1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu GIÁO DỤC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

127 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 14,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ranh giới phía bắc nằm giữa bờ biển Phúc Kiến Trung Quốc và điểmcực Bắc đảo Đài Loan, bờ Biển Đông chạy men theo lục địa châu Á xuống bờbiển Việt Nam, tiếp xúc với bờ biển Campuchia,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tài liệu

GIÁO DỤC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI

TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(Lưu hành nội bộ)

Trang 2

Hà Nội, năm 2011

VŨ ĐÌNH CHUẨN ĐẶNG DUY LỢI - NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG - PHÍ CÔNG VIỆT

NGUYỄN TRỌNG ĐỨC - ĐỖ ANH DŨNG

Tài liệu

GIÁO DỤC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI

TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trang 3

MỤC LỤC Trang

Chủ đề 1 BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

3 Một số vấn đề cơ bản của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 19

4 Định hướng phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam 22

Chủ đề 2 VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP CÁC NGÀNH KINH TẾ

BIỂN, ĐẢO Ở VIỆT NAM

6 Khai thác các loại tài nguyên khác: thủy triều, gió biển 76

Chủ đề 3 KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BIỂN,

ĐẢO TẠI CÁC VÙNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA

1 Biển, đảo vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ và Đồng bằng sông Hồng 79

2 Biển, đảo vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ 86

3 Biển, đảo vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long 94

Trang 4

Chủ đề 1

BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

1 Khái quát về Biển Đông

1.1 Vị trí, giới hạn của Biển Đông

Với diện tích hơn 3447 nghìn km2, Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ

ba trong các biển của thế giới Chiều dài của Biển Đông là khoảng 1900 hải lí(từ vĩ độ 3oN đến vĩ độ 26oB), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 600 hải lí (từkinh độ 100oĐ đến kinh độ 121oĐ)

Từ ranh giới phía bắc nằm giữa bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) và điểmcực Bắc đảo Đài Loan, bờ Biển Đông chạy men theo lục địa châu Á xuống bờbiển Việt Nam, tiếp xúc với bờ biển Campuchia, Thái Lan, sang bờ đông bánđảo Mã lai, qua Xingapo, sang bờ phía bắc đảo Xumatra, tới đường ranh giớiphía nam ở khoảng vĩ tuyến 3oN, giữa các đảo Banca và Bêlitung (Inđônêxia),kéo sang đảo Calimantan, rồi vòng lên bờ biển phía tây của quần đảo Philippin

và trở về đường ranh giới phía Bắc Như vậy, có 9 quốc gia nằm ven bờ BiểnĐông: Việt Nam, Trung Quốc, Philipin, Malaixia, Brunây, Xingapo, Inđônêxia,Thái Lan, Campuchia

Hình 1.1 Bản đồ Đông Nam ÁBiển Đông là một biển nửa kín vì các đường thông ra đại dương đều có cácđảo và quần đảo bao bọc Từ Biển Đông muốn ra đại dương hay sang các biểnxung quanh, người ta phải đi qua các eo biển: Phía Bắc, qua eo biển Đài Loan để

Trang 5

sang biển Hoa Đông và qua eo biển Basi để ra Thái Bình Dương Phía Đông, qua

eo biển Balabac để sang các biển Xulu và Xêlêbet Phía Nam, qua các eo biểnCarimanta và Gaxpa sang biển Giava Phía tây, qua eo biển Malắcca để sang biểnAnđaman rồi thông ra Ấn Độ Dương

1.2 Một số đặc điểm tự nhiên của Biển Đông

Biển Đông có địa hình phức tạp Độ sâu trung bình là 1140m, nơi sâu nhấtđạt 5559m Nhìn chung, Biển Đông sâu ở phía đông giáp Philippin và ở vùngtrung tâm, nông ở phía tây và phía nam giáp Việt Nam, Malaixia… Vùng có độsâu trên 2000m chiếm khoảng 1/4 diện tích Thềm lục địa của Biển Đông khábằng phẳng Vùng thềm lục địa có độ sâu dưới 200m chiếm hơn 1/2 diện tích;trong đó, vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, eo biển Đài Loan chỉ có độ sâu dưới 100m

