo trong việc việc góp phần hình thành nhân cách, GD đạo đức cho người học Vì vậy, mục đích của việc GDGTS cho HS đó là:
- HS được trang bị những hiểu biết về các giá trị sống cơ bản Từ đó, các em hiểu thấu đáo, suy ngẫm nghiêm túc về 12 giá trị sống và những tác động thực tế của việc thể hiện những giá trị này với chính mình, với cộng đồng và thế giới xung quanh
- Tạo cảm hứng cho các em trong việc lựa chọn những giá trị mang tính
cá nhân, phù hợp với bản thân với xã hội và đạo đức chung của dân tộc Từ
đó, có ý thức trong việc thực hành các giá trị sống trong thực tiễn lao động, học tập của bản thân
- Giá trị sống là cái gốc để từ đó hình thành ở các em HS những kĩ năng sống cần thiết để thích ứng và vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng được những cơ hội quý giá trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân và người khác hơn
- Khi đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa của những giá trị sống, HS sẽ biết kiềm chế, biết giải quyết các vấn đề theo hướng tích cực, vững vàng trước các
áp lực tiêu cực không bị lôi kéo khi gặp những tình huống đa dạng, phức tạp khác nhau trong thực tế
- Thông qua hoạt động GDGTS, HS được rèn luyện năng lực tư duy, chất lượng các môn học cũng như chất lượng GD của nhà trường được nâng lên
Trang 371.2.2.2 Thuận lợi và khó khăn của việc dạy học tích hợp hợp giáo dục giá trị sống trong môn Ngữ văn
* Thuận lợi:
- Môn Ngữ văn, bản thân là môn khoa học nhân văn, khoa học nghệ thuật có tính GD cao về tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ Dạy Ngữ văn sao cho
HS biết đau nỗi đau của đồng loại, biết vui, buồn, khóc, cười cùng đồng loại
là điều vô cùng cần thiết và quan trọng Tác phẩm văn học không chỉ chứa đựng trong nó bức tranh về hiện thực xã hội, cuộc sống, con người mà còn là thái độ, tư tưởng, tình cảm của người cầm bút trước hiện thực ấy Việc dạy đọc-hiểu văn bản văn học cũng đã bao gồm việc định hướng HS tiếp cận, hình thành các tình cảm, nhận thức cao đẹp từ những nội dung có trong tác phẩm
Vì thế, so với các môn học khác trong nhà trường thì môn Ngữ văn là môn học có ưu thế tích hợp GDGTS trong giờ dạy, đặc biệt là giờ dạy đọc-hiểu văn bản văn học Qua các giờ DHTH nói chung và tích hợp GDGTS nói riêng, GV tích lũy được nhiều kiến thức của các liên môn khác nhau nên chất lượng kiến thức, chất lượng bài dạy được nâng lên ở tầm cao mới Đồng thời,
GV các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong việc phối hợp,
hỗ trợ nhau trong quá trình dạy học Sự phát triển của CNTT cùng với đội ngũ
GV được đào tạo ngày càng bài bản theo sự thay đổi của thời đại sẽ triển khai tốt việc dạy tích hợp liên môn
- Về phía HS: giờ văn có tích hợp GDGTS sẽ tạo hứng thú cho HS bởi
vì các em được khám phá kiến thức của nhiều bộ môn có liên quan, kết hợp giữa KHTN và KHXH sẽ tạo nên nhiều điều thú vị và độc đáo Cách ra đề kiểm tra và đánh giá kết quả học tập theo hướng mở cho nên HS có cơ hội được phát triển một cách tối đa tư duy sáng tạo
* Khó khăn:
- Về phía GV: Nhận thức được sự cần thiết phải tích hợp GDGTS trong giờ giảng, tuy nhiên GV gặp không ít trở ngại trong quá trình thực hiện như:
