1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

66 206 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 10,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGTHUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ Kèm theo Quyết định số 258/QĐ-BTNMT ngày 7 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

THUYẾT MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

(Kèm theo Quyết định số 258/QĐ-BTNMT ngày 7 tháng 11 năm 2016

của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)

TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

PHỤC VỤ CẢNH BÁO CẤP ĐỘ RỦI RO THIÊN TAI DO HẠN HÁN CHO CÁC ĐỊA PHƯƠNG THUỘC KHU VỰC TÂY NGUYÊN

TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mãsố: TNMT.2017.05.21

HÀ NỘI, NĂM 2016

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

THUYẾT MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

(Kèm theo Quyết định số 258/QĐ-BTNMT ngày 7 tháng 11 năm 2016

của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)

TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

PHỤC VỤ CẢNH BÁO CẤP ĐỘ RỦI RO THIÊN TAI DO HẠN HÁN CHO CÁC ĐỊA PHƯƠNG THUỘC KHU VỰC TÂY NGUYÊN

TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trang 3

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN ĐĂNG KÝ CHỦ TRÌ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

Kính gửi: Bộ Tài nguyên và Môi trường

Căn cứ thông báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc giao trực tiếp tổ chức,

cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2017, chúng tôi:

a) Tên tổ chức: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương

Địa chỉ: Số 8, Phố Pháo Đài Láng, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội

b) Họ và tên cá nhân: Vũ Đức Long

Học vị: Thạc sĩ

Chức vụ: Trưởng phòng

Địa chỉ: Số nhà 58/93 Tổ dân phố số 1, Ngọc Trục, Đại Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội.Xin đăng ký chủ trì thực hiện nhiệm vụ:

"Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cảnh báo cấp độ rủi ro thiên

tai do hạn hán cho các địa phương thuộc khu vực Tây Nguyên trong điều kiện biến đổi khí hậu"

Thuộc lĩnh vực KH&CN: Biến đổi khí hậu

Hồ sơ đăng ký tuyển chọn/giao trực tiếp chủ trì thực hiện nhiệm vụ gồm:

1 Thuyết minh nhiệm vụ theo biểu mẫu Thông tư số 05/2015/TT-BTNMT;

2 Đơn đăng ký chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ;

3 Tóm tắt hoạt động khoa học của tổ chức đăng ký chủ trì thực hiện nhiệmvụtheo biểu mẫu Thông tư số 05/2015/TT-BTNMT;

4 Lý lịch khoa học của Chủ nhiệm đề tài;

5 Lý lịch khoa học của thành viên chính tham gia thực hiện nhiệm vụ;

Chúng tôi xin cam đoan những nội dung và thông tin kê khai trong Hồ sơ này là đúng

sự thật

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

CÁ NHÂN (Đăng ký chủ nhiệm nhiệm vụ)

Trang 4

NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn

phục vụ cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán

cho các địa phương thuộc khu vực Tây Nguyên trong

điều kiện biến đổi khí hậu”.

1a Mã số:

TNMT.2017.05.21

2 Thời gian thực hiện: 36 tháng(từ tháng 1/2017đến tháng12/2019).

3 Tổng kinh phí thực hiện: 1.810 triệu đồng, trong đó:

- Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học 1810

Ngày, tháng, năm sinh: 15-7-1978 Giới tính: Nam / Nữ:

Học hàm, học vị/ Trình độ chuyên môn: Thạc sỹThủy văn

Chức danh khoa học: Chức vụ: Trưởng phòng

Điện thoại:

Tổ chức: 04.38244922; Nhà riêng: Mobile: 0914.081.981;

Fax: 04.38244921.E-mail: longkttv@gmail.com

Tên tổ chức đang công tác: Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương

Địa chỉ tổ chức: Số 8, Phố Pháo Đài Láng, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội

Địa chỉ nhà riêng: Số nhà 58/93 Tổ dân phố số 1, Ngọc Trục, Đại Mỗ, Nam Từ Liêm, HàNội

x

Trang 5

8 Thư ký đề tài

Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Trang

Ngày, tháng, năm sinh: 21-09-1980 Nam/ Nữ: Nữ

Học hàm, học vị/ Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Thủy văn

Chức danh khoa học:Chức vụ: Dự báo viên

Điện thoại:

Tổ chức: 04.38244922 Nhà riêng: Mobile: 0982.092.180

Fax: 04.38244921; E-mail: thutrang21091980@gmail.com

Tên tổ chức đang công tác: Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương

Địa chỉ tổ chức: Số 8, Phố Pháo Đài Láng, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội

Địa chỉ nhà riêng: Chung cư VNT, 19 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Địa chỉ: Số 8, Phố Pháo Đài Láng, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội

Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Hoàng Đức Cường

Số tài khoản: 934.01.017

Kho bạc nhà nước/Ngân hàng: Kho bạc Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tên cơ quan chủ quản trực tiếp đề tài: Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia

10 Các tổ chức phối hợp chính thực hiện đề tài

1 Tổ chức 1: Đài KTTV khu vực Tây Nguyên.

Tên cơ quan chủ quản: Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia

Điện thoại: 059.3823168; Fax: 0593717454

Địa chỉ: Số 13, Trường Chinh, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai

Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Tạ Đăng Hoàn

(Số thángquy đổi

2)

1 Ths Vũ Đức Long Trung tâm Dự báo KTTV Nội dung 1, 5, 6, 9, 11

2Một (01) tháng quy đổi là tháng làm việc gồm 22 ngày, mỗi ngày làm việc gồm 8 tiếng

Trang 6

Trung ươngChủ nhiệm đề tài 11

2 ThS Nguyễn Thị Thu

Trang

Trung tâm Dự báo KTTVTrung ươngThư ký đề tài

Nội dung 3, 6,7,10 11

6 ThS Lê Thị Huệ

Trung tâm Dự báo KTTVTrung ươngThành viên

Nội dung 2,6,7,9,10 13

7 ThS Trần Quang Hào

Đài KTTV khu vực Tây NguyênThành viên

Nội dung 5,6,10 6

8 KS.Nguyễn Hoàng

Tâm

Đài KTTV khu vực Tây NguyênThành viên

Nội dung 3, 6,7,10 8

9 KS Vũ Thị Thanh Vân

Trung tâm Dự báo KTTVTrung ươngThành viên

Nội dung 2, 3, 7,8,10 13

10 KS Đoàn Văn Hải

Trung tâm Dự báo KTTVTrung ươngThành viên

Nội dung1,2,4,5,6,7,9,10 12

II MỤC TIÊU, NỘI DUNG KH&CN VÀ PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

12 Mục tiêu của đề tài

1) Xây dựng được cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phân cấp và cảnh báo cấp độ rủi

ro do hạn hán cho các địa phương thuộc khu vực Tây Nguyên

2) Xây dựng được các cấp độ rủi ro do thiên tai hạn hán và hệ thống nghiệp vụ cảnhbáo các cấp độ rủi ro do hạn hán gây ra cho các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên đáp ứngđược các yêu cầu cảnh báo và phòng tránh thiên tai

13 Tình trạng đề tài

Mới Kế tiếp hướng nghiên cứu của chính nhóm tác giả

Kế tiếp nghiên cứu của người khác

Trang 7

14 Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu của đề tài.

14.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

a Ngoài nước

Về tình hình hạn hán:

Hạn hán là một hiện tượng thường xuyên tái diễn của khí hậu Hạn hán thườngđược kết hợp với thiếu mưa và được định nghĩa như là một sự kiện khí tượng mà xuấtphát từ sự thiếu hụt lượng mưa trong một khoảng thời gian dài so với một số điều kiệntrung bình dài hạn Sự xuất hiện và tác động của hạn hán được dự kiến sẽ tăng trongtương lai như biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi tần suất, cường độ và mức độ củahạn hán (IPCC, 2012:13) thêm vào áp lực tăng trưởng dân số và đô thị hóa Đặc biệt ởvùng đất khô hạn hoặc bán khô hạn sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất như các nguồn nước

có sẵn ở mức thấp trong điều kiện bình thường, nhu cầu thường là gần hoặc vượt quákhả năng thích ứng của tự nhiên và xã hội để đối phó với tình hình hạn hán (Dai, 2011trong Van Loon 2013: 4) Do đó, việc quản lý tác động hạn hán trong tương lai thôngqua việc tăng khả năng thích ứng của các cộng đồng địa phương sẽ rất quan trọng.Mỗi quá trình hạn hán gắn liền với không gian và thời gian khác nhau So với lũ lụt,hạn hán phát triển chậm và rất khó để phát hiện và có nhiều tác động trong bất cứ khuvực nào Hạn hán thường được xác định theo hạn khí tượng nông nghiệp, thủy văn vàkinh tế xã hội (Mishra và Singh, 2010) (Hình 1)

Sự biến đổi khí hậu tự nhiên

Thiếu hụt lượng mưa (tổng lượng, cường độ, thời gian)

Nhiệt độ trên cao, gió trên cao, độ

ẩm tương đối thấp, ánh sáng mặt trời lớn, độ che phủ mây thấp

Giảm sự lọc, dòng chảy, sự thấm sâu và gia nhập nước ngầm Gia tăng sự bốc thoát hơi nước

Thiếu hụt nước dưới đất

Căng thẳng kế hoạch về nước, giảm sinh khối và năng suất

Suy giảm dòng chảy tới hồ chứa, hồ,

ao, đầm lầy và môi trường tự nhiên

Tác động kinh tế Tác động xã hội Tác động môi trường

Hình 1: Sơ đồ phân loại các quá trình hạn hán (Nguồn: Trung tâm giảm nhẹ hạn hán

quốc gia, đại học Nebraska-Lincoln, U.S.A)

Trang 8

Theo đó hạn khí tượng xảy ra trước tiên do không mưa hoặc mưa không đáng

kể trong thời gian đủ dài, đồng thời những yếu tố khí tượng đi kèm với sự thiếu hụtmưa gây bốc thoát hơi nước gia tăng Sự thiếu hụt mưa và gia tăng bốc hơi sẽ dẫn đến

sự suy giảm/suy kiệt độ ẩm đất - hạn đất và hạn nông nghiệp ở vùng không được tướixảy ra Sự suy kiệt độ ẩm đất cũng đồng thời dẫn đến sự suy giảm bổ cập nước ngầmlàm giảm lưu lượng và hạ thấp mực nước ngầm Sự suy giảm đồng thời cả dòng mặt

và dòng ngầm dẫn đến hạn thủy văn.Khi hạn khí tượng và hạn thủy văn xảy ra, tùytheo khả năng điều tiết nhân tạo và yêu cầu dùng nước trong lưu vực, hạn nôngnghiệp ở cả những diện tích được tưới và hạn dân sinh kinh tế (thiếu nước sinh hoạt,thiếu nước cho các ngành sản xuất và dịch vụ dẫn đến giảm thu nhập và phát sinhcác vấn đề xã hội khác nhau) có thể xảy ra với mức độ nặng, nhẹ khác nhau