Khí hậu Biển Đông mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chịu sự chi phốicủa 2 hệ thống khí áp: áp cao Xibia vào mùa đông và áp thấp Ấn Độ- Mianmavào mùa hạ Tuy nhiên, khí hậu có sự khác biệt giữa khu vực phía Bắc và khuvực phía Nam Ở phía Bắc, vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) cógió mùa Đông Bắc thống lĩnh, tốc độ gió trung bình 4- 6m/giây, mạnh nhất là20- 24m/s; vào mùa hạ (từ tháng 5 đến tháng 10), gió thịnh hành là gió mùaNam hoặc Đông Nam, cũng có khi là Tây Nam, tốc độ gió trung bình 3- 5m/s,mạnh nhất là 20- 22m/s Ở phía Nam, vào mùa đông không chịu ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc, khi này gió thịnh hành là gió Mậu dịch Đông Bắc, tốc độ giótrung bình 5- 7m/s, mạnh nhất là 18- 20m/s; vào mùa hạ, gió thịnh hành là giómùa Tây Nam, tốc độ trung bình 4- 6m/s, mạnh nhất là 20- 22m/s

Nhìn chung, Biển Đông là một biển vùng nhiệt đới, có nhiệt độ cao Nhiệt

độ trung bình của nước tầng mặt trên toàn Biển Đông là khoảng 27- 28oC Tuynhiên, nhiệt độ có sự thay đổi theo vĩ độ và theo mùa Xu thế chung của nhiệt độnước Biển Đông là tăng dần từ bắc xuống nam Vào mùa đông, ở phần phía bắcnhiệt độ trung bình là 22- 24oC, ở phần phía nam nhiệt độ trung bình là 25-

27oC Vào mùa hạ, nhiệt độ tầng mặt của Biển Đông tương đối đồng đều, trungbình khoảng 29- 30oC

Mỗi năm trung bình có 9- 10 cơn bão hoạt động trên Biển Đông, trong đókhoảng 4- 5 cơn hình thành tại chỗ, số còn lại là từ vùng Tây Thái Bình Dương

đổ bộ vào Mùa bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông thường từtháng 5 đến hết tháng 10 Trong các tháng đầu mùa, bão hoạt động ở các vĩ độthấp, sau đó tiến dần lên các vĩ độ cao hơn, vào các tháng 8- 9 bão có thể hoạtđộng ở các vĩ độ tương đối cao (20- 22oB), từ tháng 10 vị trí bão lại có xu hướnglùi dần về các vĩ độ thấp Thời gian tồn tại trung bình của các cơn bão là vàokhoảng 4- 5 ngày, khi dài nhất lên tới 11 ngày và khi ngắn nhất chỉ 2 ngày là tan.Những cơn bão và áp thấp nhiệt đới hình thành trên Biển Đông có đường đi đặcbiệt phức tạp và chuyển hướng nhiều lần hơn so với những cơn bão từ Tây TháiBình Dương đi vào

Trang 6

Độ muối của nước Biển Đông chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: chế

độ gió mùa, sự trao đổi nước giữa Biển Đông với Thái Bình Dương và với cácbiển lân cận, nước của các con sông đổ ra… Vì vậy, độ muối của nước Biển Đôngthay đổi theo mùa và theo điều kiện địa phương ven Nhìn chung, độ muối ven bờthấp hơn ngoài khơi khoảng 2‰ Ở ngoài khơi, vào mùa đông, phần phía bắc có

độ muối 33,5- 34,5‰, phần phía Nam có độ muối 32,5- 33‰; vào mùa hạ, phầnphía Bắc có độ muối 33- 33,5‰, phần phía nam có độ muối 32- 32,5‰

Hoàn lưu nước trên Biển Đông chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa và củađịa hình bờ biển Trong mùa đông, gió mùa Đông Bắc tạo nên một hải lưu chảytheo hướng Đông Bắc- Tây Nam dọc bờ biển Việt Nam, đó là dòng nước lạnh,tốc độ trung bình khoảng 60- 70m/s Ngoài khơi có dòng nghịch lưu hướng TâyNam- Đông Bắc, rõ nhất ở phía Nam thuộc vùng biển Malaixia- Inđônêxia và ởphía Bắc thuộc vùng biển Philippin Tất cả tạo thành hải lưu vòng tròn mùađông chảy ngược chiều kim đồng hồ Mùa hạ, gió mùa Tây Nam tạo nên hải lưuchảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc, chảy sát bờ biển Trung Bộ Việt Nam,càng lên vĩ độ cao càng lệch sang hướng đông, tốc độ trung bình khoảng 30m/s.Ngoài khơi có dòng nghịch lưu chảy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, rõ nhất là

