Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khai thác mọi tiềm năng sản xuất xã hội, nâng cao hiệu quả toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong bối cảnh ấy, khu vực doanh nghiệp nhà nước, bộ phận trọng yếu của kinh tế nhà nước bộc lộ rất nhiều bất cập. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa và đa dạng hóa hình thức sở hữu của một số doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh. Tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, phát huy vai trò làm chủ thực thụ của người lao động, của cổ đông. Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hành công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đã đạt được một số kết quả nhất định như giảm mạnh số lượng DNNN, nâng quy mô vốn bình quân, giảm bớt được sự tài trợ ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bước đầu đã phát huy được quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do đặc điểm và thực trạng DNNN của nước ta quá trình này vẫn còn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt được kết quả mong muốn. Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nơi bị nền kinh tế, thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp tục lan rộng và theo chiều sâu cũng sẽ đồng thời ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đến nền kinh tế nước ta. Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nước một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trước mắt mà cả tương lai lâu dài. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một quá trình phức tạp, khi quan điểm nhận thức chưa thống nhất, kinh nghiệm chưa đủ thì việc cổ phần hóa gặp phải rất nhiều khó khăn trở ngại. Tuy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiến hành từ 51990 nhưng cho đến nay tiến độ cổ phần hóa diễn ra chậm, mục tiêu của cổ phần hóa chưa đạt được như mong muốn. Đặc biệt đối với các công ty lâm nghiệp, ngoài những khó khăn về vốn, năng lực quản lý yếu kém, việc chưa xác định được giá trị vườn cây lâu năm, giá trị rừng trồng nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc giao khoán giá trị vườn cây, rừng trồng theo quy định mới. Chính vì thế, nhiều đơn vị chưa thực hiện được việc cổ phần hoá cơ sở chế biến gắn với vườn cây, rừng trồng, các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc vay vốn khi có yêu cầu thế chấp tài sản. Việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp lâm nghiệp lâm nghiệp lại càng khó khăn hơn khi phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệp còn nhiều vấn đề gây tranh cãi. Qua thực tế nghiên cứu tại công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn Bình Định, tôi nhận thấy việc xây dựng phương án cổ phần hóa là hết sức cần thiết và cấp bách. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã thực hiện luận văn tốt nghiệp: “Nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn Bình Định”.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 4
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 5
ĐẶT VẤN ĐỀ 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 8
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DNNN 8
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước 8
1.1.2 Khái niệm về CPH DNNN 8
1.1.3 Công ty cổ phần 8
1.1.4 Mục đích cổ phần hoá DNNN 11
1.1.5 Yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần 11
1.2 KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 12
1.2.1 Cổ phần hóa ở một số nước tư bản phát triển 12
1.2.2 Cổ phần hóa á một số nước ASEAN 12
1.2.3 Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc 13
1.2.4 Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam 17
1.3 THỰC TIỄN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 18
1.3.1 Cổ phần hoá DNNN ở nước ta tiến hành chậm 18
1.3.2 Thành công bước đầu và vướng mắc còn tồn tại 19
1.3.3 Một số công trình nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 20 1.4 CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 21
1.4.1 Hệ thống các Doanh nghiệp Lâm nghiệp nước ta hiện nay 21
1.4.2 Lý do tiến hành CPH Doanh nghiệp Lâm nghiệp ở Việt Nam 22
1.4.3 Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp 22
1.4.4 Những vấn đề mang tính đặc thù cần được xem xét khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp lâm nghiệp 23
1.4.5 Cơ sở thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp 38
1.4.6 Một số công trình nghiên cứu 40
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 42
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 42
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 42
2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 42
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 42
Trang 22.2.2 Phạm vi nghiên cứu 42
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 42
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 43
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP QUY NHƠN – BÌNH ĐỊNH 46
3.1.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định 46
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định 47
3.1.3 Tổ chức bộ máy quản lí của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định 48
3.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP QUY NHƠN – BÌNH ĐỊNH 51
3.2.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty 51
3.2.2 Đánh giá khả năng cổ phần hóa của công ty 61
3.3 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TY 69
3.3.1 Xác định giá trị doanh nghiệp 69
3.3.2 Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011-2015 80
3.3.3 Xác định nhu cầu vốn đầu tư cho phương án SXKD 83
3.4 KẾ HOẠCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY 92
3.4.1 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn của dự án trồng rừng sản xuất giai đoạn 2010 – 2018 92
3.4.2 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho dự án trồng rừng nguyên liệu giấy giai đoạn 2011 – 2017 93
3.5 TỔNG HỢP NHU CẦU VÀ KẾ HOẠCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU VỐN CHO KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY 95
3.5.1 Nhu cầu vốn cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty 95
3.5.2 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty 98
3.5.3 Xác định vốn điều lệ và khối lượng cổ phiếu phát hành 100
3.5.4 Xây dựng phương án bán cổ phiếu 102
3.5.5 Thành lập ban chỉ đạo cổ phần hoá doanh nghiệp 106
3.6 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CỔ PHẦN HOÁ TẠI CÔNG TY 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
4.1 KẾT LUẬN 114
4.2 Kiến nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error: Reference source not found PHỤ BIỂU ………
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BH&CCDV Bán hàng và cung cấp dịch vụ
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CBCNVC-LĐ Cán bộ công nhân viên chức và lao độngCNVC Công nhân viên chức
HĐKD Hoạt động kinh doanh
HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
TrangBiểu 3.01: Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của công ty TNHH một
thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định ……… 52Biểu 3.02: Tình hình lao động của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn tính đến
Biểu 3.03: Tình hình vốn SXKD của Công ty qua 3 năm 2008-2010 ……… 55Biểu 3.04: Hệ số cấu trúc nguồn vốn phản ánh tình hình tài chính của công ty 57Biểu 3.05: Kết quả SXKD của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn trong 3 năm
Biểu 3.06: Khả năng về nguồn vốn công ty tính đến 31/12/2010 ……… 62Biểu 3.07: Tình hình TSCĐ của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn năm 2010 … 64Biểu 3.08: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả SXKD của Công ty ……… 68Biểu 3.09: Tình hình TSLĐ và ĐTNH tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn tính
Nhà nước tại công ty ……… 80Biểu 3.18: Diện tích trồng mới dự án rừng sản xuất năm 2010-2018 ……… 82
Biểu 3.19: Vốn đầu tư theo khoản mục của dự án trồng rừng sản xuất giai
Biểu 3.22: Nhu cầu vốn cho dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ cảnh
quan Quy Nhơn giai đoạn 2011-2015 ……… 88Biểu 3.23: Nhu cầu cho dự án trồng và chăm sóc rừng trồng cảnh quan thành
Trang 5phố Quy Nhơn 2010-2013 ……… 90Biểu 3.24: Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư cho cả giai đoạn để đảm bảo 4 dự án 91Biểu 3.25: Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn của dự án trồng rừng sản xuất giai
Biểu 3.26: Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho dự án trồng rừng sản xuất làm
nguyên liệu giấy năm 2011-2017 ……… 94Biểu 3.27: Nhu cầu vốn cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty …… 96Biểu 3.28: Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho phương án sản xuất kinh
Biểu 3.29: Biểu tổng hợp số cổ phần dành cho các đối tượng ……… 104
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.01: Cơ cấu tổ chức quản lí công ty cổ phần ………
Sơ đồ 3.01: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định ………
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nước ta chuyển sang phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khai thác mọi tiềm năng sản xuất
xã hội, nâng cao hiệu quả toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong bối cảnh ấy, khu vựcdoanh nghiệp nhà nước, bộ phận trọng yếu của kinh tế nhà nước bộc lộ rất nhiều bấtcập Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới doanh nghiệpnhà nước, cổ phần hóa và đa dạng hóa hình thức sở hữu của một số doanh nghiệpnhà nước
Trang 6Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hìnhdoanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động để sử dụng
có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triểnsản xuất kinh doanh Tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệuquả cho doanh nghiệp nhà nước, phát huy vai trò làm chủ thực thụ của người laođộng, của cổ đông
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hànhcông tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đã đạt được mộtsố kết quả nhất định như giảm mạnh số lượng DNNN, nâng quy mô vốn bình quân,giảm bớt được sự tài trợ ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cho hoạt độngsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bước đầu đã phát huy được quyền chủđộng kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính vàohoạt động sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, do đặc điểm và thực trạng DNNN của nước ta quá trình này vẫncòn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn
đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt đượckết quả mong muốn
Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nơi bị nền kinh tế, thìbiến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp tục lan rộng vàtheo chiều sâu cũng sẽ đồng thời ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đến nền kinh tếnước ta Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng cao hiệu quả và sứccạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nước một cách ổn định,vững chắc không những cho những năm trước mắt mà cả tương lai lâu dài
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một quá trình phức tạp, khi quan điểmnhận thức chưa thống nhất, kinh nghiệm chưa đủ thì việc cổ phần hóa gặp phải rấtnhiều khó khăn trở ngại Tuy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiến hành từ5/1990 nhưng cho đến nay tiến độ cổ phần hóa diễn ra chậm, mục tiêu của cổ phầnhóa chưa đạt được như mong muốn Đặc biệt đối với các công ty lâm nghiệp, ngoàinhững khó khăn về vốn, năng lực quản lý yếu kém, việc chưa xác định được giá trị
Trang 7vườn cây lâu năm, giá trị rừng trồng nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăntrong việc giao khoán giá trị vườn cây, rừng trồng theo quy định mới Chính vì thế,nhiều đơn vị chưa thực hiện được việc cổ phần hoá cơ sở chế biến gắn với vườncây, rừng trồng, các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc vay vốn khi có yêu cầuthế chấp tài sản Việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp lâm nghiệp lâmnghiệp lại càng khó khăn hơn khi phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệpcòn nhiều vấn đề gây tranh cãi Qua thực tế nghiên cứu tại công ty TNHH mộtthành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định, tôi nhận thấy việc xây dựng phương
án cổ phần hóa là hết sức cần thiết và cấp bách Nhận thức rõ tầm quan trọng của
vấn đề trên, tôi đã thực hiện luận văn tốt nghiệp:
“Nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định”.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về cổ phần hóa DNNN
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước
Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội khoá XI, kì họp thứ 4thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7năm 2004 thì Doanh nghiệp Nhà nước được hiểu như sau:
“Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” [28].