Xu hướng gần đây về sự gia tăng của dao động khí hậu và sự tổn thương vớihạn hán đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tiến hành thiết lập và thực hiện một hệ thốnggiám sát và dự báo tích hợp Công cụ giám sát hạn hán Hoa Kỳ (The US DroughtMonitor) được thành lập năm 1999 để tích hợp tốt hơn các dữ liệu về các điều kiệnhiện tại là một công cụ mới và quan trọng trong việc giám sát hạn hán Công cụ này là

sự liên kết những nỗ lực của Bộ Nông nghiệp Mỹ, Trung tâm Quốc gia giảm thiểuhạn hán, Trung tâm Dự báo Khí hậu (CPC) của NOAA và Trung tâm Dữ liệu Khí hậuQuốc gia (NCDC) và trở thành sản phẩm nghiệp vụ từ ngày 18 tháng 8 năm 1999(Hình 2)

Hình 2: Công cụ giám sát hạn hán ở Hoa KỳGiám sát hạn Bắc Mỹ (NADM) là kết quả hợp tác giữa Hoa Kỳ, Mexico vàCanada bắt đầu từ năm 2002 Bản tin giám sát hạn được cập nhật trên web site http://www.ncdc.noaa.gov/oa/climate/monitoring/drought/nadm và được thể hiện trên (Hình3)

Trang 9

Hình3: Thông tin giám sát hạn hán ở Bắc MỹWMO và UNDP đã thiết lập Trung tâm Giám sát hạn khu vực (DMC) cho VùngSừng lớn Châu Phi (Greater Horn of Africa) vào năm 1989 Sau đó đến năm 2003,DMC tại Nairobi trở thành Viện đặc biệt của Cơ quan quyền lực Liên chính phủ vềphát triển (IGAD) và đổi tên thành Trung tâm dự báo và ứng dụng khí hậu của IGAD(ICPAC) Trung tâm này có trách nhiệm về giám sát, dự báo, cảnh báo sớm và ứngdụng thông tin khí hậu nhằm giảm thiểu nguy hại liên quan đến khí hậu cho VùngSừng Lớn châu Phi Bản tin của ICPAC được cập nhật trên web sitehttp://www.icpac.net (Hình 4).

Hình4: Các sản phẩm liên quan đến khí hậu và hạn hán của ICPAC

Một bản tin dự báo hạn hán thông thường phải bao gồm các thành phần chínhnhư: Giám sát, dự báo và cảnh báo sớm hạn hán; Đánh giá rủi ro và tác động; Kếhoạch giảm nhẹ và ứng phó Chẳng hạn, bản tin giám sát và dự báo hạn của Hoa Kỳphân loại ra được 5 vùng với những kế hoạch ưu tiên khác nhau gồm: vùng có kếhoạch tập trung ứng phó; vùng có kế hoạch tập trung giảm nhẹ; vùng phát triển kếhoạch lâu dài; vùng với kế hoạch hạn hán được giao cho chính quyền địa phương; vànhững vùng không có kế hoạch hạn hán Để có được sự phân vùng như vậy cần có hệthống giám sát, cảnh báo sớm, đánh giá rủi ro và tác động Trên cơ sở bản tin dự báo

Trang 10

về tình hình hạn hán sắp tới mà đề ra các biện pháp giảm nhẹ hoặc ứng phó (Hình 5).

Hình5: Sản phẩm giám sát và dự báo hạn tại Hoa KỳTrong những năm gần đây tình trạng hạn hán có xu hướng ngày càng gia tăng vàkhốc liệt có thể kể đến một số đợt hạn nặng tại một số nước như sau: Năm 2014, nhiềunơi ở Tây Ban Nha bị hạn hán cường độ cao nhất trong hơn một thế kỷ rưỡi Valencia

và Alicante là hai trong những khu vực bị ảnh hưởng tồi tệ nhất Theo cơ quan khítượng của nước nước này, trong vòng 150 năm qua, họ chưa bao giờ chứng kiến mộtđợt hạn hán dài và dữ dội như vậy; Hạn hán Brazil năm 2015, là một đợt hạn hán kéodài ảnh hưởng đến phía đông nam của Brazil bao gồm cả khu vực đô thị của Sao Paulo

và Rio de Janeiro Đợt hạn hán này được mô tả là tồi tệ nhất trong 80 năm qua

Một số khái niệm về đánh giá rủi ro và cấp độ rủi ro do hạn hán

Phân cấp cấp độ rủi ro do thiên tai là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá rủi ro,

là yếu tố quan trọng trong việc tìm kiếm các giải pháp để giảm nhẹ thiên tai và hỗ trợcác cơ quan quản lý ra các quyết định trợ giúp nhanh chóng, kịp thời đến ngườidântrongvùng bị ảnh hưởng

Khái niệm rủi ro đã có nhiều thay đổi theo hướng phát triển trong nhiều nămqua Crichton (2002) đã định nghĩa: Rủi ro là tổn thất tiềm năng của cộng đồng trướcmột hiện tượng tai biến nhất định, nó phụ thuộc vào mức độ tai biến, tính dễ bị tổnthương và độ phơi bày Từ đó tác giả đã đề xuất một tam giác rủi ro và diện tích củatam giác ấy chính là mức độ rủi ro Tam giác được hình thành bởi 3 thành phần là: taibiến, tính dễ bị tổn thương và độ phơi bày Nếu một trong 3 thành phần này tăng lênthì diện tích tam giác tăng lên và kéo theo là mức độ rủi ro tăng theo, ngược lại mức

độ rủi ro sẽ giảm Kế thừa và phát triển nghiên cứu này, năm 2004 Dwyer và cộng sự

đã đề xuất kim tự tháp 3 chiều và thể tích của kim tự tháp là giá trị rủi ro Ba mặt củakim tự tháp đặc trưng cho 3 thành phần là tai biến, tính dễ bị tổn thương và độ phơibày Bất kỳ thành phần nào của kim tự tháp tăng lên đều làm cho thể tích kim tự tháptăng, kéo theo là giá trị rủi ro tăng và ngược lại (Hình 6)

Đến năm 2005, ADRC (Trung tâm giảm nhẹ thiên tai Châu Á) cho rằng rủi ro làgiá trị của thiệt hại như là: tính mạng, tổn thương, tài sản… bị ảnh hưởng bởi hiểm

họa Rủi ro là hàm số của hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và tính phơi bàyvới chú ý

Trang 11

rằng các hiện tượng không được coi là hiểm họa trong chính bản thân chúng Để khắcphục những nhược điểm này ADRC đã cải tiến và sử dụng 3 vòng tròn đặc trưng cho

3 thành phần và độ rủi ro được xác định là phần diện tích giao nhau giữa 3 vòng tròn

(Hình 6).“Tính dễ bị tổn thương” được định nghĩa là điều kiện kết quả từ các nhân tố

hoặc quá trình vật lý, xã hội, kinh tế và môi trường Nó làm tăng tính nhạy của cộng

đối đối với tác động của hiểm họa tự nhiên “Độ phơi bày” đặc trưng cho các đối

tượng bị ảnh hưởng bởi hiểm họa tự nhiên như người và tài sản

Hình6: Biểu đồ xác định rủi roTheo IPCC, rủi ro thiên tai được định nghĩa là khả năng xảy ra các thay đổinghiêm trọng trong các chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội ởmột giai đoạn thời gian cụ thể, do các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện

dễ bị tổn thương của xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với conngười, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng cácnhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phụchồi (IPCC, 2012a: 31) (Hình 7) Rủi ro thiên tai xuất hiện từ việc kết hợp giữa hiểmhọa tự nhiên và tính dễ bị tổn thương của các yếu tố bị phơi bày trước hiểm họa, vàlàm tăng khả năng không thực hiện các chức năng bình thường của xã hội khi thiên taixảy ra

Theo đó, rủi ro thiên tai được cấu thành từ 3 yếu tố: (1) hiểm họa (hazard); (2)Mức độ phơi bày trước hiểm họa (exposure); và (3) Tính dễ bị tổn thương(vulnerability) Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì không hình thành rủi ro thiên tai.Hiểm họa là khả năng xảy ra trong tương lai của các hiện tượng tự nhiên hoặc do conngười gây ra, có tác động bất lợi đến các đối tượng dễ bị tổn thương và nằm trongphạm vi ảnh hưởng của hiểm họa đó (IPCC, 2012: 32, 69) Một hiện tượng khí hậuđược coi là một hiểm họa khi mà các yếu tố xã hội hoặc sinh thái môi trường dễ bịtổn thương và bị phơi bày trước những tác động tiêu cực nguy hiểm của hiện tượngkhí hậu Trong nghiên cứu này, hiểm họa được coi là một mối đe dọa tiềm tàng vớicác tác động bất lợi, chứ không dùng để chỉ các bản chất của hiện tượng tự nhiên đó.Hiểm họa là một thành phần của rủi ro thiên tai chứ không phải là sự rủi ro hoặc mộtthiên tai

Trang 12

Hình 7: Các khái niệm chính của SREX Việt Nam

Một số nghiên cứu đánh giá rủi do thiên tai đã được thực hiện trên thế giới.