ở bộ phận phía Nam Biển Đông Tất cả tạo thành hải lưu vòng tròn mùa hạ, chảythuận chiều kim đồng hồ

1.3 Vị trí địa chiến lược và tiềm năng kinh tế của Biển Đông

- Tầm quan trọng về địa chiến lược của Biển Đông

Biển Đông có tuyến đường giao thông huyết mạch, nối các nền kinh tếtrên bờ Thái Bình Dương với các nền kinh tế trên bờ Ấn Độ Dương và Đại TâyDương Đây là tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới nếu tính theotổng lượng hàng hóa thương mại chuyển qua hàng năm

Mỗi ngày có khoảng 150- 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đókhoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ

30000 tấn trở lên Ven Biển Đông có trên 530 cảng biển, trong đó có 2 cảng vàoloại lớn và hiện đại bậc nhất thế giới là cảng Xingapo và cảng Hồng Công

Nhiều nước châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, Trung Quốc…) cónền kinh tế phụ thuộc sống còn vào giao thông trên Biển Đông Có tới 70% khốilượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu củaNhật Bản được vận chuyển qua tuyến đường này Khoảng 60% lượng hàng hóaxuất nhập khẩu của Trung Quốc, 55% lượng hàng hóa xuất khẩu của các nướcASEAN là qua Biển Đông Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giớiđược thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó đi qua Biển Đông Lượngdầu mỏ và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lầnlượng chuyên chở qua kênh đào Panama

Quanh Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước (eobiển Malắcca, eo biển Xunđa, eo biển Lômbôc…) Eo biển Malắcca nằm giữa

Trang 7

đảo Xumatra (Inđônêxia) và bán đảo Mã Lai, nối Biển Đông với Ấn Độ Dương,dài hơn 800 km, rộng gần 38 km (nơi hẹp nhất chỉ 1,2 km) Dưới góc độ giá trịkinh tế và chiến lược, tầm quan trọng của eo biển Malắcca sánh ngang với kênhđào Xuyê hoặc kênh đào Panama Eo Malắcca tạo nên hành lang hàng hải chínhgiữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối 3 nước đông dân nhất thế giới là

Ấn Độ, Inđônêxia và Trung Quốc Vì vậy, đây được coi là điểm điều tiết giaothông đường biển quan trọng nhất châu Á Nơi đây, mỗi năm có hàng chụcnghìn tàu thuyền qua lại, bao gồm tàu chở dầu, tàu chở công ten nơ, tàu đánh cá.Khoảng 400 tuyến đường biển và 700 cảng biển trên thế giới phải nhờ eoMalắcca để quan hệ với cảng Xingapo Theo số liệu năm 2006- 2007 của BộNăng lượng Hoa Kì, gần 1/3 số dầu mỏ của thế giới được vận chuyển bằng tàuthuyền qua eo biển này, biến nó trở thành 1 trong 2 tuyến đường biển quan trọngnhất thế giới (sau tuyến đường biển qua eo Hooc mut)

- Tiềm năng kinh tế của Biển Đông

Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọngcho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là cáctài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch…

Xung quanh Biển Đông có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản quantrọng của thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Philippin Cảkhu vực, đánh bắt khoảng 7- 8% tổng sản lượng đánh bắt cá của toàn thế giới

Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhấtthế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũngBrunây- Xaba, Xaraoăc, Malay, Patani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, SôngHồng, cửa khẩu Châu Giang Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều lànhững nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển, trong đó Inđônêxia là thànhviên của Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Theo đánh giá của Bộ Năng lượngHoa Kì, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỉ thùng, vớikhả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày Còn theo đánh giá của Trung Quốc thìtrữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỉ thùng, trong đó trữ lượng dầu tạiquần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỉ thùng Ngoài ra, theo các chuyên giaNga thì khu vực các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa còn chứa đựng tài nguyênkhí đốt đóng băng

2 Vùng biển Việt Nam

Trang 8

xâm phạm; mặc dù, trên thực tế vẫn có sự tranh chấp và biến động ở đường biêngiới giữa nhiều quốc gia trên thế giới.