Trang 8Một doanh nghiệp được coi là DNNN khi có đủ 3 điều kiện:
1.1.2 Khái niệm về CPH DNNN
Cổ phần hóa thực chất là chuyển đổi sở hữu của doanh nghiệp, từ sở hữu Nhà nướcsang đa dạng hóa các hình thức sở hữu nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổchức sản xuất từ các nhà đầu tư và người lao động, tạo cơ sở cho cho việc đổi mới cácquan hệ quản lý và phân phối sản phẩm, tạo động lực mới, phát huy quyền làm chủ kinhdoanh nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ vàtập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế [20]
1.1.3 Công ty cổ phần
+ Khái niệm công ty cổ phần
Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 – Chương IVCông ty cổ phần, CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
(1) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
(2) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và khônghạn chế số lượng tối đa;
(3) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
(4) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác;(5) CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh;
(6) CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn [30]
+ Các loại cổ phần
Trang 9- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổthông là cổ đông phổ thông
- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi
là cổ đông ưu đãi
Cổ phần ưu đãi gồm các loại như: cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi
cổ tức; cổ phần ưu đãi hoàn lại; cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyềnnắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ cóhiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổithành cổ phần phổ thông Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưuđãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hộiđồng cổ đông quyết định Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần
ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết địnhcủa Đại hội đồng cổ đông
+ CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại tráiphiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty [30]
+ Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần
Sơ đồ 1.01: Cơ cấu tổ chức quản lí công ty cổ phần
Trang 10CTCP có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổđông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểmsoát Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đạidiện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quanquyết định cao nhất của CTCP
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩmquyền của Đại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầuChủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại Điều lệ công ty Trường hợp Hội đồngquản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viênHội đồng quản trị Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác
Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làmGiám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủtịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty
Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ công
ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành
Đaị hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
TGĐ, Giám đốc điều hành hànhBan kiểm soát Chủ tịch hội đồng quản trị
Bộ máy điều hành
Trang 11viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểmsoát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định.Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có
ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên Trong trường hợp vàothời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới chưa được bầu thìBan kiểm soát đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đếnkhi Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ [30]
1.1.4 Mục đích cổ phần hoá DNNN
- Góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại hìnhdoanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, tạo độnglực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quảvốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp
- Huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động của các cổ đông, tăngcường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích củaNhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động [22]
1.1.5 Yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
- Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốnsang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tưtrong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổimới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
- Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và ngườilao động trong doanh nghiệp
- Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tìnhtrạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trườngvốn, thị trường chứng khoán
1.2 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên Thế giới
Trang 121.2.1 Cổ phần hóa ở một số nước tư bản phát triển
Quá trình CPH ở hầu hết các nước tư bản phát triển được thực hiện chủ yếudưới hình thức bán cổ phiếu của các Công ty quốc doanh hay DNNN qua sở giaodịch chứng khoán, bán đấu giá có giới hạn người mua hoặc bán trực tiếp cho nhữngngười mua được lựa chọn một hay phần hay toàn bộ cổ phần của doanh nghiệp.Việc bán đấu giá hay bán trực tiếp chỉ áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,còn đối với các công ty lớn thì phổ biến là CPH thông qua thị trường chứng khoán [20]
Mức độ CPH ở mỗi Công ty phụ thuộc vào ý đồ của Chính phủ muốn duy trìảnh hưởng đến mức độ nào trong việc kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp
Quá trình CPH đó mang lại hiệu quả hết sức điển hình, ở các nước phát triểnhình thành hàng loạt các Công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước – tư nhân, trong đómột số lĩnh vực Nhà nước giữ cổ phần khống chế, còn một số lĩnh vực khác Nhànước chỉ giữ ở một mức có thể kiểm soát hoạt động của chúng [6]
Chính phủ dùng số tiền thu được từ CPH các DNNN không chỉ để giảm thâmhụt ngân sách mà còn mua cổ phiếu của các Công ty tư nhân trên thị trường chứngkhoán, để đảm bảo cho mình những khoản thu nhập bổ sung, thâm nhập và mở rộngquyền chi phối của mình trong các lĩnh vực cần kiểm soát và chống độc quyền Như vậy, đồng thời với quá trình chuyển đổi sở hữu trong khu vực kinh tế nhà
nước là quá trình “Nhà nước hóa” trở lại các Công ty tư nhân trong chiến lược cơ
cấu lại nền kinh tế thị trường hỗn hợp, đảm bảo mức tăng trưởng ổn định cho đấtnước và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động [6]
1.2.2 Cổ phần hóa á một số nước ASEAN
Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam á (các nước ASEAN) có truyềnthống nông nghiệp (trừ hai nước Singapo và Brunây) và trong những năm gần đâyđều có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định
Các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường là chính, chỉ có một số bộphận nhỏ là hoạt động công ích Chính vì vậy hiệu quả kinh doanh được đặt lênhàng đầu, nếu các DNNN mà hoạt động không hiệu quả thì sẽ bị giải thể hoặc phá sản
Trang 13Mục đích chính của CPH ở các nước ASEAN là nâng cao tính tự chủ củadoanh nghiệp, xây dựng lại cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên kinh tế tư nhân, tạomôi trường kinh doanh tích cực đảm bảo cân bằng giữa các thành phần kinh tế xóabỏ lối kinh doanh độc quyền kém hiệu quả của kinh tế nhà nước, giảm gánh nặngcho ngân sách
Trong các nước ASEAN hai nước Singapo và Malaysia là hai nước tương đốithành công trong công tác CPH
Tại Singapo, Nhà nước đã sớm soạn thảo một chương trình CPH có hệ thốngphù hợp với đặc điểm tình hình trong nước, một ủy ban tư nhân hóa khu vực kinh tếNhà nước được thành lập để đề ra chương trình CPH hoàn chỉnh dự định kéo dàitrong 10 năm Các DNNN làm ăn có lãi được chọn là đối tượng CPH trước tiên.Thành công nhất trong công tác CPH ở Singapo là đã không để ra tình trạng thâmhụt ngân sách, vẫn duy trì được mức tăng trưởng và tích lũy cao Do vậy mà hầu hếtcác mục tiêu CPH ở Singapo đề ra đã đạt được [12]