Hiện tại trên thế giới và một số nước phát triển đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu đánh giá rủi ro thiên tai như hạn hán, lũ lụt và các loại hình thiên tai khác.Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu và mục tiêu của đề tài tập trung chủ yếu về phâncấp rủi ro thiên tai do hạn hán vì vậy chúng tôi chỉ tập trung đưa ra những nghiên cứutiêu biểu về hạn như sau:

Kinh nghiệm phòng chống hạn trên thế giới cho thấy để giảm nhẹ thiệt hại dohạn hán một cách có hiệu quả cần thực hiện tốt mọi thành tố của một chu trình quản

lý thảm hoạ thiên tai (hình 8), bao gồm hai giai đoạn chính:

(1) Giai đoạn quản lý rủi ro

(2) Giai đoạn quản lý sự cố

Hình 8: Chu trình quản lý thiên tai

Trang 13

Mức rủi ro hay thiệt hại do hạn hán gây ra, giống như mọi loại hình thiên taikhác, được xác định bằng công thức sau:

.Nghĩa là rủi ro hay mức độ thiệt hại của một thảm họa tăng thuận theo cường độcủa thiên tai và tính dễ tổn hại của đối tượng (hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống sảnxuất, cây trồng, vật nuôi ) và giảm nếu có một hệ thống quản lý thiên tai có hiệu quả.Phân tích rủi ro xác suất là một cách tiếp cận mục tiêu được áp dụng để đánh giácác tác động của thiên tai Phương pháp xác suất không chỉ xử lý tốt các biến khôngchắc chắn trong các hiện tượng tự nhiên nguy hiểm, mà nó cũng quản lý các sự kiệnlịch sử thường được giới hạn khách quan trong khi thiết kế các phương án ứng phóphù hợp (Gross và Kunreuther, 2005) Các thành phần xây dựng cở bản trong phântích rủi ro xác suất là: nguy cơ hiểm họa, tính phơi lộ, tính dễ bị tổn thương và tổnthất (Hình 9).Nguy cơ hiểm họa đại diện cho sự xuất hiện và mức độ nghiêm trọngcủa sự bất lợi Tính phơi lộ đại diện cho tài sản có nguy cơ Tính dễ bị tổn thương đạidiện cho các thiệt hại tiềm năng để tiếp xúc tương ứng với mức độ nguy hiểm nghiêmtrọng khác nhau

Hình 9: Mô hình xác suất đánh giá rủi ro hạn hánTrình tự các bước liên quan trong việc thực hiện đánh giá xác suất của hạn hántrong đề tài này được giải thích chi tiết trong hình 10 Thành công chung của việcđánh giá rủi ro hạn hán không chỉ phụ thuộc vào việc phân tích rủi ro theo xác suất

mà còn phụ thuộc vào các hoạt động, công tác chuẩn bị cũng như tổ chức các cuộc

Trang 14

thảo luận, truyền đạt các mục tiêu của nghiên cứu, các phương pháp áp dụng trongphân tích, yêu cầu dữ liệu phục vụ các bên liên quan trong nghiên cứu.

Hình 10: Các bước áp dụng trong đánh giả rủi ro hạnTrong báo cáo số 6 về phương pháp tiếp cận xem xét các nhân tố khác nhau ảnhhưởng đến tính dễ bị tổn thương cho các nước Châu Âu do Lucia De Stefano và cộng

sự thuộc Đại học UPM-Kỹ thuật Madrid, Đại học Freiburg, Đức (ALU-FR) và đại họcOslo, Na Uy (UIO) thực hiện năm 2015 đã đưa ra ví dụ về đánh giá tính dễ bị tổnthương cho các nước Châu Âu Theo đó toàn bộ dữ liệu đã được bình thường hóa vớimột phạm vi quy mô 0-1, bằng cách sử dụng phương pháp Min-Max (OECD,2008,Deems, 2010, Pereira et al 2014) để cho phép sự kết hợp của các biến có các đơn

vị khác nhau( chuẩn hóa số liệu) Cácbiến giả thuyết là tương quan thuận với tính dễ bịtổn thươngdo hạn hán (như yếu tố liên quan đến tính nhạy, tính phơi bày) đã đượcchuẩn hóa theo phương trình 1, và biến có tương quan nghịch với nó (năng lực chốngchịu) được chuẩn hóa theo công thức 2

minEmaxE

minEie)ie(Normalized

minEmaxE

emaxE)ie(

Trang 15

Tính dễ bị tổn thương được tính theo công thức: V= E+S – AC Trong đó: Vtính dễ bị tổng thương, E tính phơi bày, tính nhạy, AC khả năng chống chịu.

Bảng 1: Phân cấp tính phơi bày

Giới hạn

giá trị SPEI

Xác suấtlũy tích Xác suất

Chu kỳ lặp lại (năm)

Tính phơi bày0-0.99 50% 33.90% 2 Cao

Trong kết quả này khu vực có giá trị SPEI với thời gian quay trở lại cao(khoảng từ 2 đến 6,2 năm, tùy thuộc vào lớp) có liên quan đến tác động của hạnhánđược coi làcó phơi bày cao hoặc trung bình cao, với thời gian quay trở lại 14,7năm được coi là có phơi bày trung bình thấp, với thời gian quay trở lại 42,9 nămđược coi là có phơi bày trung bình thấp

Hình 11a: Bản đồ tính dễ bị tổn thương

cấp vùng

Hình 11b: Phân tích nhóm thành phầntính dễ bị tổn thương cấp quốc gia dựatrên phương pháp Ward

Hình 11: Bản dồ tính dễ bị tổn thương cấp vùng Ngoài bản đồ tính dễ bị tổn thương cho từng vùngđược thành lập, nghiên cứu

Trang 16

còn thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương cho từng cụm dựa trên việc phân tíchnhóm thành phầnđể giúp nhận dạng nhóm các nước mà có hành độngtương tự nhauliên quan đến toàn bộ quá trình thiết lập các yếu tố dễ bị tổn thương Phân tích nhómthành phần này được dựa trên phương pháp sai phân tối thiểu của Ward vàsử dụngkhoảng cách Euclide bình phương giữa các điểm Các nước này nhìn chung có bốicảnh điều kiện địa lý và kinh tế xã hội tương tự nhau.

Nghiên cứu của Vanessa Cancado và các cộng sự 2008 xác định rủi ro do lũquét bằng phương pháp chỉ số thông qua việc tính chỉ số hiểm họa và tính dễ bị tổnthương: RT = H × VT; VT = f (E, I) Trong đó: RT = Rủi ro; H = chỉ số hiểm họa đượctính từ hàm của vận tốc và độ sâu ngập lụt; VT = chỉ số dễ bị tổn thương về dân số; E

= chỉ số dễ bị tổn thương về kinh tế- xã hội and I = chỉ số phục hồi

Bảng 2: Chỉ số rủi ro và thiệt hại do lũ tại khu vực đô thị Manhuacu với sự kiện lũcó

khoảng thời gian lặp lại 100 năm

Sản phẩm nghiên cứu của Vanessa Cancado là bản đồ rủi ro với tần suất hiện

100 năm 1 lần và thiệt hại tiềm năng tính toán cho khu vực đô thị hoá của thành phốManhuacu

Martina Zelenakova và các cộng sự (2015)nghiên cứu sử dụng phương pháp matrận để đánh giá rủi ro do lũ quét dựa vào hiểm họa (H) là bề mặt lưu vực và tính dễ bịtổn thương của đất dưới điểm tới hạn (V) cho các lưu vực sông Hiểm họa bề mặt sẽđóng vai trò là quy mô rủi ro do lũ quét và đước xác định dựa vào chỉ số điều kiện tớihạn (C4)

C4 = (a1*P)+ (a2*A)+ (a3*I) + (a4*L) + (a5*S)Trong đó: P là giá trị tương đối của tổng lượng mưa ngày với thời kỳ lặp lại 100năm, A liên quan đến thành phần bề mặt, I là độ dốc trung bình bề mặt (%), S là thànhphần đất nặng có trên bề mặt (%), a1-a5 là các trọng số được tính bằng phương phápAHP Hiểm họa được chia thành 3 cấp: Cao A (C4>17,66), trung bình B (C4=8.1-17.68) và thấp C (C4<8)

V= (C1*V1) + (C2*V2)Trong đó: C1 là khu vực xây dựng (các khu vực có tính dễ bị tổn thương caonhư toàn nhà, trường học… A(3), các khu vực có tính dễ bị tổn thương trung bình nhưcông trình văn hóa, khu vui chơi giải trí… B(2), các khu vực có tính dễ bị tổn thươngthấp như công trình giao thông vận tải, khu công nghiệp… C(1))C2: Mật độ xây dựng

Trang 17

(C2 >70% diện tích: mức độ tổn thương cao A(3), C2 >30-7070% diện tích: mức độtổn thương trung bình B(2), C2 <30% diện tích: mức độ tổn thương thấp C(1))V1, V2

Rủi ro ( R )

Phân cấp rủi ro

Trong phần Guide Book đánh giá rủi ro cho các loại thiên tai với nội dung phântích rủi ro của Cees van Westen cho rằng phương pháp đánh giá rủi ro định tính dựatrên kinh nghiệm của các chuyên gia và các khu vực có nguy cơrủi rođượcphân loạivới các mức như nguy cơ rủi ro“rất cao”, “cao”, “trung bình”, “thấp” và “rất thấp”(Bảng 3) Số lượng các lớp phân loại có thể khác nhau nhưng thường là ba hoặc nămlớp và nên có một chỉ dẫn gắn với điều kiện thực tế (ví dụ tại các khu vực có nguy cơrất cao thường là các khu vực bị ảnh hưởng ngay lập tức, không có khả năng hồi phục

và cơ sở hạ tầng không được phép phát triển trong khu vực này) Fell (1994) đề xuấtđịnh nghĩa thuật ngữ cho đánh giá rủi ro định tính có xem xét phân loại độ lớn, xácsuất, hiểm họa,dễ bị tổn thương và thiệt hại cụ thể Một thuật ngữ được đề xuất đểđánh giá rủi ro chotài sản được phát triển bởi Hội địa cơ học Úc và các Tiểu banSạt lởQuản lý rủi ro (AGS, 2000) xem xét đến sự kết hợp giữa khả năng xảy ra vàhậu quả

có thể xảy ra như trong bảng 4 Phương pháp này được áp dụng để phân tích khônggiancó sử dụng GIS Cách tiếp cận này thường được áp dụng ở cấp quốc gia hoặc khuvực như trong hệ thống phân cấp các biến định lượng này là không có sẵn, hoặcchúng cần phải được tổng quát hóa

Bảng 4: Ma trận phân tích rủi ro định tính- rủi ro đối với tài sản (VH rất cao, H cao,

Trang 18

Cao C B A A

Thấp Trung bình Cao Rất cao Cao Sự kiện xảy ra với tần suất lớn hơn 1 lần trong 10 năm

Trung bình Sự kiện xảy ra với tần suất 1 lần/10 năm đến 1 lần/100 năm Thấp Sự kiện xảy ra với tần suất 1 lần/100 năm đến 1 lần/1000 năm Rất thâp Sự kiện xảy ra với tần suất nhỏ hơn 1 lần/100 năm

Ma trận rủi ro thiên tai dựa trên các tiêu chí phân

loại theo xác suất xảy ra và tiềm năng thiệt hại(Van

Westen và cộng sự thuộc UNU, 2012)

A: Rât cao (sự kiện thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại rất lớn hoặc sự kiện

hay xảy ra gây thiệt hại rất lớn)

B:Cao (sự kiện thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại trung bình/ Sự kiện khá,