Giới hạn và độ cao của vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia cũng như độ sâucủa lòng đất bên dưới tuy không được xác định chính xác là bao nhiêu kilômét,nhưng với khả năng kĩ thuật của nhân loại hiện nay thì mỗi quốc gia hoàn toàn

có thể thực hiện chủ quyền của mình trong những phạm vi nhất định tới giới hạntối đa là lớp khí quyển nằm dưới quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh và tới độ sâu cho phépthuộc bề dày của vỏ Trái Đất nằm bên dưới lãnh thổ của mình

Vùng biển của quốc gia ven biển được quy định bởi Công ước của LiênHợp Quốc về Luật Biển được các nước kí kết vào năm 1982 (gọi là Công ước1982), phê chuẩn vào ngày 16-11-1994 và từ đó bắt đầu có hiệu lực pháp luậtquốc tế Việt Nam phê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994 Theo Công ước vềLuật Biển năm 1982 thì một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy,lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Nội thủy

- Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển.Đường cơ sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở củaViệt Nam là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quần đảoThổ Chu, tỉnh Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị)

(Đông)

0 Nằm trên ranh giới phía Tây

Nam của vùng nước lịch sử củaCộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam và Campuchia

A1 Tại Hòn Nhạn, quần đảo Thổ

Chu, tỉnh Kiên Giang

Trang 9

tỉnh Bà Rịa- Vũng TàuA6 Tại Hòn Hải, Phú Quý, tỉnh Bình

Thuận

8o58’0 109o05’0

A7 Tại Hòn Đôi, tỉnh Khánh Hòa 12o39’0 109o28’0

A8 Tại mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Yên 12o53’8 109o27’2

A9 Tại Hòn Ông Căn, tỉnh Bình

A11 Tại đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị 17o10’0 107o20’6

- Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độpháp lí của đất liền, nghĩa là được đặt dưới chủ quyển toàn vẹn, đầy đủ và tuyệtđối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra vùng nội thủyphải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển

có quyền không cho phép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình

Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ven biểnban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào

Hình 1.2 Các vùng biển quốc gia của Việt Namtheo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

Lãnh hải

Trang 10

- Là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy Ranh giới ngoài của lãnh hảiđược coi là đường biên giới quốc gia trên biển Công ước quốc tế về Luật Biển

1982 quy định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lí tính từ đường cơ sở Chính phủnước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng tuyên bố: “Lãnh hải của nướcCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lí, tính từ đường cơ sở”

- Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải,song không tuyệt đối như nội thủy Tàu thuyền của các quốc gia khác đượchưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải của nước ven biển

Tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải tức là khôngđược tiến hành bất kì hoạt động nào dưới đây:

+ Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặcđộc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với cácnguyên tắc luật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc

+ Luyện tập hoặc diễn tập với bất kì kiểu loại vũ khí nào

+ Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốcgia ven biển

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự

+ Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với cácluật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển

+ Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước

+ Đánh bắt hải sản

+ Nghiên cứu hay đo đạc

+ Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọitrang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển

+ Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua

Nước ven biển không được ngăn cản hay phân biệt đối xử trong việc điqua không gây hại của tàu thuyền bất cứ nước nào, nhưng xuất phát từ nguyêntắc chủ quyền quốc gia đối với lãnh hải và để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qualại, nước ven biển có thể quy định cho các tàu thuyền nước ngoài đi theo nhữngtuyến phân luồng giao thông riêng Nước ven biển có quyền ban hành các luật lệ

để kiểm soát và giám sát việc đi lại đó, cũng như truy tố, xét xử những người cóhành động phạm pháp để bảo vệ quyền lợi của nước mình, phù hợp với luậtpháp quốc tế

Vùng tiếp giáp lãnh hải

- Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải Công ướcquốc tế về Luật Biển nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24

Trang 11

hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”, nghĩa là chiều rộngcủa vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 12 hải lí tính từ đường ranh giớingoài của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyênbố: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam làvùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng là 12 hải lí,hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sởdùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”.