Trang 38+ Việc đào tạo và bồi dưỡng của GV chưa đáp ứng với những nội dung, yêu cầu của GV các vấn đề xã hội hiện đại Đặc biệt, GV chỉ được tập huấn về việc đổi mới PPDH một cách chung chung, chưa được tập huấn một cách cụ thể, bài bản những nội dung có liên quan đến vấn đề GDGTS Vì thế, trong quá trình tích hợp GDGTS trong các giờ học là do các thầy cô tự mày
mò, học hỏi lẫn nhau nên đôi khi còn mang tính chủ quan và có phần áp đặt
+ Yêu cầu của xã hội, của người học, của phụ huynh ngày càng cao, áp lực thi cử còn nặng đã chi phối cách lựa chọn chủ yếu thiên về cung cấp tri thức cho HS của GV
+ Bên cạnh đó, không phải bất cứ trường học nào cũng có điều kiện cơ
sở vật chất kĩ thuật có thể đáp ứng được cách dạy học theo hướng tích hợp nói chung và tích hợp GDGTS nói riêng
+ GV gánh thêm nhiệm vụ mới: Khi dạy học theo hướng tích hợp, GV phải rà soát lại chương trình, nội dung bài học, những kiến thức trong SGK để loại bỏ những thông tin, nội dung kiến thức lạc hậu, không cần thiết và cập nhật những thông tin kiến thức mới để theo kịp với xu thế phát triển chung của xã hội hiện đại Đồng thời, các thầy cô phải cấu trúc lại nội dung chương trình cho phù hợp với hướng phát triển năng lực của người học
- Về phía HS, những lớp HS ở giai đoạn đầu đã quen với lối học cũ: dạy học theo hướng tích hợp là cả một quá trình từ Tiểu học lên đến THPT nên tạo điều kiện thuận lợi cho các em bắt kịp với quá trình này nhưng lại rất khó khăn cho những HS đã quen với lối học cũ cho nên các em không tránh khỏi lạ lẫm, bỡ ngỡ đôi khi không thể theo kịp Đồng thời, việc quy định các môn thi trong tuyển sinh cộng với xu thế chọn nghề nghiệp theo thực tiễn xã hội hiện nay nên dẫn đến tình trạng người học sẽ ít hoặc không chú trọng đến môn không phải thi mà chỉ quan tâm đến các môn sẽ thi hơn
Làm thế nào để dạy cho HS hiểu thấu đáo, tường tận các giá trị sống cơ bản? làm thế nào để khuyến khích các em khám phá, tìm hiểu và phát triển các giá trị cũng như những kĩ năng sống, thái độ sống nhằm giúp các em phát
Trang 39huy hết tiềm năng sẵn có của mình? Và làm thế nào để HS biết mình có thể tạo nên sự khác biệt trên thế giới này và cảm thấy bản thân có đủ khả năng tạo dựng một thế giới tốt đẹp hơn từ những kiến thức về giá trị sống mà thầy cô
đã truyền dạy? Đó luôn luôn là những câu hỏi mà mỗi thầy cô giáo dạy văn đặt ra khi thực hiện một tiết dạy có sự tích hợp GDGTS
1.2.3 Khảo sát thực trạng giáo viên đã áp dụng tích hợp giáo dục các giá trị sống qua các giờ Văn
Như đã nói ở trên, tích hợp GD là xu hướng tất yếu trong đổi mới PPDH, đáp ứng được yêu cầu GD HS một cách toàn diện tránh GD một chiều, nâng
cao hiệu quả phát triển năng lực của các em Ở các trường THPT hiện nay, đa
số GV Ngữ văn đã nhận thức sâu sắc vai trò và ý nghĩa của việc đổi mới PPDH nói chung và DHTH nói riêng Thể hiện ở việc các thầy cô đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo chuyên môn của ngành, nhà trường, tổ chuyên môn