Còn ở Malaysia đã thay đổi các chính sách kinh tế theo đó lấy cải cách khu vựckinh tế Nhà nước làm trọng tâm Chuyển khoảng 20% số DNNN hiện có sangCTCP hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm cơ cấu lại DNNN theo hướng hoạtđộng có hiệu quả, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, giảm mức nợ củaChính phủ [27]
Tháng 5/1995 Malaysia đã CPH thành công 120 DNNN trong đó có nhữngdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt như: Hàng không, điện lực, bưu chính viễnthông… Malaysia đã chấp nhận một phần sở hữu Nhà nước theo quan niệm DNNNtrong một số ngành thuộc hạ tầng cơ sở hoặc dịch vụ trước đây tư nhân không đầu
tư nên Nhà nước phải đầu tư để tạo ra hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho người dânbảo đảm an ninh xã hội
1.2.3 Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc
Trung Quốc và Việt Nam có nhiều nét văn hóa tương đồng, Việt Nam vớimong muốn tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc thúc đẩy CPH DNNN
ở nước ta
Trang 14Đầu những năm 80, Trung quốc có 384.000 DNNN, sản xuất 423,8 tỷ NDT giátrị sản phẩm chiếm 80,3% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc [25] Căn
cứ vào yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chếthị trường các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thấy hoạt động của DNNN cónhiều vấn đề đáng lo ngại trong đó, nổi lên:
- Hiệu quả kinh tế thấp, không ít doanh nghiệp bị thua lỗ và thua lỗ ngày càng lớn
- Gánh nặng nợ nần trong các DNNN càng lớn
- Các DNNN phải gánh chịu quá nhiều chức năng xã hội
- Tình trạng thất thoát tài sản Nhà nước quá nghiêm trọng
- Thiết bị của doanh nghiệp cũ kỹ lạc hậu
Trước tình trạng đó, Trung Quốc chủ trương đổi mới DNNN, trong đó có việcchuyển đại bộ phận DNNN thành Công ty cổ phần (CTCP) [42]
* Về quan niệm
Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác để tiến hànhCPH DNNN Họ nhận thức rằng, kinh tế cổ phần là sự vận động của mâu thuẫngiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, gắn liền với kinh tế hàng hóa và hoạtđộng tín dụng, là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, CTCP đó từngthúc đẩy sự phát triển nền kinh tế các nước TBCN Trung Quốc đó vận dụng nhữngnhận thức nói trên vào việc xây dựng CTCP trong nền kinh tế [25]
Trung Quốc đặt vấn đề CPH một bộ phận DNNN là một phần hữu cơ trongtổng thể các đổi mới DNNN, mà đổi mới DNNN là khâu then chốt của cải cáchkinh tế Trung Quốc nhấn mạnh: Cải cách kinh tế bao gồm cấu trúc lại cơ cấu ngành
và cơ cấu sản xuất vĩ mô và vi mô, đổi mới quản lý sản xuất kinh doanh nhằm đạthiệu quả kinh tế cao Muốn vậy, một mặt phải chuyển đổi DNNN thành doanhnghiệp hiện đại, trong đó có sự tách biệt giữa sở hữu và kinh doanh, giữa Nhà nước
và doanh nghiệp; mặt khác, phải đẩy mạnh CPH một bộ phận DNNN Đồng thời,coi tiền đề cải cách doanh nghiệp là xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường Trongtổng thể đó, mỗi khâu đều có vị trí quan trọng của nó, không cô lập và không táchrời nhau [42]
Trang 15* Về tiến trình CPH
Năm 1991, Trung Quốc mới chính thức triển khai CPH DNNN Khi đó, cảnước có 3.200 doanh nghiệp cổ phần hóa thí điểm, không kể các doanh nghiệp cổphần hợp tác thuộc kinh tế Hương Trấn Năm 1993, 10.300 CTCP phát hành cổphiếu trị giá 400 tỷ nhân dân tệ Năm 1994 có 47% cổ phiếu được bán cho các côngnhân viên trong doanh nghiệp, 46% thuộc quyền sá hữu của pháp nhân có tráchnhiệm hữu hạn, chỉ có 7% cổ phiếu phát hành ra ngoài xó hội Năm 1995, cả nước
có trên 12.000 CTCP có sở hữu hỗn hợp trong đó Nhà nước sở hữu 40%, các phápnhân 40%, cá nhân 20% [12]
* Hình thức tiến hành CPH DNNN
Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc được tiến hành dưới ba hình thức:
Thứ nhất: DNNN cùng với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia nắm
giữ cổ phiếu hình thành CTCP Hình thức góp vốn cổ phần của các doanh nghiệpgiữ cổ phiếu hình thành CTCP Hình thức góp cổ phần của các doanh nghiệp có thểlà: Lấy tài sản cố định như nhà xưởng, thiết bị quy ra giá trị để góp cổ phần; lấyvốn dự trữ để đầu tư vào các doanh nghiệp khác; lấy tài sản vô hình như kháchhàng, bản quyền, nhãn mác để tham gia cổ phần Các CTCP kiểu này có lợi choviệc hợp tác kinh tế theo chiều ngang, có lợi cho việc di chuyển hợp lý và kết hợptối ưu các yếu tố sản xuất nên được phát triển rất nhanh
Thứ hai: Hình thức bán cổ phần cho công nhân viên chức trong nội bộ doanh
nghiệp Thông qua hai hình thức này, CNVC có cổ phần, trở thành cổ đông tạidoanh nghiệp mình làm việc Lợi ích của họ và doanh nghiệp gắn liền với nhau làmtăng tính làm chủ của người lao động đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, hình thứcCTCP này nảy sinh mâu thuẫn giữa thu nhập trước mắt của công nhân viên chứcvới sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp và thường xuất hiện tình trạng phân phốichênh lệch về phía CNVC
Thứ ba: CPH DNNN bằng cách phát hành cổ phiếu công khai ra thị trường,
trong đó có doanh nghiệp trực tiếp phát hành cổ phiếu trên thị trường để tập trungvốn, mở rộng, xây dựng mới doanh nghiệp hoặc phát triển các mặt hàng hiện có
Trang 16của doanh nghiệp; các doanh nghiệp lớn đóng góp cổ phần, phát hành cổ phiếu rangoài xã hội Hiện nay hình thức cổ phần hóa này không nhiều [42].
* Những kết quả đạt được của CPH DNNN ở Trung Quốc
Thứ nhất: Thúc đẩy tập trung vốn, góp phần tích cực giải quyết vấn đề thiếu
vốn của doanh nghiệp Trong hơn 10.000 DNNN đó chuyển sang CTCP có hơn 700
đã bán cổ phiếu trên thị trường với giá trị lưu thông trên 500 NDT Đã có trên100.000 người làm việc trên thị trường chứng khoán, 31 triệu người đã mua cổphiếu tại lục địa, số vốn tập trung của cả hai loại công ty này gộp lại là 13 tỷ USD
Đó là một nguồn vốn quan trọng giúp ích cho nhiều việc đầu tư các công trình trọngđiểm và các dự án cải tạo ở Trung Quốc
Thứ hai: CPH DNNN tạo thuận lợi cho chuyển đổi cơ chế kinh doanh của
doanh nghiệp, xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại Đây là mục tiêu quan trọngnhất tại Trung Quốc, thông qua quá trình này, doanh nghiệp được tách rời ra vớichính quyền, quyền sở hữu tách rời quyền kinh doanh, phát huy vai trò tự chủ, tựchịu trách nhiệm của doanh nghiệp, khi DNNN chuyển sang CTCP thì doanhnghiệp không còn đơn thuần thuộc sở hữu Nhà nước nữa, nên chính quyền khôngcòn chổ dựa để can thiệp trực tiếp vào doanh nghiệp [16]
Thứ ba: Với tư cách là đơn vị sản xuất kinh doanh (SXKD) thuộc kinh doanh
nghiệp độc lập trong khuôn khổ pháp luật và chính sách của Nhà nước, dưới sựgiám sát của cổ đông và toàn xã hội, các CTCP phải trực tiếp đi vào thị trường,tham gia cạnh tranh, tự tìm tòi để tồn tại và phát triển Do vậy, các CTCP sẽ phảivừa thận trọng, vừa phải năng động trong hoạt động SXKD phù hợp với đòi hỏi của
cơ chế thị trường [15]
Thứ tư: chuyển DNNN thành CTCP đó tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc
có thể thiết lập và phát triển những tập đoàn doanh nghiệp quy mô lớn, có sức cạnhtranh, rất cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước và vươn ra thị trường thế giới[41]
Trang 171.2.4 Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam
1.2.4.1 Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá
Sự triển khai có tính chất toàn cầu của quá trình này tạo ra một tương quanhợp lý giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân giữa sự điều tiết của nhà nước vàcủa thị trường Vì vậy tiến hành cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam là một vấn đềkhông thể bỏ qua, một đòi hỏi khách quan để chuyển nền kinh tế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước và khai thác các động lực của thị trường
1.2.4.2 Tính đặc thù của quá trình cổ phần hoá DNNN