ít xảy ra gây thiệt hại lớn (rất lớn))

C: Trung bình (sự kiện thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại thấp hoạc ít xảy

ra gây thiệt hại lớn (rất lớn))

D: Thấp (sự kiện ít xảy ra, gây thiệt hại thấp)

Tiềm năng thiệt hại

Số người tử vong, bị thương Tác động lên cơ sở vật chất, hạ tầng Thiệt hại về tài sản

Gián đoạn công việc kinh doanh Các tác động môi trường và kinh tế

và chính xác càng tốt, việc phát triển các thành phần của chỉ số hiểm họa, hậu quả vàrủi ro được trình bày trong 1 fomat định tính khác Một lần nữa hiểm họa được ướclượng định tính, kết quả được đánh giá cho các yếu tố khác nhau bị thiệt hại nhưđường sắt, đường bộ…Mỗi loại kết quả được đánh giá theo các mức VH, H, M, L, VL(Bảng 5)

Bảng 5: Đánh giá định tính phân cấp cấp độ hiểm họa (Ko Ko et al 2004)

>100

Sự kiện này được dự kiến

​​

và có thể được kích hoạt bởi điều kiện dự kiến

60-80 Sự kiện này có thể được kích hoạt bởi điều kiện dự

kiến

​​

40-60 Sự kiện này có thể được kích hoạt bởi điều kiện dự kiến

​​

trong khoảng thời gian 500-5000 năm 0.002-0.0002 (500-5000 năm) L

<40

Sự kiện này có khả năng và có thể được kích hoạt

trong trường hợp đặc biệt với khoảng thời gian quá

5000 năm

> 0.0002 (>5000 năm) VL

b Trong nước

Tình hình hạn hán ở khu vực Tây Nguyên

Hạn hán là dạng thiên tai mà tác động của nó thường tích lũy một cách chậmchạp trong một khoảng thời gian dài và có thể kéo dài trong nhiều năm sau khi đợt

Trang 19

hạn kết thúc Do vậy, tác động của hạn hán thường khó nhận biết hơn và khi nhận biếtđược thì sự thiệt hại đã xảy ra đáng kể Hạn hán thường gây ảnh hưởng trên diện rộng

và ít khi là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thất về người nhưng thiệt hại về kinh tế dohạn gây ra lại rất lớn Thiệt hại do hạn hán thường xếp hàng thứ nhất hoặc thứ haitrong số các loại hình thiên tai phổ biến Hạn hán có tác động to lớn đến môi trường,kinh tế, chính trị xã hội và sức khoẻ con người Ở Việt Nam, hạn hán xảy ra ở cácvùng với mức độ và thời gian khác nhau

Khu vực Tây Nguyên thuộc 1 trong những vùng khô hạn nhất ở nước ta, hệthống sông suối tuy khá phát triển nhưng do địa hình dốc, chiều dài dòng chảy ngắnnên vào mùa mưa thường chảy xiết, còn vào mùa khô thì hầu như khô kiệt, do đónguồn nước mặt hạn chế Thêm vào đó, tình trạng quy hoạch không bền vững của hệthống thủy điện được xây dựng tràn lan trên các hệ thống sông, sự khai thác nguồnnước ngầm không có quy hoạch và sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm thiên tai hạnhán trên khu vực ngày càng trở nên gay gắt hơn Có thể nêu các ví dụ điển hình vềthiệt hại do hạn hán gây ra ở Tây Nguyên như sau:

- Hạn đông xuân năm 1994-1995: hạn xảy ra gay gắt ở một số tỉnh thuộc TâyNguyên, trong đó tỉnh Đắc Lắc đã bị hạn chưa từng thấy trong 50 năm qua, hạn hán

đã ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng, đặc biệt là cà phê - nguồn kinh tế lớn của nhândân địa phương, nước sinh hoạt hàng ngày cũng bị thiếu nghiêm trọng Thiệt hại chosản xuất khoảng 600 tỷ đồng

- Thiên tai hạn hán năm 1997-1998: với ảnh hưởng của El Nino hoạt độngmạnh từ tháng 5/1997 đến tháng 4/1998 làm cho nhiều nước trên thế giới cũng bị hạnhán nghiêm trọng, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế và sự phát triển của xã hội, trong

đó có Việt Nam Mùamưa năm 1997 kết thúc sớm hơn 1 tháng; 6 tháng đầu năm 1998lượng mưa bình quân đều thiếu hụt so với TBNN từ 30-70%; vùng Tây Nguyênhầu nhưkhông mưa vào các tháng 3-6/1998 Mực nước các sông lớn đều thấp hơn TBNN cùng

kỳ từ 0,5-1,5m Đến đầu tháng 4/1998, dòng chảy trên các sông suối nhỏ ở TâyNguyên còn rất nhỏ hoặc khô hạn Một số hồ chứa thủy lợi đều xấp xỉ mực nước chếthoặc khô cạn Hạn hán đã gây thiệt hại rất nghiêm trọng: trên 120.000ha lúa bị mấttrắng,gần 51.000 ha cây công nghiệp và cây ăn quả bị chết, 3,1 triệu người thiếu nướcsinh hoạt Chỉ tính riêng thiệt hại về vật chất trong nông nghiệp ở Việt Nam đã tới con

số 5.000 tỷ đồng

- Hạn hán năm 2002: hạn hán nghiêm trọng đã diễn ra trên các tỉnh từ QuảngBình đến Bình Thuận, Gia Lai và Đắc Lắc gây thiệt hại về mùa màng, gây cháy rừngtrên diện rộng, trong đó có cháy rừng lớn ở các khu rừng tự nhiên U Minh thượng và

U Minh hạ

- Hạn hán năm 2003: Hạn hán bao trùm hầu khắp Tây Nguyên, gây thiệt hạicho khoảng 300 ha lúa ở Kon Tum, 3000 ha lúa ở Gia Lai và 50.000 ha đất canh tác ởĐắk Lắc; thiếu nước cấp cho sinh hoạt của 100.000 hộ dân Chỉ tính riêng cho ĐắkLắc, tổng thiệt hại ước tính khoảng 250 tỷ đồng

Trang 20

- Hạn hán thiếu nước năm 2004-2005: xảy ra trên diện rộng nhưng khôngnghiêm trọng như năm 1997-1998 Ở Miền Trung và Tây Nguyên, nắng nóng kéo dài,dòng chảy trên các sông suối xuống thấp và ở mức thấp hơn trung bình nhiều nămcùng kỳ, một số suối cạn kiệt hoàn toàn; nhiều hồ, đập dâng hết khả năng cấp nước.Tổng thiệt hại do hạn hán gây ra ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã lên tớitrên 1.700 tỷ đồng.

- Trong năm 2006, từ những tháng đầu năm cho đến những tháng cuối năm, dolượng mưa bị thiếu hụt so với trung bình nhiều năm nên tại rất nhiều nơi tình trạngthiếu nước dẫn đến khô hạn rồi hạn hán cục bộ xảy ra liên tục, rải rác ở một số tỉnhtrong cả nước

- Trong 4 tháng đầu năm 2007 và 3 tháng IV, V, VII của năn 2008 hạn háncục bộ xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, trong đó nặng nề nhất là các tỉnhthuộc Tây Nguyên và Nam Bộ

- Hạn hán thiếu nước mùa khô năm 2009 – 2010: là năm rất nhiều khu vựctrên thế giới, trong đó có Việt Nam hạn hán đã xảy ra Trên các hệ thống sông, suốitoàn quốc, dòng chảy đều thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm, có nơi tới 60-90%; mực nước nhiều nơi đạt mức thấp nhất lịch sử đã gây thiếu nước cho sinh hoạt

và sản xuất nông nghiệp

- Gần đây nhất do tác động của El Nino trong năm 2015-2016, hạn hán diễn rakhốc liệt nhất trong 15 năm qua ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Ở khu vực TâyNguyên, lượng nước trên các ao hồ, công trình thủy lợi rơi vào tình trạng cạn kiệt vàgây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp Theo kết quả công bố thiên tai (hạn hán) chomột số địa phương: Tây Nguyên đã có gần 175.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng hạnhán (Kon Tum 3.800 ha, Gia Lai 46.000 ha, Dak Lak 80.000 ha, Dak Nông 23.000 ha,Lâm Đồng 31.300 ha), trong đó có 33.000 ha lúa (trên 5.000 ha mất trắng và thiệt hạitrên 70%), 135.000 ha cà phê (20.000 ha mất trắng và thiệt hại trên 70%), 2.500 ha hồtiêu, khoảng 3.000 ha hoa màu và hơn 1.500 ha cây ăn quả và cây trồng khác; 88.200

hộ dân thiếu nước sinh hoạt (Kon Tum 11.500 hộ, Gia Lai 15.000 hộ, Dak Lak 35.200

hộ, Dak Nông 10.000 hộ, Lâm Đồng 7.000 hộ) và hàng nghìn hec-ta rừng bị khôcháy Tổng thiệt hại toàn vùng lên đến gần 4.000 tỷ đồng (Kon Tum 160 tỷ, Gia Lai

200 tỷ, Dak Lak 2.200 tỷ, Dak Nông 1.200 tỷ và Lâm Đồng 180 tỷ) Theo Ban Chỉđạo Tây Nguyên, con số thiệt hại còn lên đến 5.400 tỷ đồng

Đánh giá rủi ro thiên tai nói chung và do thiên tai hạn hán nói riêng.

Ngày 19/6/2013, Luật phòng, chống thiên tai đã được ban hành, trong điều 18quy định:

1 Rủi ro thiên tai được phân thành các cấp độ Cấp độ rủi ro thiên tai là cơ sở choviệc cảnh báo, chỉ đạo, chỉ huy, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai

2 Chỉ số phân cấp độ rủi ro thiên tai bao gồm:

a) Cường độ hoặc mức độ nguy hiểm của thiên tai;

b) Phạm vi ảnh hưởng;

Trang 21

c) Khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản, công trình hạ tầng và môi trường.