- Vì vùng tiếp giáp lãnh hải nằm ngoài vùng biển thuộc chủ quyền củaquốc gia ven biển, nên quốc gia ven biển chỉ được thực hiện thẩm quyền hạn chếtrong một số lĩnh vực nhất định đối với các tàu thuyền nước ngoài Trong vùngtiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểmsoát, nhằm:

+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan,thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hoặc lãnh hải của mình

+ Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ratrên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình

Vùng đặc quyền kinh tế

- Là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành mộtvùng biển, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tình từ đường cơ sở dùng đểtính chiều rộng của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam tuyên bố: “Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành mộtvùng biển rộng 200 hải lí kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải ViệtNam” Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù, trong đó quốc gia ven biểnthực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Côngước về Luật Biển 1982 quy định

- Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lí riêng do Công ước về LuậtBiển 1982 quy định về các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia venbiển cũng như quyền tự do của các quốc gia khác Cụ thể là:

+ Đối với các quốc gia ven biển:

• Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò và khaithác, bảo tồn và quản lí các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vậtcủa vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như vềnhững hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế

Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai tháchoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình nhưng đặt dưới quyền kiểmsoát của mình Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổngkhối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trongviệc khai thác các tài nguyên sinh vật biển và ấn định số dư, từ đó cho phép các

Trang 12

quốc gia khác khai thác số dư này trên cơ sở của các điều ước hoặc các thỏathuận liên quan.

• Quốc gia ven biển có quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng cácđảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ vàgiữ gìn môi trường biển Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cầnthiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việctôn trọng các quy định luật pháp của mình

• Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảotồn và quản lí nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặcquyền kinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức

+ Đối với các quốc gia khác:

• Được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không

• Được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, khi đặt phải thông báo vàthỏa thuận với quốc gia ven biển

• Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế.Khi thực hiện những quyền tự do này, các nước ngoài phải tôn trọngnhững luật lệ của nước ven biển và luật pháp quốc tế nói chung

Thềm lục địa

- Là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải củaquốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnhhải là 200 hải lí, khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn Trongtrường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200hải lí tính từ đường cơ sở thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoàicủa thềm lục địa với một khoảng cách không vượt quá 350 hải lí tình từ đường

cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100hải lí Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Thềmlục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển vàlòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mởrộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ViệtNam không đến 200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từđường cơ sở”

- Chế độ pháp lí của thềm lục địa:

+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối với thềm lục địa

về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyênkhông sinh vật như dầu khí, tài nguyên sinh vật như cá, tôm ) của mình Nhữngquyền chủ quyền trên là đặc quyền của quốc gia ven biển, nghĩa là nếu quốc gia

Trang 13

ven biển không thăm dò thềm lục địa của mình hay không khai thác tài nguyênthiên nhiên của thềm lục địa thì không ai khác được quyền tiến hành các hoạtđộng như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia ven biển.

+ Tất cả các quốc gia khác đều có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm

ở thềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốcgia ven biển về đường đi của ống dẫn hoặc cáp

+ Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lí

kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đónggóp theo quy định của Công ước

+ Quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không đượcđụng chạm đến chế độ pháp lí của vùng nước phía trên hay của vùng trời trênvùng nước này, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do củacác quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận

+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ởthềm lục địa vào bất kì mục đích gì

2.2 Đảo và quần đảo trong vùng biển Việt Nam

Theo Công ước về Luật Biển năm 1982 thì đảo là một vùng đất tự nhiên

có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Quần đảo

là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền

và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạothành một thể thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị hay được coi như thế vềmặt lịch sử

Có những đảo và quần đảo nằm gần bờ của nước ven biển, nhưng cũng cónhững đảo và quần đảo nằm ngoài biển khơi, cách xa bờ (ví dụ: các quần đảoHoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam)

Về mặt pháp lí, các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc giagiống như đất liền Trong trường hợp đảo hay quần đảo nằm gần bờ, luật quốc tếcho phép kéo đường cơ sở đi qua các đảo ngoài cùng để vạch đường cơ sở thẳngcho nước ven biển, từ đó định ra bề rộng của lãnh hải Vì vậy, nhờ các đảo gần

bờ mà vùng nước nội thủy ở phía trong đường cơ sở được nới rộng và lãnh hãicũng được mở rộng ra ngoài biển Trường hợp đảo và quần đảo ở ngoài khơi xađất liền thì người ta áp dụng chế độ pháp lí đảo theo Công ước Luật biển quyđịnh Theo đó, mỗi đảo đều có vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế, thềm lục địa riêng của mình như đối với quốc gia lục địa venbiển Nếu các đảo của quần đảo ngoài khơi ở gần nhau (không xa hơn mộtkhoảng cách gấp đôi lãnh hải, tức là 24 hải lí) thì các đảo ấy, coi như hợp thànhmột thể thống nhất trên thực tế vì lãnh hải của các đảo ấy gắn liền với nhau vàmột quần đảo như vậy cũng có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địariêng của nó Tuy nhiên, những đảo tồn tại dưới dạng tảng đất, đá hoang, không