Đó là sự phản ánh các sắc thái khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức, bước
đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về điều kiện chính trị, kinh tế - xã hộicủa mỗi nước quy định Ở nước ta cũng không thể không chú ý đến tính đặc thù vềcác điều kiện quy định quá trình này để có sự sàng lọc kinh nghiệm các nước vàchuẩn bị kỹ càng các điều kiện vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam
1.2.4.3 Tính chiến lược của quá trình cổ phần hoá
Hầu hết các nước đều coi cổ phần hoá là một bộ phận của quá trình cải cáchtoàn bộ nền kinh tế, do đó nó đòi hỏi phải được suy xét và hành động mang tínhchiến lược cao khi xác định các mục tiêu về cơ cấu và tương quan giữa các lĩnh vực
và khu vực kinh tế để dịch chuyển, phân bổ các nguồn lực và quyền lực cho cácnhóm người sở hữu và quản lý khác nhau Vì vậy, ở hầu hết các nước đều lập ramột cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theo những quanđiểm chiến lược đề ra ở nước ta, với quy mô và tính chất quan trọng của chươngtrình cổ phần hoá, nhà nước không thể suy xét nó ở tầm chiến lược trong quá trìnhđổi mới toàn diện để phát triển nền kinh tế, đồng thời cũng cần phải thành lập một
cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo và giải quyết toàn bộ nhữngvấn đề liên quan đến chương trình này [22]
1.2.4.4 Tính quá trình của việc thực hiện cổ phần hoá
Thực tiễn và nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đều chỉ ra rằng việc thựchiện cổ phần hoá gồm nhiều giai đoạn: chuẩn bị điều kiện về tổ chức, lựa chọn các
Trang 18mục tiêu, phương thức thực hiện, kiểm soát và điều chỉnh Tuy các giai đoạn không
có sự phân định rõ rệt nhưng nó có ý nghĩa chỉ đạo về mặt thực tiễn: khuyến khíchtính thận trọng với những giải pháp phù hợp dựa trên những điều kiện thực tế Tínhquá trình tỏ ra thích hợp với cả chính phủ, đang cần thời gian nắm bắt và kiểm soát,cũng như công chúng đang cần thời gian để tìm vào sự ổn định, lâu dài về chínhsách của chính phủ ở Việt Nam chúng ta, trong hoàn cảnh thiếu nhiều điều kiệnquan trọng để thực hiện cổ phần hoá thì việc quán triệt quan điểm quá trình trong cổphần hoá các DNNN là cần thiết để chống những tư tưởng và biểu hiện nóng vội,chủ quan duy ý chí, muốn hoàn thành công việc này một lần trong thời gian ngắn [21]
1.3 Thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
1.3.1 Cổ phần hoá DNNN ở nước ta tiến hành chậm
Cổ phần hoá một bộ phận DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhànước ta từ sau quyết định 217-HĐBT (11-1987) và được đưa vào thí điểm vào năm
1992 Tuy nhiên, tính từ khi chuẩn bị cho đến nay, mặc dù đã trải qua một thời giankhá dài nhưng kết quả đạt được là không lớn Các doanh nghiệp được cổ phần đều
có quy mô vừa và nhỏ, trị giá doanh nghiệp chỉ từ 2 tới 16 tỷ đồng, chủ yếu tậptrung ở hầu hết các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh [21] Rấtnhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vẫn đứng ngoài công cuộc thực chủtrương cổ phần hoá DNNN Chính vì vậy, việc tìm ra các nguyên nhân chủ quancũng như khách quan làm công tác này dậm chân tại chỗ là hết sức cần thiết Quathực tiễn triển khai công tác cổ phần hoá, nổi lên một số nguyên nhân sau:
* Về nhận thức và hành động từ các cơ quan quản lý đến các doanh nghiệpchưa đầy đủ, hoạt động chưa thường xuyên liên tục Các cán bộ các cấp còn rất dèdặt trong công tác cổ phần hoá, nhiều người muốn thế thủ, tốt nhất là không hănghái trong công tác này để tránh đi chệch hướng XHCN; các doanh nghiệp cũngkhông muốn cổ phần hoá, tư tưởng trông chờ vào nhà nước bao cấp việc làm, thunhập, phúc lợi, ,tư tưởng các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp cũng không muốn cổphần hoá, sợ mất chức vụ, sợ trách nhiệm là phổ biến [9]
Trang 19* Khung pháp lý chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ: Chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước mới chỉ dừng lại ở một quyết định, một chỉ thị của Thủ tướng chính phủ,các ngành các cấp thiếu hoặc rất chậm trong triển khai hướng dẫn thực hiện các cơquan chỉ đạo, tức là mới chỉ hoạt động về hành chính, tạo ra sự lúng túng trong quátrình chỉ đạo thí điểm cổ phần hoá, đặc biệt là xử lý những vấn đề có tính kỹ thuật,nghiệp vụ ở cơ sở [14].
* Hình thức cổ phần hoá DNNN còn quá sơ sài chưa mang tính đa dạng, trongkhi đó các loại hình doanh nghiệp ở các ngành, các vùng có tính đặc thù riêng [23]
* Thói quen hùn vốn vào công ty cổ phần để kinh doanh trong nhân dân tachưa có, đặc biệt là nhân dân miền Bắc
* Các chính sách khuyến khích công nhân viên chức trong doanh nghiệp nhànước chuyển sang công ty cổ phần chưa hấp dẫn
* Thủ tục hành chính quá rườm rà, tốn kém
* Môi trường hỗ trợ cho cổ phần hoá còn thiếu, chế độ chính sách chưa đồng
bộ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán đã hình thành nhưng hoạt động chưa cóhiệu quả
* Tổ chức chỉ đạo chưa tập trung, thiếu thống nhất giữa các bộ, các ngành,trung ương, địa phương, các cơ quan chức năng chưa đủ thẩm quyền giải quyết cácvấn đề phát sinh, đôi khi gặp khó khăn thì chùn bước [17]
Với những vấn đề nêu trên, cho thấy việc cổ phần hoá là vấn đề không đơngiản Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Cổ phần hoá một bộ phận DNNN ởnước ta là cần thiết, nhưng không thể tiến hành trong một thời gian ngắn mà cầnđược chuẩn bị, tiến hành thí điểm, rút kinh nghiệm trước khi tiến hành triển khaihành loạt
1.3.2 Thành công bước đầu và vướng mắc còn tồn tại
1.3.2.1 Một số thành công bước đầu
Tính đến thời điểm cuối năm 1999, trong cả nước đã có 18 DNNN (10 doanhnghiệp tại TP HCM và 8 doanh nghiệp tại các địa phương khác trên cả nước) thựchiện cổ phần hoá chuyển sang hoạt động theo luật công ty [12] Từ khi chuyển sang
Trang 20công ty cổ phần, các doanh nghiệp đã đạt được một số thành công bước đầu khá rõrệt, có tiến bộ về mọi mặt, cả Nhà nước và doanh nghiệp đều có lợi.
Đối với doanh nghiệp:
* Lợi nhuận tăng bình quân 56,9%/năm
* Vốn tăng bình quân 45%/năm
* Nộp ngân sách tăng 34%/năm
* Lao động tăng bình quân 98%/năm
* Thu nhập người lao động tăng 20%/năm
* Tỷ suất lợi nhuận trên vốn74,6%/năm [37]
Đối với Nhà nước: Do sản xuất phát triển, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng nên
tiền thuế các công ty cổ phần nộp cao hơn khi còn là DNNN Ngoài ra Nhà nướccòn thu 37.724 triệu đồng từ cá nguồn khác như: tiền bán cổ phần, lợi tức tại cáccông ty cổ phần Vốn cổ phần của nhà nước ban đầu là 28 tỷ, đến đầu năm 1998 đãtăng lên gần 65 tỷ đồng [38]
Đối với người lao động và xã hội: Thu nhập của người lao động tăng lên từ
1,5 tới 2 lần, có công ty còn cao gấp 2,5 lần, chưa kể nguồn thu từ lợi tức cổ phầnkhoảng 25%/năm; ngoài số lao động cũ các doanh nghiệp còn thu hút thêm khoảngtrên 1000 lao động ngoài xã hội vào làm việc [38]
1.3.2.2 Một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ để đẩy nhanh chương trình và tiến
độ cổ phân hoá DNNN
Đó là những vấn đề: Tính toán như thế nào để huy động vốn trong các thànhphần kinh tế, trong người lao động, trong nhân dân theo hướng đa dạng hoá sở hữu;làm thế nào để tạo động lực thi đua, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh,thúc đẩycải tiến quản lý, Từ đó còn nhiều trăn trở từ các doanh nghiệp đã, đang hoặc đangđược chọn để cổ phần hoá
1.3.3 Một số công trình nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Năm 1999, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thơm đã bảo vệ thành công luận ántiến sĩ: “ Cổ phần hóa các DNNN ở Việt Nam” [17] Đây là công trình nghiên cứu
và tổng kết khá công phu về lí luận và thực tiễn về cổ phần hóa các DNNN ở Việt
Trang 21Nam Tuy nhiên đây là công tình nghiên cứu chung về cổ phần hóa các DNNN ởnhững năm đầu của tiến trình cổ phần hóa Những vấn đề cổ phần hóa các DNNNtrước đây chưa phát sinh, đến nay đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, chưa đượcnghiên cứu trong luận án.