Như vậy, cấp độ rủi ro thiên tai là sự phân định mức độ thiệt hại do thiên tai có thểgây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội.Trong đó cấp độ rủi ro thiên tai được phân cấp đối với từng loại thiên tai, căn cứ vàocường độ, phạm vi ảnh hưởng, khu vực chịu tác động trực tiếp và khả năng gây thiệthại của thiên tai

Căn cứ Luật phòng, chống thiên tai , ngày 15/8/2014, Thủ tướng Chính phủ đãban hành quyết định số 44/2014/QĐ-TTG về Quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiêntai trong chương II, điều 7 có quy định về cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán Việcphân cấp cấp độ rủi ro do hạn hán chỉ số dựa trên hai loại hạn là hạn khí tượng và hạnthủy văn và căn cứ vào mức độ, phạm vi ảnh hưởng, khu vực chịu tác động trực tiếp

và khả năng gây thiệt hại mà phân thành 4 cấp: cấp 1 màu xanh dương nhạt là rủi ronhỏ, cấp 2 màu vàng nhạt là rủi ro trung bình, cấp 3 mà da cam là rủi ro lớn, cấp 4màu đỏ là rủi ro rất lớn

Có thể thấy, đánh giá rủi ro là tiền đề cho việc phân cấp cấp độ rủi ro, làm cơ sở

để các cơ quan quản lý có quyết sách nhanh chóng và phù hợp trong công tác phòngtránh thiên tai, hỗ trợ kịp thời người dân trong vùng chịu ảnh hưởng

Nhìn chung, rủi ro thiên tai được cấu thành từ 3 yếu tố: (1) hiểm họa (hazard);(2) Mức độ phơi bày trước hiểm họa (exposure); và (3) Tính dễ bị tổn thương(vulnerability) tuy nhiên trên thực tế việc xác định hàm số rủi ro và các yếu tố cấu thànhcũng như phân cấp rủi ro phụ thuộc nhiều vào mục tiêu đánh giá rủi ro, với những mụctiêu đơn giản, hàm rủi ro không nhất thiết phải bao gồm đầy đủ 3 chỉ tiêu trên mà đôikhi chỉ cần dựa trên 1 chỉ tiêu như hiểm họa hoặc tính phơi bày nhưng với những mụctiêu đòi hỏi phải xem xét tổng thể các yếu tố chịu ảnh hưởng của rủi ro thì cần đánh giáđầy đủ các chỉ số Các biến thành phần tương ứng của các chỉ tiêu cũng được lựa chọntùy thuộc vào mục đích đánh giá rủi ro, nếu đơn giản thì chỉ cần 1 vài thành phần đặctrưng điển hình đại diện, nếu không sẽ phải phân tích chi tiết tất cả các thành phần cấutạo nên các chỉ số hiểm họa, phơi bày hay tính dễ bị tổn thương

Việc phân cấp rủi ro thông thường được thực hiện trên từng chỉ số cấu thành nênrủi ro, phân cấp chủ yếu dựa theo 2 phương pháp định tính và định lượng, tùy thuộc yêucầu đánh giá mà sử dụng phương pháp cho phù hợp Với mục tiêu đơn giản, chi phíthấp, phân cấp chủ yếu theo phương pháp định tính có đi kèm với chỉ dẫn cụ thể (ví dụhiểm họa cấp cao thường gắn với nguy cơ xảy ra hay thiệt hại tiềm tàng cao và ngượclại), với những yêu cầu cao hơn, phương pháp định lượng được sử dụng thông qua tínhđiểm hoặc các trọng số, điểm hoặc trọng số có thể xác định theo mức độ đóng góp củacác chỉ số hoặc các biến thành phần vào rủi ro hoặc theo phương pháp xác suất

Các phương pháp đánh giá rủi ro ngày càng phát triển đa dạng, có thể nhóm lạitheo hai hướng đánh giá: (1) trực tiếp - mang tính định tính và (2) gián tiếp – mangtính định lượng (thông qua bộ chỉ số), hiện nay phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam

là các phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp tích hợp bản đồ và phương pháp

Trang 22

chỉ số.

Phương pháp điều tra xã hội học có ưu điểm là thông tin nhận được từ đối tượngchịu rủi ro và có thể cho các nhận định nhanh chóng, rất tiện lợi cho việc lập các báocáo ước tính thiệt hại (ước tính tổn thương tức thời) Tuy nhiên, để phục vụ việc lậpquy hoạch hay xây dựng một chiến lược dài hạn ứng phó với tai biến thì dừng lại ởđiều tra xã hội học là chưa đủ vì còn mang tính chủ quan của người hỏi lẫn người trảlời

Phương pháp tích hợp bản đồ có ưu điểm là thu thập được nhiều thông tin (đặcbiệt là tự nhiên), tuy nhiên các thông tin này không đồng nhất (phương pháp, tỷ lệ,khác nhau…) do đó, nên áp dụng phương pháp cũng chỉ để bổ sung số liệu Kết quả củabản đồ thành phần tự nhiên là tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người, tuynhiên tính dễ bị tổn thương lại phụ thuộc vào chính bản thân đối tượng nghiên cứu Dovậy, chỉ sử dụng phương pháp này để đánh giá tính dễ bị tổn thương cho một lưu vực

cụ thể là chưa trọn vẹn, vì thiếu sự tác động của yếu tố kinh tế - xã hội lên hệ thống Việc thu thập thông tin để xác định 4 chỉ số thường không đồng nhất (quy mô,thứ nguyên, vv ) cho nên các nhà nghiên cứu đã đề xuất tính toán tính rủi ro thôngqua chỉ số, các yếu tố cấu thành nên rủi ro như mức độ tổn thương, nguy cơ hiểm họa,tính phơi bày được chuẩn hóa và tính toán dưới dạng các chỉ số đặc trưng, phươngpháp này phản ánh được mức độ đóng góp của các yếu tố thành phần cũng như mức

độ tác động của từng yếu tố đến mục tiêu cần thực hiện đánh giá rủi ro

Chỉ số rủi ro được coi là hàm số của các chỉ số nguy cơ hiểm họa H, độ phơibày E, tính nhạy S và khả năng chống chịu AC theo công thức:

Sử dụng bảng ma trận đánh giá rủi ro tổng hợp các chỉ số nguy cơ hiểm họa,tính phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương trong đó đặc biệt quan tâm tớinhận thức về rủi ro của cộng đồng Ma trận rủi ro được sử dụng trong quá trình đánhgiá rủi ro; nó cho phép xác định được mức độ nghiêm trọng của rủi ro (phân cấp cấp

độ rủi ro) khi hiểm họa xảy ra

Những nghiên cứu liên quan đến phân cấp cấp độ rủi ro do thiên tai ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều các đề án, dự án đã và đang được tổ chức thực hiện

đã minh chứng cho nỗ lực của nhà nước và nhân dân ta trong sự quyết tâm giảm thiểuthiệt hại do hạn hán gây ra

Tuy nhiên, ngoài một số văn bản pháp lý liên quan chưa có 1 nghiên cứu chính thứcnào về phương pháp cũng như chỉ số phân cấp cấp độ rủi ro do thiên tai do hạn hán gây ra

Trang 23

mà chỉ tập trung chủ yếu vào các loại hình thiên tai như lũ lụt, nước biển dâng, đặc biệtchưa có nghiên cứu nào hỗ trợ các nhà dự báo trong quá trình tác nghiệp về phân cấp cấp

độ rủi ro Một số các nghiên cứu tiêu biểu đã được thực hiện như:

- Đề tài: “ Đánh giá mức độ rủi ro vùng bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế do nước biển dâng

và xây dựng phần mềm trợ giúp ra quyết định” do Viện Cơ học thực hiện năm 2010 Đề

tài đã hoàn thiện các mô hình số trị TSIM08 tính toán nước dâng do bão với các tính năngmới cho phép ghép lưới, tính đến địa hình khô - ướt để mô phỏng 344 lớp ngập lụt tươngứng với 1.000 năm bão và từ đó xây dựng 15 lớp ngập lụt tổng hợp nước dâng bão ứngvới tần suất 1%, 2%, 5%, 10% và 20% và nước biển dâng do biến đổi khí hậu 0cm, 30cm

và 75cm, xây dựng được Cơ sở dữ liệu GIS rủi ro ngập lụt vùng ven biển tỉnh ThừaThiên - Huế do nước dâng bão và nước biển dâng do biến đổi khí hậu, xây dựng Phầnmềm mô phỏng khả năng ngập lụt do nước dâng bão trong tương lai và từ đó sẽ đưa ranhững quyết định ứng cứu kịp thời và hiệu quả hơn đối với hiện tượng thiên tai này

- Nghiên cứu: “Đánh giá các thông số rủi ro do lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng

sông Hồng, Việt Nam” do Nguyễn Mai Đăng (2011) đã nghiên cứu xây dựng chỉ số rủi

ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng Khái niệm tính dễ bị tổn thươngđãđược tác giả mở rộng và khái quát: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các côngtrình phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác Tuy nhiên, các tham sốđược đưa vào tính toán chỉ số dễ bị tổn thương còn hạn chế, chưa bao trùm và phản ánhhết các yếu tố xã hội, đặc biệt đặc trưng quan trọng nhất là tình hình sử dụng đất đã khôngđược xem xét Nguyen Mai Dang đã sử dụng thuật toán phântích hệ thống phân cấp(AHP) để xác định trọng số của các tham số trong từng chỉ số Phân tích cặp trong AHP

để xác định trọng số được lấy theo ý kiến chuyên gia Các giá trị như tai biến lũ được lấy

từ kết quả mô phỏng lũ lịch sử năm 1971 còn số liệu về kinh tế xã hội trong tham số tổnthương và môi trường được thu thập được từ Niên giám thống kê để từ đó xây dựng bản

đồ rủi ro lũ cho khu vực nghiên cứu Nghiên cứu này đã mang tính tổng hợp, tuy nhiênvẫn thiên về yếu tố tự nhiên của hệ thống Ở đây các tham số được sử dụng là rất hạn chế,yếu tố kinh tế chỉ có 04 tham số, yếu tố xã hội chỉ có 04 tham số Lượng thông tin nàythực sự chưa thể hiện hết được bức tranh kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu Cũng trongcông trình này, ngoài hiện trạng sử dụng đất thì các tham số thể hiện khả năng chốngchịu của người dân chưa được quan tâm đúng mức

- Nghiên cứu của Hà Hải Dương và nnk (2012), "Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương

biến đổi khí hậu" đăng trên Tạp chí Khoa học-Công nghệ Thủy lợi - Viện Khoa học

Thủy lợi Việt Nam, 07(03/2012), đã đưa ra được cách đánh giá tính dễ bị tổn thươngtheo phương pháp chỉ số, một trong 3 phương pháp đánh giá rủi ro, đây cũng là phươngpháp hiện nay đang được áp dụng phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam

- Trong nghiên cứu "Nghiên cứu xây dựng quy trình đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương

do biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp" doTrần Thục, Nguyễn Thị Hiền Thuận, Huỳnh

Thị Lan Hương, Đặng Quang Thịnh, Đào Minh Trang (2012) đăng trên Tuyển tập Hộithảo khoa học quốc gia về Khí tượng, Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu, Viện