về vấn đề này Từ khi soạn giáo án cho đến khâu lên lớp, nhiều thầy cô đã tích cực thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống với các nội dung như: giáo dục văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, giá trị sống,…cho HS Trong các đợt thao giảng, hội giảng, sinh hoạt chuyên môn, việc tích hợp GDGTS lồng ghép trong những giờ Văn đã để lại ấn tượng tốt cho cho đồng nghiệp Điều đó không chỉ được thể hiện ở nội dung tích hợp sâu sắc, gần gũi mà còn ở cách thức tiến hành linh hoạt, phù hợp và hiệu quả Tuy nhiên, qua trao đổi với các GV dạy Ngữ văn trong tổ và một số GV ở một số trường bạn cùng với với việc trực tiếp
dự giờ, thăm lớp để học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy việc các thầy cô áp dụng tích hợp nội dung GDGTS cho HS còn nhiều hạn chế, ít
GV thực hiện Có những thầy cô đã thực hiện nhưng nội dung tích hợp còn chung chung hoặc nghèo nàn, thiên cưỡng Do không được chuẩn bị kĩ lưỡng
cả về kiến thức và phương pháp tiến hành nên nhiều thầy cô còn lúng túng, dập khuôn máy móc, tích hợp qua loa nên chưa đạt hiệu quả như mong muốn Đó chính là những hạn chế cần khắc phục để việc tích hợp nói chung và tích hợp GDGTS trong các giờ văn nói riêng đạt hiệu quả cao nhất
Trang 40Dạy học theo hướng tích hợp không chỉ là một xu thế mà đồng thời còn
là một tư tưởng, một nguyên tắc, một quan điểm chủ đạo trong GD hiện đại
Do đó, DHTH cần được thực hiện ở tất cả các môn học trong chương trình GDPT Tuy là một vấn đề khá mới nhưng so với các môn học khác thì môn Ngữ văn có điều kiện thuận lợi để thực hiện việc tích hợp, vì: Ngôn ngữ đã được mô hình hóa và lời nói thông dụng giàu sắc thái biểu cảm là phương tiện, công cụ và nội dung giao tiếp của cả phân môn Văn học, phân môn tiếng Việt và phân môn Tập làm văn; văn bản là tính chất chung của cả ba phân môn Dù là bài Văn, tiếng Việt hay Làm văn đều có những phát ngôn hoàn chỉnh nên đơn vị hiểu được trong hoàn cảnh giao tiếp Có thể xem tác phẩm văn học là văn bản sáng tạo, tiếng Việt là văn bản khai thác, Làm văn là văn bản luyện tập kỹ năng trong quá trình tích hợp Văn bản của ba phân môn đều chứa đựng những mức độ khác nhau của tính khoa học, tính nghệ thuật, tính
xã hội và tính sáng tạo của nó Đó cũng là cơ sở chung để suy nghĩ về sự quy
tụ những giao điểm của quá trình tích hợp
Hiện nay, có một thực trạng chung mà chúng ta rất dễ nhận thấy trong thời đại @ này đó là có rất nhiều HS không học Văn, không thích học Văn, sợ học Văn Các em đa phần chỉ chú trọng đến các môn KHTN mà không chú trọng các môn KHXH Thậm chí, nhiều em, chủ yếu chỉ quan tâm đến học ngoại ngữ, học các môn năng khiếu ít quan tâm đến các môn khoa học cơ bản, trong đó có môn Văn Đây là xu thế chung của thời đại trở thành một trong những nguyên nhân có sự ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập nói chung của HS và lí giải vì sao hiện nay lại xảy ra tình trạng nhiều em học lệch, học
tủ Không những thế, điều này còn gây ảnh hưởng khá lớn đến việc tìm hiểu, cảm thụ, rung động đối với các tác phẩm văn học của các em Để đánh thức, khơi dậy trong HS niềm yêu thích văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung là một thách thức lớn đối với mỗi thầy cô Nhất là việc GV phải làm như thế nào để thiết kế những bài dạy vừa đảm bảo yêu cầu nội dung theo chuẩn kiến thức kĩ năng của Bộ GD&ĐT đặt ra lại vừa giúp HS nhận thức