Năm 2003, nghiênc cứu sinh Lê Văn Hội đã bản vệ thành công luận án tiến
sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế, quản lí và kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân với
đề tài: “Cổ phần hóa một số DNNN – Thực trạng và giải pháp” [12] Đề tài tậptrung vào các vấn đề lí luận và thực tiễn của cổ phần hóa các DNNN Còn nhữngvấn đề đặt ra sau cổ phần hóa các DNNN thì đề tài chưa nghiên cứu
Đã có một số bài viết về từng mặt của vấn đề kinh tế nảy sinh sau khi doanhnghiệp cổ phần hóa như: “Các vấn đề tồn tại và phát sinh của doanh nghiệp sau cổphần hóa và đa dạng hóa sở hữu” của TS Trần Tiến Cường [32]; “ Một số vướngmắc về tài chính đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa và đa dạng sở hữu” của LêHoàng Hải – Trưởng ban cổ phần hóa Cục tài chính doanh nghiệp [9]…
Trước những biến động của quá trình cổ phần hóa các DNNN nói chung vàcủa ngành lâm nghiệp nói riêng, tác giả luận ăn muốn đi sâu nghiên cứu một cách
có hệ thống những vấn đề diễn ra khi cổ phần hóa, từ đó đề xuất xây dựng phương
án cổ phần hóa cho công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – BìnhĐịnh sẽ khả thi và có hiệu quả, tiếp nối các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
1.4 Cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp
1.4.1 Hệ thống các Doanh nghiệp Lâm nghiệp nước ta hiện nay
Năm 2005, cả nước có 355 Lâm trường quốc doanh (LTQD) Trong giai đoạn
2005 - 2010, các LTQD được rà soát, sắp xếp lại trên địa bàn cả nước theo chủ trương :
- Tách bộ phận đất đai có nhiều diện tích rừng sản xuất của các LTQD đểthành lập các Công ty Lâm nghiệp
- Những LTQD quản lý nhiều rừng tự nhiên được chuyển đổi thành các Banquản lý rừng
- Giải thể một số LTQD có ít đất đai hoặc làm ăn kém hiệu quả kéo dài Đến thời điểm 2010, số LTQD trên cả nước đã giảm đáng kể, trong đó có:
Trang 22- 157 LTQD đã chuyển đổi xong thành các Công ty lâm nghiệp, CTCP
- 68 LTQD được chuyển đổi xong thành các Ban quản lý rừng
- 28 Ban Quản lý rừng được thành lập mới trên cơ sở tách một phần đất đai
có nhiều rừng tự nhiên từ các LTQD trước đây
- Đã giải thể 14 LTQD
Diện tích đất đai do các LTQD trước đây quản lý tại thời điểm năm 2005 là4,08 triệu ha đã được rà soát điều chỉnh lại tính đến cuối năm 2010 như sau:
- Tổng diện tích giao cho các Công ty lâm nghiệp quản lý: 2,3 triệu ha
- Diện tích giao cho các Ban quản lý rừng : 1,14 triệu ha
- Diện tích giao lại cho các địa phương: 0,5 triệu ha [26]
1.4.2 Lý do tiến hành CPH Doanh nghiệp Lâm nghiệp ở Việt Nam
Lý do chính của chủ trương CPH ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nướchoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với
lý do thực hiện CPH doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để
nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh
1.4.3 Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp
Khuôn khổ pháp lý liên quan đến cổ phần hoá doanh nghiệp (công ty) lâmnghiệp, về cơ bản, thực hiện theo quy định tại một số văn bản pháp luật sau:
- Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về chuyểndoanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần [11]
- Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyểndoanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần [9]
- Thông tư số 146 /2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính hướngdẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính theo quy định tại Nghị định số109/2007/NĐ-CP [5]
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về việc sửađổi bổ sung một số Điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 vềphương pháp xác định giá đất và khung giá đất [10]
Trang 23- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 6/12/2007 của Bộ Tài chính hướngdẫn thực hiện Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ [4].
Ngoài ra, cần thực hiện theo quy định tại một số văn bản pháp luật sau:
- Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắpxếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh [1]
- Nghị định số 48/2007/NĐ-CP, ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyêntắc và phương pháp xác định giá các loại rừng [8]
- Thông tư số 65/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 26/05/2008 của Bộ Nôngnghiệp và PTNT, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2007/NĐ-CPngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loạirừng [2] và một văn bản pháp luật khác có liên quan
1.4.4 Những vấn đề mang tính đặc thù cần được xem xét khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp lâm nghiệp
1.4.4.1 Xác định tài sản của doanh nghiệp
- Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản trong doanh nghiệp nhànước bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản lưu động
Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vậtchất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia nhiều lần vào chu kỳ kinhdoanh
Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất,thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳkinh doanh như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về sử dụng đất
Ngoài ra trong doanh nghiệp còn bao gồm các loại tài sản cố định khác như:các khoản đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư chứng khoán dài hạn, góp vốn liêndoanh ), chi phí xây dựng dở dang
Tài sản lưu động gồm có các loại vốn bằng tiền, nguyên, nhiên vật liệu, cáckhoản phải thu, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản tạm ứng
Tuy nhiên, các doanh nghiệp lâm nghiệp nước ta được Nhà nước giao mộtdiện tích rừng và đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Trang 24Theo tinh thần tại Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chínhtrị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, chỉ thựchiện cổ phần hoá các nhà máy, cơ sở chế biến của nông, lâm trường theo quy địnhhiện hành; thí điểm cổ phần hoá vườn cây, rừng trồng của nông, lâm trường gắn với
cổ phần hoá doanh nghiệp chế biến; không cổ phần hoá rừng tự nhiên và nhữngdiện tích đất có khả năng phục hồi thành rừng tự nhiên
1.4.4.2 Xác định giá trị doanh nghiệp lâm nghiệp
Giá trị của doanh nghiệp: bao gồm giá trị tài sản của doanh nghiệp: vốn cốđịnh, vốn lưu động, đất đai, rừng và các yếu tố tạo ra hiệu quả, triển vọng về sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm nghiệp, như uy tín, khả năng sinh lợi Liênquan đến xác định giá trị doanh nghiệp lâm nghiệp, cần làm rõ những vấn đề sau:
- Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức thuê đất:
Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa chọn hình thức thuê đất thì phải thựchiện ký hợp đồng thuê đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai vàkhông phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý khi xác định giá trị doanh nghiệptheo quy định cụ thể như sau: (Điều 31, khoản 3)
a) Đối với diện tích đất thuê theo phương thức trả tiền thuê đất hàng năm thìdoanh nghiệp thực hiện trả tiền thuê đất theo quy định của pháp luật hiện hành vàkhông tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp [11]
b) Đối với những doanh nghiệp trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ thờigian thuê đất trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành) thì phảixác định lại trị giá tiền thuê đất theo giá thuê đất tại thời điểm cổ phần hóa cho thờigian thuê đất còn lại để tính vào giá trị doanh nghiệp Khoản chênh lệch tăng do xác
Trang 25định lại trị giá tiền thuê đất được hạch toán tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổphần hóa [11].