Trang 24

Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường năm 2012 đã ứng dụng phương pháp chỉ

số đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp, tuy nhiêncác nghiên cứu nàychủ yếu coi các biến thuộc thành phần tính nhạy là các yếu tố tronglĩnh vực nông nghiệp chứ chưa bàn đến tính nhạy từ cộng đồng và kết cấu của xã hội Vàhạn chế của những công trình này là chưa tính được các chỉ số về khả năng chống chịu ởmức toàn diện

- Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bịtổn thương

do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn phục vụ quy hoạch phòng chốngthiên tai” do tác

giả Cấn Thu Văn thực hiện với mục tiêu phân tích và lựa chọn được phương pháp đánh

giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt có cơ sở khoa học, thiết lập được bộ chỉ số cơ bảnphù hợp cho việc đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia - ThuBồn, xây dựng thành công bộ chỉ số và bản đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụttrên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn từ đó đề xuất các giải pháp quy hoạch và quản lý

lũ trên lưu vực sông nghiên cứu

- Dự án: “Thành lập bản đồ dễ bị tổn thương sức khỏe dân cư Việt Nam dưới tác độngbiến đổi khí hậu” do Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Sức khỏe Nông thônthực hiệnnăm 2011 Một trong những sản phẩm của dự án là bộ bản đồ phân cấp tính dễ bị tổnthương năm 2009 đến sức khỏe của người dân dưới tác động của biến đổi khí hậu Sửdụng công thức tính dễ bị tổn thương của IPCC V= f( tính phơi bày E, tính nhạy S vàkhả năng chống chịu A), sử dụng phương pháp đánh giá chỉ số phát triển con người(HDI) của UNDP (2006) để chuẩn hóa dữ liệu và tính trọng số dựa trên mức độ quantrọng của các nhân tố ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu

Trong đó, tính dễ bị tổn thương của 63 tỉnh thành trên cả nước được phân thành

10 cấp dựa trên chỉ số dễ bị tổn thương, cấp cao nhất 0,89-1,0, cấp cao thứ 2 0,88, cấp cao thứ 3 0,69-0,79

0,79- Những nghiên cứu điển hình về hạn hán trong những năm gần đây

Trong bối cảnh thiên tai đang có xu hướng cực đoan hơn bởi tác động của biếnđổi khí hậu, công tác phòng, chống thiên tai được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xácđịnh là một trong những nhiệm vụ ưu tiên và xuyên suốt trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội Bên cạnh đầu tư kinh phí và sức lực liên tục trong nhiều năm để xâydựng hệ thống các công trình, cơ sở vật chất phòng chống thiên tai, Nhà nước đã quantâm đầu tư cho những nghiên cứu về hạn hán nhằm giảm nhẹ những thiệt hại do hạnhán gây ra

Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hạn hán đã được thực hiện trong 10 năm trở lạiđây, những nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào 2 vấn đề chính là nghiên cứu cơ bản

về hạn hán và tác động tới dân sinh, kinh tế, xã hội và các giải pháp, phòng chống vàgiảm nhẹ hạn hán như:

- Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu các giải pháp giảm nhẹ thiên tai hạn hán ở các

tỉnh Duyên hải Miền trung từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận”, do GS.TS Đào Xuân Học

-Trường Đại học Thuỷ lợi làm chủ nhiệm thực hiện từ năm 1999 - 2001 Đề tài đã

Trang 25

đánh giá tình hình hạn hán và ảnh hưởng của hạn hán tới 7 vùng kinh tế của ViệtNam, phân tích xác định nguyên nhân gây ra hạn hán, phân loại và phân cấp hạn Dựatrên các nguyên nhân gây hạn hán, đề tài đã đưa ra các biện pháp phòng chống vàgiảm nhẹ hạn hán.

- Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây

Nguyên và xây dựng các giải pháp phòng chống”, mã số KC.08.22, thực hiện năm

2003 - 2005, do PGS.TS Nguyễn Quang Kim, trường Đại học thủy lợi (cơ sở 2) làmchủ nhiệm đã nghiên cứu hiện trạng hạn hán, thiết lập cơ sở khoa học cho quy trình

dự báo hạn, cơ sở dữ liệu khu vực nghiên cứu để lập trình các phần mềm tính toán chỉ

số hạn và phần mềm dự báo hạn khí tượng và thủy văn Việc dự báo hạn được dựatrên nguyên tắc phân tích mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu, các hoạt độngENSO và các điều kiện thực tế vùng nghiên cứu

- Dự án “Xây dựng bản đồ hạn hán và mức độ thiếu nước sinh hoạt ở Nam Trung bộ

và Tây Nguyên” do PGS.TS Trần Thục (Viện Khoa học Khí tượng và Môi trường)

làm chủ nhiệm, thực hiện trong ba năm, từ 2005 - 2008, đã đánh giá được mức độ hạnhán và thiếu nước sinh hoạt ở 9 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Trên cơ sở đó đãxây dựng được bản đồ hạn hán thiếu nước sinh hoạt trong vùng nghiên cứu Tuynhiên, ở đây cũng chỉ xét đến hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp

- Đề tài “Nghiên cứu và xây dựng công nghệ dự báo và cảnh báo sớm hạn hán ở Việt

Nam” do Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường thực hiện từ năm 2005

– 2007, chủ nhiệm TS Nguyễn Văn Thắng đã đánh giá được mức độ hạn hán ở cácvùng khí hậu và chọn được các chỉ tiêu xác định hạn hán phù hợp với từng vùng khíhậu ở Việt Nam, đồng thời xây dựng được công nghệ dự báo và cảnh báo sớm hạnhán cho các vùng khí hậu ở Việt Nam bằng các số liệu khí tượng thuỷ văn và các tàiliệu viễn thám để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp

và quản lý tài nguyên nước trong cả nước

- Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp KHCN phòng chống hạn

hán phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở các tỉnh miền Trung”, thực hiện năm

2007 - 2009 do TS Lê Trung Tuân, Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường, Viện Khoahọc Thuỷ lợi Việt Nam làm chủ nhiệm, với mục tiêu nghiên cứu ứng dụng các giảipháp phòng chống hạn cho các tỉnh miền Trung Các giải pháp đề xuất ứng dụng đượcchia thành 3 nhóm: Thu trữ nước, bảo vệ đất và giữ ẩm; Quản lý vận hành công trìnhthuỷ lợi trong điều kiện hạn hán, chế độ tưới và kỹ thuật tưới tiết kiệm nước

- Đề tài KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, KC 08-23/06-10: “Nghiên cứu cơ sở khoa học

quản lý hạn hán và sa mạc hóa để xây dựng hệ thống quản lý, đề xuất các giải pháp chiến lược và tổng thể giảm thiểu tác hại: nghiên cứu điển hình cho đồng bằng sông Hồng và Nam Trung Bộ” do Viện Địa Lý, Viện KH&CNVN thực hiện 2008 - 2010, chủ

nhiệm TS Nguyễn Lập Dân, đã xây dựng hệ thống quản lý hạn hán vùng đồng bằng sôngHồng và hệ thống quản lý sa mạc hoá vùng Nam Trung Bộ và đề xuất các giải pháp chiếnlược và tổng thể quản lý hạn Quốc Gia, phòng ngừa, ngăn chặn và phục hồi các vùng

Trang 26

hoang mạc hóa, sa mạc hoá, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước góp phần ổn định sảnxuất, phát triển bền vững KT - XH.

Các nghiên cứu về hạn hán ở Việt Nam nói chung đã hỗ trợ tốt cho các cấpchính quyền trong công tác chỉ đạo phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại do hán hán Tuynhiên, do tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu mà tình trạng hạn hán ngày càng diễnbiến phức tạp

Hầu hết các đề tài nghiên cứu từ trước tới nay ở nước ta về hạn hán trên toànlãnh thổ Việt phần lớn tập trung vào lĩnh vực quy hoạch, đề xuất các giải pháp giảmnhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra, đã có rất nhiều các giải pháp công trình, phi côngtrình, các giải pháp về chính sách, tổ chức, thể chế và xã hội được thực hiện Tuynhiên, để đánh giá về mức độ rủi ro do hạn hán và phân cấp cấp độ rủi ro cho từngvùng, khu vực thì còn rất hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào có thể đưa vàoứng dụng thực tiễn trong công tác cảnh báo cấp độ rủi ro do thiên tai hạn hán cho cácđịa phương

Trước tác động của biến đổi khí hậu, hiện tượng trái đất nóng lên, nước biểndâng, thiếu hụt lượng mưa khiến tình trạng hạn hán đều có nguy cơ cao xảy rathường xuyên và ngày càng gay gắt hơn Vì vậy, việc đánh giá thực trạng hạn hán đốivới từng vùng và xây dựng các chỉ số để đánh giá cấp độ rủi ro do hạn hán nhằm dựbáo nguy cơ hạn hán trong tương lai, cảnh báo những rủi ro do hán hán gây nên là hếtsức cần thiết, mang ý nghĩa thực tế cao nhằm giảm thiểu nguy cơ hạn hán và thiệt hại

do hạn hán gây ra, phục vụ ngày càng hiệu quả hơn cho sản xuất, đời sống và môitrường

Song hành với việc đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống các công trình, cơ sở vậtchất phòng chống thiên tai, đầu tư cho những nghiên cứu về hạn hán nhằm giảm nhẹnhững thiệt hại do hạn hán gây ra Nhà nước đã quan tâm xây dựng hoàn thiện thể chế,chiến lược, chính sách, tăng cường năng lực, nhận thức người dân

14.2 Luận giải về việc đặt ra mục tiêu và những nội dung cần nghiên cứu

a, Luận giải về việc đặt ra mục tiêu thực hiện xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phân cấp và cảnh báo cấp độ rủi ro do hạn hán, xây dựng các cấp độ rủi ro

do thiên tai hạn hán và hệ thống nghiệp vụ cảnh báo các cấp độ rủi ro do hạn hán gây ra cho các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên đáp ứng được các yêu cầu cảnh báo

và phòng tránh thiên tai.