Trang 14

có người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải mà không cóvùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Trên vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ Các đảo này hoặcnằm rải rác một mình như đảo Bạch Long Vĩ, đảo Lý Sơn hoặc họp thànhnhóm như quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Thổ Chu Nhiềuđảo trên vùng biển nước ta có diện tích và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho dân

cư sinh sống và phát triển kinh tế - xã hội, thường xuyên giao lưu kinh tế, vănhóa với đất liền và với các đảo khác Về mặt hành chính, nhiều vùng đảo được

tổ chức thành các huyện đảo Đến năm 2006, nước ta có các huyện đảo: huyệnđảo Vân Đồn (Quảng Ninh), huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh), huyện đảo Cát Hải(Hải Phòng), huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Cồn Cỏ (QuảngTrị), huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyệnđảo Trường Sa (Khánh Hòa), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo CônĐảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Kiên Hải (Kiên Giang), huyện đảo PhúQuốc (Kiên Giang)

Sau đây là một số quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta:

- Quần đảo Hoàng Sa

Hình 1.3 Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo nằm trong khoảng vĩ độ 15o45’ - 17o15’B, kinh độ 111o-113oĐ,

án ngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) hơn 120 hải lí,cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lí Gồm trên 30 hòn đảo, bãi đángầm, cồn san hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ tây sang đông

Trang 15

khoảng 100 hải lí, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lí, chiếm một diện tíchkhoảng 15.000km2.

Các đảo của quần đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm phía Đông có tên là nhóm An Vĩnh gồm 8 hòn đảo nhỏ và một sốmỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước Trong đó, lớn nhất là đảo Phú Lâm

và đảo Linh Côn, diện tích mỗi đảo khoảng 1,5km2; trên đảo có nhiều cây cối,xung quanh có những bãi san hô và bãi cát ngầm Các đảo nhỏ khác có diện tích

từ 0,4km2 trở xuống, một số đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh

+ Nhóm đảo phía Tây gồm 15 đảo nhỏ nằm sát liền nhau, cong như hìnhlưỡi liềm nên có tên là nhóm đảo Lưỡi Liềm Đảo lớn nhất là đảo Hoàng Sa,diện tích gần 1km2; các đảo khác có diện tích từ 0,5km2 trở xuống Trên đảoHoàng Sa cây cối xanh tươi, có chỗ cây lớn mọc thành rừng, phần nhiều là dừa

và phi lao Ở phía Đông đảo Hoàng Sa có một cầu tàu bằng đá và bê tông dàikhoảng 180m, do một công ti Nhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đâycho phép khai thác phân chim xây dựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích Cũng trênđảo này có một trạm khí tượng được xây dựng và hoạt động từ năm 1938 đếnnăm 1947, được đăng kí vào mạng lưới của Tổ chức Khí tượng thế giới, mang

số hiệu khu vực của Việt Nam

Tổng diện tích phần nổi của các đảo trong quần đảo Hoàng Sa là khoảng10km2 Ngoài các đảo còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc mộtvùng nước tạo thành đầm nước giữa biển khơi Có cồn dài tới 30km, rộng 10km,như cồn Cát Vàng

Quần đảo Hoàng Sa có khí hậu nóng quanh năm, nhiệt độ trung bìnhtháng 1 là 23oC, tháng 7 là 28oC Một năm chia làm 2 mùa: mùa khô từ tháng 1đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hằng nămkhoảng 1170mm Từ tháng 6 đến tháng 8 thường có bão đi qua

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng Có đảo cây cối umtùm, nhưng có đảo chỉ có cây nhỏ, cây bụi và cỏ dại Thực vật phần lớn thuộccác loài có nguồn gốc ở duyên hải miền Trung do nhiều triều Vua trước đây củanước ta đã ra lệnh đem các loài cây ra trồng để thuyền bè qua lại dễ nhận biết,tránh bỏ tai nạn

Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ lâu ngày bịphân hóa, đây là nguồn phân bón có giá trị lớn Hải sản ở Hoàng Sa có tôm hùm,hải sâm, đồi mồi, rau câu Cát ở đây chứa tới 40% can xi, do những vụn san hô

vỡ ra mà thành Vùng biển Hoàng Sa cũng có triển vọng lớn về dầu khí

- Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa ở về phía Đông Nam nước ta, trong khoảng vĩ độ

6o50 - 12o00B, kinh độ 111o30 - 117o20’Đ, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa)

Trang 16

khoảng 250 hải lí, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) trên 600 hải lí và cách đảoĐài Loan khoảng 960 hải lí.