c) Trường hợp doanh nghiệp đã được giao đất nay lựa chọn hình thức thuêđất thì phải hoàn thành thủ tục chuyển sang thuê đất gửi cơ quan quyết định cổ phầnhóa và cơ quan quản lý nhà đất tại địa phương trước khi chính thức chuyển sangcông ty cổ phần [11]
- Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất (kể cả
diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc chothuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạtầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vàogiá trị doanh nghiệp theo quy định sau: (Điều 31, khoản 2)
a) Đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa đang thực hiện hình thức thuêđất nay chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì giá đất để xácđịnh giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa là giá đất do Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tíchđất được giao) quy định và công bố tại thời điểm tính giá đất vào giá trị doanhnghiệp cổ phần hóa theo quy định của pháp luật về đất đai Trường hợp giá đất chưasát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiệnbình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sửdụng đất có mục đích sử dụng tương tự thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất
cụ thể cho phù hợp [11]
b) Đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa đã được giao đất và đã nộp tiền
sử dụng đất cho ngân sách nhà nước hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đấthợp pháp (kể cả diện tích đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc chothuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạtầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì giá đất được xác định theo quy định tại điểm a
Trường hợp diện tích đất doanh nghiệp được giao có bao gồm cả diện tíchđất sử dụng cho các hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ, sản phẩm công ích,phúc lợi công cộng (như công viên cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách,
Trang 26đất làm công trình thủy lợi …) không phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định củapháp luật về đất đai thì được loại trừ những diện tích này khi xác định giá trị quyền
sử dụng đất để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa Đối với diện tích đất sửdụng cho các công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn theo quy định củapháp luật về đất đai cũng được xem xét, loại trừ theo quyết định của Thủ tướngChính phủ Doanh nghiệp cổ phần hóa quản lý, sử dụng diện tích đất này theo quyếtđịnh của cơ quan có thẩm quyền phù hợp với quy hoạch và pháp luật về đất đai [11]
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể việc xác định diện tích đấtloại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp quy định tại Điều này
c) Giá trị quyền sử dụng đất xác định tính vào giá trị doanh nghiệp theo quyđịnh tại điểm a được hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước Doanhnghiệp cổ phần hóa phải nộp số tiền này cho ngân sách nhà nước để được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất vàcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật Đất đai vàcác văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai [11]
d) Khoản chênh lệch tăng giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại quyđịnh tại điểm b với giá trị đang hạch toán trên sổ sách kế toán (nếu có) được hạchtoán tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa [9]
Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất xác định lại thấp hơn chi phí thực tế vềquyền sử dụng đất đang hạch toán trên sổ kế toán thì tính theo giá doanh nghiệpđang hạch toán
Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đã đượcgiao thì phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất theo mụcđích chuyển đổi theo quy định của pháp luật về đất đai
Giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổphần là giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định sát với giá chuyển nhượngquyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy địnhtại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày
Trang 2716/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất [10] Nếu giátrị quyền sử dụng đất xác định lại cao hơn chi phí thực tế về quyền sử dụng đất đanghạch toán trên sổ kế toán thì khoản chênh lệch tăng được tính vào giá trị thực tếphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp [7]
Xác định giá trị lợi thế kinh doanh
Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được xác định theo 2 phương pháp sau:
- Xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi suất trái phiếu Chính phủ:
kế toán tạithời điểmđịnh giá
x
Tỷ suất lợi nhuậnsau thuế trên vốnnhà nước bìnhquân 3 năm trướcthời điểm xác địnhgiá trị doanhnghiệp
-Lãi suất của trái phiếuChính phủ có kỳ hạn 5năm do Bộ Tài chínhcông bố tại thời điểmgần nhất với thời điểmxác định giá trị doanh
nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận sau
Thuế trên vốn nhà
- Xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu:
Giá trị lợi thế kinh
doanh của doanh nghiệp =
Giá trị lợi thế vịtrí địa lý +
Giá trịthương hiệuTrong đó:
+ Giá trị lợi thế vị trí địa lý áp dụng đối với doanh nghiệp cổ phần hoá(không phụ thuộc vào ngành nghề và kết quả kinh doanh) sử dụng các lô đất thuộcloại đất đô thị nếu lựa chọn hình thức thuê đất thì phải xác định giá trị lợi thế địa lýcủa lô đất để tính vào giá trị doanh nghiệp
(1.2)(1.1.1)
Trang 28Giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất được xác định bằng chênh lệch giữa giáđất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thịtrường trong điều kiện bình thường (theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giáđất và khung giá các loại đất) so với giá do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương quyết định và công bố vào ngày 01/01 của năm thực hiệnxác định giá trị doanh nghiệp [9]
Đối với các doanh nghiệp trung ương, căn cứ giá chuyển nhượng quyền sửdụng đất do cơ quan thẩm định giá thực hiện, cơ quan quyết định cổ phần hoá lấy ýkiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có doanhnghiệp đóng trên địa bàn về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thịtrường trước khi quyết định
Đối với các doanh nghiệp địa phương, Ban chỉ đạo cổ phần hoá báo cáo Uỷban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định
+ Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) được xác địnhtrên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệ nhãn mác, tênthương mại của doanh nghiệp trong 10 năm trước thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp hoặc kể từ ngày thành lập đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt độngcủa doanh nghiệp ít hơn 10 năm (bao gồm cả chi phí quảng cáo, tuyên truyền trong
và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, công ty; xây dựng trang web ) [9]
Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá là giá trịcao hơn khi so sánh kết quả được xác định theo 2 phương pháp trên [9]
Xác định giá trị rừng
Xác định giá trị rừng được quy định tại Nghị định số 48/2007/NĐ – CP ngày28/3/2007 của Chính phủ (Nghị định 48/2007/NĐ - CP) Văn bản này quy địnhnguyên tắc và phương pháp xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặcdụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên (sau đây gọi chung là giá quyền sử dụngrừng); giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng (sau đây gọi là giá quyền sở
Trang 29hữu rừng trồng) Liên quan đến việc xác định giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sởhữu rừng trồng, Nghị định 48/2007/NĐ - CP quy định như sau:
Giá quyền sử dụng rừng là giá trị mà chủ rừng có thể được hưởng từ rừngtrong khoảng thời gian được giao, được thuê rừng tính bằng tiền trên một héc ta (ha)rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo Quy chế quản lý
và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành
Giá quyền sở hữu rừng trồng là giá trị mà chủ rừng có thể được hưởng từ rừngtrong khoảng thời gian được giao, được thuê rừng tính bằng tiền trên một héc ta (ha)rừng sản xuất là rừng trồng theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành.Giá chuyển nhượng quyền sở hữu rừng trồng, quyền sử dụng rừng sản xuất làrừng tự nhiên thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường là số tiền tính trênmột héc ta rừng sản xuất là rừng trồng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hìnhthành từ kết quả giao dịch thực tế mang tính phổ biến trên thị trường giữa ngườichuyển nhượng và người được chuyển nhượng trong điều kiện không bị ảnh hưởngbởi các yếu tố tăng hoặc giảm giá do đầu cơ, thay đổi quy hoạch, chuyển nhượngtrong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống [8]
Giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng quy định tại Nghị định nàylàm căn cứ tính giá trị vốn góp bằng quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồngcủa Nhà nước tại doanh nghiệp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 35 Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004 Theo đó, tổ chức được Nhà nước giao rừng khôngthu tiền sử dụng rừng thì giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừngtrồng được tính vào giá trị tài sản giao cho các tổ chức đó Doanh nghiệp nhà nướcđược Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, nhận chuyển nhượng quyền sửdụng rừng mà tiền sử dụng rừng, tiền chuyển nhượng rừng đã trả có nguồn gốc từngân sách nhà nước thì số tiền đó được ghi vào giá trị vốn của Nhà nước tại doanhnghiệp Khi cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đối với các trường hợp trên màdoanh nghiệp cổ phần hoá lựa chọn hình thức giao rừng có thu tiền sử dụng rừng thìphải xác định lại giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng
Trang 30Thu nhập thuần tuý từ rừng là số tiền mà chủ rừng thu được từ hoạt động khai
thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có)sau khi trừ chi phí đầu tư tạo rừng, thuế và các khoản chi phí hợp lý khác
Phương pháp xác định giá các loại rừng:
Nghị định 48/2007/NĐ-CP đưa ra 3 phương pháp xác định giá các loại rừng,tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương [8]
+ Phương pháp thu nhập:
Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng
cụ thể căn cứ vào thu nhập thuần tuý thu được từ rừng quy về thời điểm định giá vớilãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thươngmại có mức lãi suất trung bình trên địa bàn ở thời điểm định giá
Phương pháp thu nhập được áp dụng để xác định giá quyền sử dụng rừngphòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừngsản xuất là rừng trồng
Điều kiện áp dụng phương pháp thu nhập: áp dụng phương pháp thu nhập khi
có đủ thông tin để xác định được các khoản thu nhập thuần tuý mang lại cho chủrừng từ diện tích rừng cần định giá
Thông tư liên tịch số 65/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 26/05/2008 của BộNông nghiệp và PTNT và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2007/
NĐ - CP (Thông tư liên tịch 65/2008/TTLT - BNN - BTC) đã hướng dẫn cụ thể
phương pháp thu nhập như sau:
- Đối với rừng đặc dụng:
Việc xác định giá quyền sử dụng rừng đặc dụng đối với diện tích rừng đã cóhoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí (sau đây gọichung là kinh doanh cảnh quan), nghiên cứu khoa học và các giá trị dịch vụ kháccủa rừng mà chủ rừng thu được (nếu có) như sau:
+ Tính tổng doanh thu bình quân 01 năm cho tối đa 03 năm liền kề trước thờiđiểm định giá, gồm:
Trang 31Doanh thu từ các hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái (tiền bán
vé của phần cảnh quan môi trường), nghỉ dưỡng, giải trí (nếu có);
Doanh thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học (nếu có);
Doanh thu từ các dịch vụ khác của rừng mà chủ rừng thu được (nếu có).+ Tính tổng chi phí bình quân 01 năm cho tối đa 03 năm liền kề trước thờiđiểm định giá, gồm:
Chi phí đối với hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghỉdưỡng, giải trí bao gồm: in vé, quảng cáo, nhân công, chi phí quản lý, trồng, khoanhnuôi, xúc tiến tái sinh, bảo vệ rừng và duy tu bảo dưỡng công trình phục vụ trực tiếpcho hoạt động kinh doanh cảnh quan;
Chi phí đối với nghiên cứu khoa học (nếu có);
Thuế, phí và các chi phí hợp lý khác (nếu có)
Các khoản chi phí trên được tính theo các quy định của Nhà nước, mức nhâncông theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theo giá trị tạithời điểm định giá; các khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tínhtheo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với khoảng thời gian trên (theotừng năm)
+ Xác định lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một nămtại Ngân hàng thương mại có mức lãi suất trung bình trên địa bàn ở thời điểm địnhgiá được tính bằng cách lấy trung bình của lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn mộtnăm tại Ngân hàng thương mại có mức lãi suất cao nhất và Ngân hàng thương mại
có mức lãi suất thấp nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá
+ Tính giá quyền sử dụng rừng đặc dụng đối với diện tích rừng cần định giátheo công thức sau:
(
1.3)
Trang 32C là tổng chi phí bình quân 01 năm tính cho tối đa 03 năm liền kề trước thờiđiểm định giá;
r là lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm
- Đối với rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên:
Giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, giá quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng
tự nhiên của diện tích cần định giá bao gồm giá quyền sử dụng rừng đối với gỗ, củi(nếu có), lâm sản ngoài gỗ và giá quyền sử dụng rừng đối với cảnh quan, nghiêncứu khoa học, các giá trị dịch vụ khác của rừng mà chủ rừng thu được (nếu có).Việc xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, giá quyền sử dụng rừng sản xuất làrừng tự nhiên đối với gỗ, củi (nếu có) và lâm sản ngoài gỗ được xác định như sau [15]:
+ Thông số cần xác định: trữ lượng gỗ của rừng tại thời điểm định giá Tăngtrưởng bình quân năm của rừng tính từ thời điểm định giá đến năm được khai tháctheo quy trình Số năm cần để đạt được trữ lượng khai thác Cường độ được phépkhai thác Trữ lượng, sản lượng gỗ, củi (nếu có) tại năm được khai thác theo quytrình Việc xác định trữ lượng, sản lượng gỗ khai thác dựa trên lượng tăng trưởngbình quân năm của rừng hoặc trên cơ sở so sánh với một khu rừng tương tự trên địabàn đã khai thác Giá các loại sản phẩm gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ trên thị trường tạibãi giao ở thời điểm định giá Doanh thu từ việc bán gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài
gỗ khai thác tại năm được khai thác theo quy trình (mức giá được tính ở thời điểmđịnh giá tại bãi giao)
+ Tính tổng doanh thu hàng năm từ việc bán gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài gỗtại bãi giao tính từ năm định giá đến năm kết thúc cho thuê/ giao rừng;
+ Tính tổng chi phí bao gồm: Chi phí hàng năm về khai thác, vận suất, vậnchuyển gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài gỗ đến bãi giao tính từ năm định giá đếnnăm kết thúc cho thuê/giao rừng Chi phí hàng năm bảo vệ; chăm sóc rừng (nếu có)tính từ năm định giá đến năm được khai thác theo quy trình Thuế, phí và các chiphí khác (nếu có) Các khoản chi phí trên được tính theo quy định hiện hành củaNhà nước, mức nhân công theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công
Trang 33tính theo giá trị tại thời điểm định giá; các khoản chi phí nào không có quy định củaNhà nước thì tính theo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với từng thời điểm
+ Xác định lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm quy định tạiđiểm a, khoản 1, mục I của Thông tư này
+ Tính giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, giá quyền sử dụng rừng sản xuất làrừng tự nhiên của diện tích cần định giá theo công thức sau:
Trong đó: G là giá quyền sử dụng rừng;
Bi là doanh thu trong năm i tính từ năm định giá (năm 1) đến năm kếtthúc cho thuê/giao rừng;
Ci là chi phí trong năm i tính từ năm định giá (năm 1) đến năm kết thúccho thuê /giao rừng;
i=1 (năm định giá),2,3 , t (năm kết thúc cho thuê /giao rừng);
t là khoảng thời gian tính từ năm định giá đến năm kết thúc chothuê/giao rừng;
r là lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm;
B là tổng doanh thu bình quân 01 năm tính cho tối đa 03 năm liền kềtrước thời điểm định giá quy định tại điểm a, khoản 1, mục I của Thông tư này;
C là tổng chi phí bình quân 01 năm tính cho tối đa 03 năm liền kề trướcthời điểm định giá quy định tại điểm a, khoản 1, mục I của Thông tư này
- Đối với rừng sản xuất là rừng trồng:
Việc xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích cầnđịnh giá được xác định như sau [39]:
+ Thông số cần xác định: Trữ lượng gỗ của rừng tại thời điểm định giá Tăngtrưởng bình quân năm của rừng từ năm định giá đến năm khai thác theo tuổi thànhthục công nghệ (sau đây gọi chung là tuổi khai thác) Trữ lượng, sản lượng gỗ, củitại tuổi khai thác Việc xác định trữ lượng, sản lượng gỗ khai thác dựa trên lượngtăng trưởng bình quân năm của rừng hoặc trên cơ sở so sánh với một khu rừng
C B r
C B
Trang 34tương tự trên địa bàn đã khai thác Giá các loại sản phẩm gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗtrên thị trường tại bãi giao ở thời điểm định giá Tính doanh thu từ việc bán gỗ, củi,lâm sản ngoài gỗ khai thác được tại tuổi khai thác (mức giá được tính ở thời điểmđịnh giá tại bãi giao).
+ Tính doanh thu hàng năm từ việc bán gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ tại bãi giaotính từ năm định giá đến tuổi khai thác;
+ Tính tổng chi phí bao gồm: Chi phí hàng năm về khai thác, vận suất, vậnchuyển gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ đến bãi giao tính từ năm định giá đến tuổi khaithác Chi phí hàng năm bảo vệ; chăm sóc rừng (nếu có) tính từ năm định giá đếntuổi khai thác Thuế, phí và các chi phí khác (nếu có) Các khoản chi phí trên đượctính theo các quy định hiện hành của Nhà nước, mức nhân công theo định mức hoặctheo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theo giá trị tại thời điểm định giá; cáckhoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tính theo giá thực tế tại thịtrường địa phương tương ứng với từng thời điểm
+ Tính lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm theo quy định.+ Tính giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích rừng cầnđịnh giá theo công thức sau:
Trong đó: - G là giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng;
- Bi là doanh thu trong năm i tính từ năm định giá đến tuổi khai thác;
- Ci là chi phí trong năm i tính từ năm định giá đến tuổi khai thác;
- i=1(năm định giá),2,3 ,t (năm khai thác);
- t là khoảng thời gian tính từ năm định giá (năm 1) đến năm khai thác;
- r là lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm quy định tại điểm
a, khoản 1, mục I của Thông tư này
r
C B G
Trang 35gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mứclãi suất cao nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá.
- Phương pháp chi phí được áp dụng để xác định giá quyền sở hữu rừng sảnxuất là rừng trồng trong điều kiện loại rừng cần định giá chưa có giao dịch trên thị trường
- Điều kiện áp dụng : áp dụng phương pháp chi phí khi có đủ thông tin để xácđịnh được các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng đối với diện tích rừng cầnđịnh giá tính từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá
Xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Thông tư liên tịch 65/2008/TTLT-BNN-BTC hướng dẫn cụ thể việc xác địnhgiá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích rừng như sau:
+ Tính tổng chi phí đã đầu tư tạo rừng đối với diện tích rừng cần định giá tính
từ năm bắt đầu đầu tư tạo rừng đến năm định giá, bao gồm:
Chi phí trực tiếp: chi phí tạo rừng (giống cây, vật liệu, nhân công, sử dụngtrang thiết bị, máy móc, công cụ lao động); chi bảo vệ rừng (công bảo vệ; trang thiết
bị, các công trình phục vụ trực tiếp cho phòng chống cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh)
Chi phí gián tiếp: chi phí quản lý, chi phí thiết kế; thuế, phí và các chi phíkhác (nếu có)
Các khoản chi phí trên được tính theo các quy định hiện hành của Nhà nước,mức nhân công theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theogiá trị tại thời điểm định giá; khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thìtính theo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với từng thời điểm
+ Xác định lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một nămtại Ngân hàng thương mại có mức lãi suất cao nhất trên địa bàn ở thời điểm địnhgiá
+ Tính giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích rừng cầnđịnh giá theo công thức sau:
Trong đó: - G là giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng;
i
C G
1
) 1
Trang 36- Ci là chi phí đã tạo rừng trong năm thứ i tính từ năm bắt đầu đầu
tư tạo rừng đến năm định giá;
- i = 1(năm bắt đầu đầu tư tạo rừng),2,3 ,a (năm định giá);
- Phương pháp so sánh được áp dụng để xác định giá quyền sử dụng rừngphòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừngsản xuất là rừng trồng
- Điều kiện áp dụng phương pháp so sánh: khi có đủ thông tin về diện tíchrừng cùng loại đã chuyển nhượng, cho thuê trên thị trường hoặc giao dịch (giữa Nhànước và chủ rừng) có thể so sánh được với diện tích rừng cần định giá Trongtrường hợp diện tích rừng dùng để so sánh và diện tích rừng cần định giá có nhữngyếu tố không đồng nhất thì có thể dùng các hệ số để điều chỉnh
- Thông tư liên tịch 65/2008/TTLT-BNN-BTC hướng dẫn cụ thể việc xácđịnh giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tựnhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng đối với diện tích rừng cần địnhgiá bằng phương pháp so sánh được tiến hành theo các bước sau:
+ Khảo sát, thu thập thông tin
Đối với khu rừng cần định giá quyền sử dụng hoặc giá quyền sở hữu: địađiểm, vị trí, mục đích sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng
tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng; thời gian, điều kiện chuyển nhượng, cho thuê.Trữ lượng gỗ của rừng tại thời điểm định giá; tăng trưởng hàng năm của rừng; kết
Trang 37quả hoạt động kinh doanh cảnh quan, nghiên cứu khoa học và các giá trị dịch vụkhác của rừng mà chủ rừng thu được (nếu có) Giá các loại sản phẩm gỗ, củi, lâmsản ngoài gỗ trên thị trường tại bãi giao; công trình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đíchbảo vệ và phát triển rừng Các quy định của Nhà nước về cơ chế quản lý và sử dụng rừng.