Phần lớn những nghiên cứu hạn hán trước đây đã góp phần hạn chế tác độngcủa hạn hán đến sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân nhưng chưa gắnliền với các hoạt động cảnh báo cấp độ rủi ro do hạn hán gây ra cho từng địa phương

để người dân có kế hoạch chuẩn bị ứng phó Các khái niệm, hướng tiếp cận, phươngpháp, bộ công cụ đánh giá rủi do do hạn hán là rất đa dạng, tuy nhiên chưa có mộtphương pháp luận, cơ sở khoa học và thực tiễn nào được nghiên cứu để phân cấp và

dự báo cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán có thể áp dụng cho tất cả các khu vực Đồngthời, công tác dự báo cấp độ rủi ro do hạn hán có sự kết hợp các khía cạnh kinh tế-xã

Trang 27

hội-môi trường cho đến nay chưa từng được thực hiện Vì vậy, thực hiện xây dựng cơ

sở khoa học gắn liền với thực tiễn cho việc phân cấp và cảnh báo cấp độ rủi ro do hạnháncho các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên đáp ứng được các yêu cầu cảnh báo vàphòng tránh thiên tai là vô cùng cấp thiết

Luật Phòng, Chống thiên tai (Luật số 33/2013/QH13) đã được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua và có hiệulực từ ngày 1 tháng 5 năm 2014 trong đó qui định rõ các đơn vị KTTV có trách nhiệm

“Tổ chức quan trắc, thu thập và xử lý thông tin, xác định, đánh giá rủi ro thiên tai,

phân vùng rủi ro thiên tai, theo dõi, giám sát thiên tai; thực hiện dự báo, cảnh báo, cung cấp kịp thời chính xác thông tin về thiên tai liên quan đến khí tượng, thủy văn, hải văn cho Ban chỉ đạo TW…”, “Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KH&CN; HTQT trong việc dự báo, cảnh báo thiên tai, chi tiết hóa cấp độ rủi ro thiên tai”.

Để triển khai Luật Phòng, Chống thiên tai, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhcác Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg và 46/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014

trong đó Quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai và Qui định về dự báo, cảnh

báo và truyền tin thiên tai Theo các Quyết định này, rủi ro thiên tai được phân cấp

đối với từng loại thiên tai dựa trên cường độ, phạm vi ảnh hưởng, khu vực chịu tácđộng trực tiếp và khả năng gây thiệt hại của thiên tai Cấp độ rủi ro thiên tai sẽ đượccông bố cùng nội dung bản tin dự báo, cảnh báo về thiên tai và làm cơ sở cho việcphân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó với thiên tai Hình 13dưới đây đưa ra các cấp độ rủi ro do hạn hán được qui định trong Quyết định số44/2014/QĐ-TTg Từ hình 5 có thể thấy các cấp độ rủi ro thiên tai do hán có 4 cấp,thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 4 Yếu tố quyết định cấp độ rủi ro do hạn hán là

sự thiếu hụt lượng mưa và nguồn nước, tuy nhiên trong mỗi trường hợp khác nhau lạitương ứng với cấp độ rủi ro khác nhau

Kể từ khi Luật Phòng, Chống thiên tai ban hành và có hiệu lực cho đến nay,trong các bản tin cảnh báo, dự báo thiên tai của Trung tâm Dự báo KTTV Trungương, Đài khu vực Tây Nguyên và các Đài KTTV tỉnh trực thuộc ngoài các thông tin

dự báo như trước đây, phải bổ sung thêm các cấp độ rủi ro thiên tai Theo phân cấpcủa Trung tâm KTTV quốc gia trong công tác dự báo, Đài KTTV khu vực TâyNguyên có trách nhiệm cụ thể hóa các bản tin dự báo của Trung tâm Dự báo KTTVTrung ương trên khu vực dự báo đến quy mô cấp tỉnh Ví dụ, với bản tin dự báo củaTrung tâm Dự báo KTTV Trung ương đưa ra dự báo khu vực Tây Nguyêncấp độ rủi

ro do hạn hán ở cấp 3, Đài KTTV khu vực Tây Nguyên sẽ căn cứ trên bản tin dự báonền này để dự báo cụ thể cho 5 tỉnh trực thuộc với các cấp độ ở các tỉnh là khác nhau

Trang 28

Hình 13 Qui định các cấp độ rủi ro do hạn hán trong Quyết định số 44/2014/QĐ-TTgTuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tế, quy định cảnh báo rủi ro này còn nhiềubất cập, chưa gắn liền với giá trị thiệt hại cũng như tính dễ bị tổn thương của từng địaphương cụ thể Cần phải đánh giá tổng thể tác động của hạn hán đến các yếu tố kinh tế

xã hội, môi trường và con người để phân chia cấp độ rủi ro, nâng cao tính sát thực củacông tác cảnh báo đến người dân thì việc phân cấp rủi ro mới thực sự có hiệu quả Ví dụcùng 1 số liệu hiện trạng thiếu hụt mưa và nguồn nước, nếu hạn hán xảy ra ở khu vựchoang mạc thì sẽ có cấp độ rủi ro thấp hơn vùng có đông dân cư hoặc vùng có cây nôngnghiệp, công nghiệp ngắn ngày

Những khó khăn cụ thể như sau:

- Việc áp dụng trực tiếp các cấp độ rủi ro thiên tai được qui định trong Quyếtđịnh số 44/2014/QĐ-TTg có thể tạo ra các cảnh báo thiên cao hoặc thiên thấp (theonghĩa cấp độ rủi ro) khi chi tiết hóa cho địa phương Mạng trạmkhí tượng thủy văn ởcác tỉnh còn khá thưa, có thể khi tính toán mưa, nguồn nước tại thời điểm hiện tại chocác vị trí có trạm đo đã đạt đến ngưỡng thiếu hụt theo cấp độ nguy hiểm nhưng trênvùng thượng nguồn nhu cầu sử dụng nước ít hơn, tuy không có trạm đo nhưng hệ thống

hồ chứa hoạt động tốt, có khả năng cấp nước đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước trongvùng, như vậy khó có cơ sở để có thể kết luận là tỉnh đó đã ở mức nguy hiểm về hạnhán hay chưa Đối với các vùng không có trạm đo lưu lượng, hồ chứa thì việc xác địnhthiếu hụt nguồn nước như thế nào?

- Việc tính toán cấp độ rủi ro do hạn hán gây ra chủ yếu dựa vào định lượng sựthiếu hụt mưa và nguồn nước: Trong mùa cạn, lượng mưa trên lưu vực của 1 số trạmtrong 1 số tháng rất thấp, đôi khi chỉ là 5mm, dẫn đến khi có mưa với 1 lượng rất nhỏ

đã vượt ngưỡng 50% nhưng trên thực tế hạn hán vẫn đang xảy ra khốc liệt hoặc có thểkhi vào mùa vụ, cáchồ chứa xả nước trong 1 thời gian ngắn hỗ trợ làmcho lượng dòngchảy tăng lên đột ngột, mức độ thiếu hụt giảm xuống dưới ngưỡng 20% nhưng sau đólại tiếp tục gia tăng thiếu hụt, như vậy sẽ chưa đủ tiêu chuẩn để xác định cấp độ hạnhán cho khu vực

- Với quy định lượng mưa thiếu hụt trên 50% tùy theo thời gian để xác địnhcấp độ rủi ro, ví dụ với lượng mưa thiếu hụt kéo dài trên 6 tháng, nhưng nếu tháng

Trang 29

cuối thiếu hụt dưới 50% trong khi trên thực tế nguồn nước vẫn thiếu hụt thì xác địnhcấp độ rủi ro như thế nào?

- Thiếu cơ sở khoa học để hỗ trợ ra quyết định về cấp độ rủi ro như thông tintần suất xảy ra thiên tai (không gian và thời gian), bản chất thiên tai (nguồn gốc, tínhchất, xu hướng, mức độ nguy hiểm, …), mức độ rủi ro do thiên tai (mức độ phơi bàycủa các yếu tố bị ảnh hưởng, khả năng chống chọi, mức độ dễ bị tổng thương, …),khả năng phòng chống thiên tai, … Nhu cầu sử dụng nước trên các vùng khác nhau làkhác nhau, với những vùng thượng lưu các con sông, lượng dòng chảy tính ra có thểthiếu hụt cao so với TBNN nhưng nhu cầu sử dụng nước thấp thì mức độ thiệt hại rủi

do cho vùng đó sẽ thấp hơn so với vùng hạ lưu, nơi tập trung đông dân cư, nhu cầu sửdụng nước cao Việc thiếu các thông tin nói trên dẫn đến việc đưa ra quyết định cấp

độ rủi ro thường mang tính chủ quan Các nhận định này cho thấy rõ ràng cần thiếtphải sử dụng thêm các thông tin kinh tế-xã hội trong việc xác định cấp độ rủi ro thiêntai bên cạnh thông tin dự báo về thiên tai

Như vậy, để triển khai tốt Luật Phòng, Chống thiên tai và các Quyết định số44/2014/QĐ-TTg và 46/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướngChính phủ, cần phải phân cấp và chi tiết hóa, định lượng hóa được các cấp độ rủi ro

do hạn hán cho từng khu vực trong bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai

Ngoài ra, khi triển khai nghiệp vụ dự báo thời gian tính toán ra bản tin dự báo làmột vấn đề lớn trong quá trình xử lý nghiệp vụ Khi đã có cơ sở khoa học để thựchiện, đã phân cấp được các cấp độ rủi ro cho từng khu vực, thì việc xây dựng một hệthống nghiệp vụ cảnh báo các cấp độ rủi ro do hạn hán là vô cùng cần thiết nhằm hỗtrợ các dự báo viên trong quá trình ra quyết định, đáp ứng được các yêu cầu cảnh báo

và phòng tránh thiên tai

Trong điều kiện Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu tác động nặng nềnhất của BĐKH,hạn hán là thiên tai đứng hàng thứ 3 về mức độ gây thiệt hại chỉ saubão và lũ Hàng năm, hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và thờigian khác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế xã hội, đặc biệt là nguồnnước và sản xuất nông nghiệp, điển hình là tình trạng hạn hán nghiêm trọng đã và đangdiễn ra tại các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ và Nam Bộ Một sốnghiên cứu đã chỉ ra rằng các đợt hạn nặng đã xuất hiện nhiều nơi và sẽ tiếp tục tăng lêntrong thế kỷ 21 với tốc độ cao ở các tỉnh thuộc khu vực này Cùng với tác động củaBĐKH, hạn hán có khả năng xuất hiện với tần suất và mức độ khắc nghiệt hơn, số ngàykhô hạn có khả năng kéo dài hơn

Theo chiến lược phát triển Ngành KTTV đến năm 2020, các Đài KTTV khuvực cần phải thực hiện dự báo chi tiết trên toàn bộ khu vực, trong đó cần định lượnghóa các bản tin dự báo cho các yếu tố và hiện tượng thời tiết nguy hiểm theo đúngLuật Phòng, Chống thiên tai Tuy nhiên, như đã phân tích trong phần đánh giá hiệntrạng về năng lực dự báo thời tiết nói chung và thiên tai nói riêng, cũng như đánh giáhiện trạng triển khai thực hiện Luật Phòng, Chống thiên tai, Trung tâm Dự báo KTTV

Trang 30

TW cũng như các đài khu vực đang gặp phải rất nhiều khó khăn như thiếu trang thiết

bị, nguồn số liệu và sản phẩm hỗ trợ dự báo, thiếu qui trình dự báo chi tiết cho cácthiên tai có nguồn gốc khí tượng, thiếu công nghệ dự báo hiện đại, thiếu các phầnmềm hỗ trợ phân tích, đánh giá, dự báo, soạn bản tin và truyền tin, chưa có đủ cơ sởkhoa học để chi tiết hóa các cấp độ rủi ro thiên tai Xuất phát từ thực trạng này, việcđầu tư nghiên cứu và xây dựng được một hệ thống hỗ trợ cảnh báo và dự báo các cấp

độ rủi ro thiên tai cho Trung tâm và cho Đài khu vực, Đài tỉnh là hết sức cần thiết vàcấp bách Đây chính là lý do Trung tâm Dự báo KTTV TW đề xuất đề tài NCKH cấp

Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cảnh báo cấp độ rủi ro thiên

tai do hạn hán cho các địa phương thuộc khu vực Tây Nguyên trong điều kiện biến đổi khí hậu” Việc triển khai thành công đề tài không những tăng cường năng lực

nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cho cán bộ đang làm việc tại Trung tâm Dự báoKTTV TW mà còn tạo ra được các qui trình dự báo phù hợp, công cụ hỗ trợ đắc lực

và hiệu quả cho dự báo viên tại Đài khu vực và các Đài tỉnh trực thuộc trong đó đã tinhọc hóa hầu hết các khâu trong qui trình dự báo thiên tai khí tượng theo Luật Phòng,Chống thiên tai Qua đó, góp phần nâng cao năng lực dự báo thời nói chung cho các

dự báo viên, đồng thời tạo cơ sở khoa học vững chắc để dự báo thiên tai theo các cấp

độ rủi ro theo đúng qui định của Luật Phòng, Chống thiên tai và nhu cầu của Ban chỉhuy Phòng chống thiên tai các cấp Đồng thời, đóng góp vào sự thành công của Đề ánhiện đại hóa Ngành KTTV, tạo ra một bước đột phá trong lĩnh vực dự báo thời tiết vàthiên tai, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển ngành KTTV đếnnăm 2020

b, Luận giải về đối tượng nghiên cứu và phạm vi thực hiện của đề tài

Tây Nguyên là vùng đồi núi và cao nguyên, có độ cao trung bình từ 500 – 800

m so với mặt biển, bao gồm các tỉnh Gia Lai, KonTum, Đắk Lắk, Đắk Nông, LâmĐồng.Tổng diện tích đất tự nhiên gần 5,5 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp chiếmkhoảng 785.000 ha với tiềm năng lớn về phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắnngày như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu Dân số trong vùng khoảng 4,0 triệu ngườiphần lớn là các dân tộc thiểu số

Tây Nguyên có khoảng 90% diện tích là đất ba-dan với đặc điểm tơi xốp, khảnăng thấm nước lớn, nên các dòng sông suối trong mùa khô sinh thuỷ kém, sớm bịcạn kiệt, tạo nên hạn hán cục bộ ở diện rộng Ở Tây Nguyên có 494 hồ chứa thuỷ lợicác loại, đóng vai trò quan trọng trong việc cấp nước tưới cho các loại cây trồng vàcấp nước dân sinh Tuy vậy, lượng nước dự trữ tại các hồ chứa chưa đủ cùng vớinhững hạn chế về địa hình nên mới chỉ thoả mãn được khoảng 30% nhu cầu về nướctưới của toàn vùng kinh tế quan trọng này

Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn nhiều năm, trước đây Tây Nguyên được đánhgiá là không có hạn nghiêm trọng và rất ít xuất hiện hạn hán liền hai vụ Nhưng từnăm 1980 đến 2000, tình hình sinh thái ở vùng này xuất hiện nhiều biến động nhưtình trạng lớp phủ thực vật bị huỷ hoại tràn lan, diện tích rừng bị thu hẹp phá vỡ cân

Trang 31

bằng sinh thái, giảm khả năng giữ nước và điều tiết nước của đất và địa hình, do vậy,trong vùng có những năm bị hạn hán đáng kể sau đây:1994, 1995, 1996, 1997, 1998.Đợt hạn năm 1998, riêng tỉnh Đắk Lắk đã thiệt hại 2.500 tỷ đồng.

Trong những năm gần đây (2013-2016), các tỉnh Tây Nguyên luôn phải hứngchịu những thiệt hại do khô hạngây ra với mức độ ngày càng khốc liệt, nguồn nướccho sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp thiếu hụt trầm trọng, đời sống ngườidân vô cùng khó khăn Hàng năm, mặc dù Nhà nước đã có những giải pháp tình thế

để cung cấp nước ăn uống, sinh hoạt cho dân ở những vùng đặc biệt khô hạn nhưngnguy cơ thiếu hụt về nguồn nước ở đây luôn hiện hữu, nhất là trong những năm gầnđây, biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng rất rõ nét

Hình 14: Bản đồ vị trí trạm đo KTTV và mạng lưới hồ chứa thủy điện khu vực Tây

Nguyên

Theo Luật Phòng, Chống thiên tai, khái niệm “thiên tai” được định nghĩa bao

gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa

lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn,nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loạithiên tai khác Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, khu vực Tây Nguyên là một trongnhững vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, lượng mưa hàng năm giảm,

Trang 32

hoạt động của hệ thống hồ chứa thủy điện dày đặc trên thượng nguồn rất đến rất nhiềubất cập, mâu thuẫn trong sử dụng nước, việc khai thác nước ngầm ngày càng tràn lan,không có quy hoạch dẫn đên hiện tượng hạn hán trở nên ngày càng nghiêm trọng Do

đó, việc nghiên cứu dự báo, cảnh báo hạn hán,mức độ rủi ro do hạn hán (hạn hánnghiên cứu trong đề tài này được xác định là hạn khí tượng, thủy văn) gây ra và chitiết hóa các cấp độ rủi ro cho các địa phương ở Tây Nguyênđòi hỏi ngày càng cấpbách

c, Luận giải về các nội dung nghiên cứu cần thực hiện để đạt được mục tiêu đề tài

Trên cơ sở giải quyết mục chỉ sốnh đề ra là xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn choviệc phân cấp và cảnh báo cấp độ rủi ro do hạn hán, thiết lập được hệ thốngcác cấp độ rủi

ro do hạn hán chi tiết cho các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, khắc phục những tồntại đã và đang mắc phải khi dự báo cấp độ rủi ro theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTgngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ, từ đó xây dựng phần mềmnghiệp vụ cảnh báo các cấp độ rủi ro do hạn hán gây ra nhằm hỗ trợ cho các dự báoviên trong quá trình tác nghiệp Đề tài cần thực hiện các nghiên cứu chính như sau:

- Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu bao gồm các nhóm tài liệu về số liệuKTTV và hồ chứa, kinh tế xã hội, các quy hoạch phát triển, các kịch bản biến đổi khíhậu, các bản đồ về hạn hán, sử dụng đất để tiến hành đánh giá, phân cấp cấp độ rủi

ro do hạn hán gây ra cho khu vực Tây Nguyên

- Nghiên cứu hiện trạng hạn hán xảy ra trên khu vực Tây Nguyên trong quákhứ và giai đoạn gần đây, khi chịu tác động của biến đổi khí hậu

- Nghiên cứu các hoạt động phát triển kinh tế xã hội chính làm gia tăng ảnhhưởng của hạn hán đến vùng nghiên cứu (nông, lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch)

- Đánh giá thực trạng công tác cảnh báo, dự báo hạn hán và cấp độ rủi ro do hạnhán, thực trạng triển khai Quyết định số 46, 44/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủtại các đơn vị thực hiện chức năng dự báo, cảnh báo thiên tai ở khu vực Tây Nguyên

- Nghiên cứu phương pháp đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới nói chung và

ở Việt Nam nói riêng

- Nghiên cứu để lựa chọn bộ chỉ tiêu đánh giá rủi ro và các thành phần củatừng chỉ tiêu phù hợp với khu vực Tây Nguyên

- Nghiên cứu tính toán sự thiếu hụt lượng mưa,lượng dòng chảy ở khu vưcTây Nguyên

- Nghiên cứu tác động của hệ thống hồ chứa đến nguồn nước trên khu vực Tây Nguyên

- Nghiên cứu lựa chọn các chỉ số, thành phần phân cấp cấp độ rủi ro do hạnhán ở khu vực Tây Nguyên

Trang 33

Bảng 6: Tóm tắt nội dung công việc chính sẽ thực hiện trong đề tài

TT Nội dung công việc Dự kiến kết quả Mục tiêu hướng

đến

1 Xây dựng hồ sơ thuyết

minh đề cương - Hồ sơ được xây dựng đúng quy định

Bảo vệthành côngTM

giới và ở Việt Nam

- Báo cáo tổng quan các phương phápxác định, phân cấp cấp độ rủi ro thiêntai nói chung và hạn hán nói riêng trênthế giới và ở Việt Nam, kết quả lựachọn phương pháp đánh giá rủi ro vàphân cấp cấp độ rủi ro do thiên tai hạnhán cho khu vực Tây Nguyên

Mục tiêu 1

3

Thu thập tài liệu, số

liệu khí tượng thủy

văn, kinh tế xã hội,

hạn hán khu vực Tây

Nguyên

- Bộ số liệu tổng hợp về KTTV và kinh

tế xã hội liên quan đến hạn hán;

- Báo cáo đánh giá hiện trạng và chấtlượng các loại số liệu

Mục tiêu

1, 2

4

Điều tra xã hội học bổ

sung thông tin phục

vụ đánh giá rủi ro cho

khu vực Tây Nguyên

Kết quả tổng hợp số liệu điều tra, Phiếuđiều tra

khu vực Tây Nguyên

- Báo cáo cơ sở khoa học lựa chọn bộchỉ số phù hợp phục vụ đánh giá, phâncấp cấp độ rủi ro do hạn hán cho khuvực Tây Nguyên

dễ bị tổn thương khi thiên tai hạn hánxảy ra và phân cấp cấp độ rủi ro dohạn hán cho các địa phương thuộc khuvực Tây Nguyên

Mục tiêu 2

Ngày đăng: 20/03/2019, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w