Đối với khu rừng đã có giá hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền định giáquyền sử dụng, quyền sở hữu (sau đây gọi chung là khu rừng so sánh): địa điểm, vịtrí, mục đích sử dụng rừng; thời gian, điều kiện chuyển nhượng, cho thuê côngtrình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đích bảo vệ và phát triển rừng thời điểmchuyển nhượng, cho thuê hoặc thời điểm cơ quan có thẩm quyền định giá Thống kêcác mức giá chuyển nhượng, cho thuê hoặc giá do các cơ quan có thẩm quyền xácđịnh Thời gian, điều kiện, chuyển nhượng hoặc giá đã được cơ quan có thẩm quyềnxác định và phương thức thanh toán
+ Thời gian thu thập thông tin: những thông tin thu thập phải được diễn ratrong khoảng thời gian gần nhất với thời điểm khảo sát, thu thập thông tin để sosánh, xác định giá của khu rừng cần định giá Trường hợp không thu thập đượcnhững thông tin trong khoảng thời gian gần nhất thì có thể thu thập thông tin về cácgiao dịch chuyển nhượng, cho thuê hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnđịnh giá trong thời hạn 01 năm tính đến thời điểm định giá Nếu không có nhữngthông tin trong thời gian gần nhất hoặc trong thời gian 01 năm, thì có thể thu thậpthông tin về các giao dịch chuyển nhượng, cho thuê hoặc đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền định giá trong thời gian 02 năm tính đến thời điểm định giá
+ Điều kiện của thông tin: thông tin phải được thu thập từ kết quả giao dịchchuyển nhượng, cho thuê thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường (nhữnggiao dịch giữa người mua và người bán, người thuê và người cho thuê tự nguyện,mỗi bên có đầy đủ thông tin và hiểu biết về diện tích rừng mà mình tham gia giaodịch hoặc giá các loại rừng do các cơ quan có thẩm quyền định giá)
- So sánh, phân tích thông tin: căn cứ những thông tin đã thu thập, tiến hànhphân tích, so sánh để lựa chọn những tiêu chí giống nhau và khác nhau giữa khu
Trang 38rừng so sánh với khu rừng cần định giá Trên cơ sở đó xác định các tiêu chí giống
và khác biệt để tính toán, xác định giá cho diện tích rừng cần định giá
- Điều chỉnh các yếu tố khác biệt về giá giữa khu rừng so sánh với khu rừngcần định giá
Giá của diện tích rừng cần định giá được tính theo cách điều chỉnh các yếu tốkhác biệt về giá với diện tích rừng so sánh như sau:
±
Mức tiền điều chỉnh mứcgiá hình thành từ nhữngyếu tố khác biệt về giá củadiện tích rừng so sánh vớidiện tích rừng cần định giáTrong đó, mức tiền điều chỉnh giá giữa diện tích rừng so sánh và diện tíchrừng cần định giá là lượng điều chỉnh khác biệt về vị trí, trạng thái, trữ lượng rừng,chất lượng lâm sản, công trình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đích bảo vệ, pháttriển rừng Sự khác biệt về giá giữa diện tích rừng so sánh và diện tích rừng cầnđịnh giá (có thể tính theo giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ % của giá chuyển nhượng, chothuê) được xác định căn cứ vào đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền định giá rừng
1.4.5 Cơ sở thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp
Theo khuôn khổ pháp lý hiện hành, LTQD cũng thuộc đối tượng cổ phầnhóa Tuy nhiên việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệpcòn gặp rất nhiều khó khăn
Theo báo cáo báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định 170/2004/ NĐ – CP
và Nghị định 200/2004/NĐ – CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trườngquốc doanh ngày 30 tháng 7 năm 2010 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,các LTQD được sắp xếp thành:
- 136 Công ty lâm nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước
- 4 Trung tâm lâm nghiệp
- 14 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- 3 Công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp
(1.7)
Trang 39- 68 LTQD được chuyển thành Ban quản lý rừng.
- 28 Ban Quản lý rừng được thành lập mới trên cơ sở tách một phần đất đai
có nhiều rừng tự nhiên từ các LTQD trước đây
- 14 lâm trường quốc doanh thực hiện giải thể
Như vậy đã có 03 Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâmnghiệp được thành lập nhưng không có đất sản xuất nông lâm nghiệp Đến nay, cácCTCP này đã đi vào hoạt động ổn định, tuy số lượng chưa nhiều nhưng kết quảbước đầu cho thấy:
- Tổ chức cơ chế hoạt động của doanh nghiệp được thay đổi phù hợp hơn vớiyêu cầu của nền kinh tế thị trường Bộ máy quản lý, phương thức quản trị doanhnghiệp được đổi mới, người lao động trong doanh nghiệp trở thành cổ đông cóquyền lợi gắn bó chặt chẽ với doanh nghiệp, doanh nghiệp được tự chủ trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh theo luật doanh nghiệp và cơ chế thị trường nên năngđộng và linh hoạt hơn
- Đất đai doanh nghiệp sử dụng để sản xuất được chuyển sang thuê theo quyđịnh của luật đất đai nên việc quản lý chặt chẽ hơn, chấm dứt được tình trạng đểhoang hóa, cho thuê, cho mượn hoặc bị lấn chiếm
- Việc huy động vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp thông thoáng và thuậnlợi hơn, vốn và tài sản của DN được quản lý, sử dụng có hiệu quả
Như vậy, về mặt cơ sở lý luận và pháp lý để xây dựng phương án cổ phầnhoá doanh nghiệp lâm nghiệp là đã tương đối đầy đủ và có thể tiến hành thí điểm cổphần hoá doanh nghiệp trong thời gian tới Về cơ sở thực tiễn, ở Việt Nam mới chỉ
có một số ít doanh nghiệp lâm nghiệp được cổ phần nhưng lại không phải là doanhnghiệp có đất sản xuất lâm nghiệp Đến nay vẫn chưa có doanh nghiệp lâm nghiệpnào có đất sản xuất lâm nghiệp, thực hiện nhiệm vụ trồng, chăm sóc, bảo vệ, khaithác rừng được cổ phần hóa Đây là một hướng nghiên cứu mới được đặt ra trongthời gian tới
Trang 401.4.6 Một số công trình nghiên cứu
Năm 1990, Bộ lâm nghiệp đã thực hiện đề tài thí điểm CPH lâm trường HữuLũng nhưng đề tài đã không thành công Nguyên nhân không thành công là do thờiđiểm đó hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý chưa có đủ để xác định giá trị doanhnghiệp nên việc xây dựng phương án cổ phần hóa bị gián đoạn
Năm 2006-2007, ThS Vũ Tấn Phương đã nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu định giá rừng Việt Nam” Đề tài đã nghiên cứu xây dựng nguyên tắc và phương
pháp xác định giá rừng, khung giá rừng khi giao rừng và cho thuê rừng, cho tínhthuế và lệ phí, cho bồi thường khi thu hồi rừng, cho bồi thường khi phá rừng và xâydựng nguyên tắc, phương pháp xác định giá rừng, khung giá rừng khi chuyển đổimục đích sử dụng rừng Đây là một nghiên cứu rất quan trọng và có ý nghĩa rất lớnđối với các doanh nghiệp lâm nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa
Năm 2007-2008, TS Lê Trọng Hùng đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam” Đề tài đã nghiên cứu được
cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển đượcđược thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam Đây là một nghiêncứu quan trọng và cần thiết cho quá trình cổ phần hoá các công ty lâm nghiệp Khirừng và đất rừng đã được định giá, có thị trường trao đổi thì việc cổ phần hoá cáccông ty lâm nghiệp sẽ thuận lợi và khả thi hơn
Năm 2007, trong khuôn khổ đề tài của TS.Lê Trọng Hùng, TS Phạm Văn
Điển đã nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu xác định giá trị rừng sản xuất là rừng
tự nhiên” Việc nghiên cứu định giá rừng sản xuất là rừng tự nhiên, dựa vào “tổng
giá trị kinh tế của rừng”, được tham chiếu với giá trị quyền sử dụng rừng trongkhuôn khổ pháp lý quản lý rừng của Việt Nam và trong các mối quan hệ như: giaorừng, cho thuê rừng, tính thuế và lệ phí, chuyển đổi mục đích sử dụng, đền bù khithu hồi rừng và đền bù rừng do các hành vi phá hoại rừng theo Luật bảo vệ và pháttriển rừng là hết sức cần thiết và quan trọng Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sởquan trọng cho viêc xác định giá trị các công ty lâm nghiệp có rừng sản xuất là