Quần đảo gồm hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rảitrên một vùng biển rộng, từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lí, từ Bắc xuốngNam khoảng hơn 360 hải lí, chiếm một diện tích biển khoảng 160.000 -180.000km2

Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng

Sa, độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5m Đảo lớn nhất là đảo Ba Bình(rộng khoảng 0,6km2), tiếp đến là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết,Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn Ngoài ra còn có các bãi đá ngầm.Các đảo ở đây cũng có vành san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảokhỏi bị sóng đánh tràn lên Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn,bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10km2, tương đương quần đảo Hoàng Sa,nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn 10 lần quầnđảo Hoàng Sa

Hình 1.4 Thị trấn Trường Sa nhìn từ phía biển Đảo Song Tử Tây nằm cách bờ biển nước ta khoảng 450km, tấm bia chủquyền của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đặt ở gần trung tâmcủa đảo Trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng theo dõi vàthông báo các số liệu về thời tiết của vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khítượng thế giới Trên các đảo Song Tử Tây, An Bang, Đá Tây có đèn biển củaTổng Công ti bảo đảm Hàng hải Việt Nam

Trang 17

Khí hậu, thời tiết của vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn so vớicác vùng ven bờ: mùa hạ mát hơn và mùa đông ấm hơn Một năm có thể chialàm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.Lượng mưa trung bình lớn, hơn 2500mm/năm Hằng năm ở quần đảo Trường Sa

có tới 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên Hiện tượng dông rất phổ biến, cóthể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông Bão lớn cũng thường đi qua, tậptrung vào các tháng mùa mưa

Một số đảo trong quần đảo có nước ngầm như ở các đảo Song Tử Tây,Trường Sa, Song Tử Đông

Chất đất trên các đảo là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùncây, có bề dày từ 5 đến 10cm Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như câyphong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo, cỏ dại

Nguồn lợi hải sản của quần đảo Trường Sa rất phong phú, với nhiều loại

cá tập trung với mật độ cao; đặc biệt có vích là loài động vật quý hiếm và cá ngừđại dương có giá trị kinh tế cao

Ngoài phốt phát vôi, đá san hô thì theo các chuyên gia, khu vực quầnđảo Trường Sa cũng có dầu khí với trữ lượng khá lớn

Hình 1.5 Trồng rau xanh ở Trường Sa

- Quần đảo Vân Hải

Là nhóm đảo ở phía đông vịnh Hạ Long, cách thành phố Hạ Long gần50km Lớn nhất là đảo Trà Bản, dài 30km Phía nam đảo là vịnh Vân Đồn rộnggần 100km2, nơi có thương cảng Vân Đồn xưa kia nổi tiếng là phồn thịnh vàsầm uất

Trang 18

- Đảo Cát Bà

Nằm ở phía đông thành phố Hải Phòng, diện tích khoảng 277km2, gồm 1đảo lớn và 366 đảo đá lớn nhỏ rải rác vây quanh Trên đảo Cát Bà có vườn quốcgia cùng tên

- Quần đảo Cô Tô

Nằm ở khoảng vĩ độ 21o00B và kinh độ 107o45Đ, thuộc tỉnh Quảng Ninh,gồm 29 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 2 đảo lớn nhất là Cô Tô và Thanh Lam Đảo

Cô Tô nổi tiếng về nghề nuôi trai lấy ngọc

- Đảo Bạch Long Vĩ

Nằm khoảng vĩ độ 20o07’B và kinh độ 107o45’Đ, cách thành phố HảiPhòng 70 hải lí được coi là tiền đồn ngoài cùng phía Đông Bắc của Tổ quốc.Đảo rộng khoảng 2,5km2, giàu sản vật biển: cá, tôm và đặc biệt là bào ngư

- Đảo Cồn Cỏ

Thuộc tỉnh Quảng Trị, có vĩ độ 17o10’ và kinh độ 107o21’Đ, cách đất liềnhơn 20 hải lí Diện tích gần 4km2 Là một trong những đảo có đa dạng sinh họcbậc nhất ở nước ta

- Đảo Lý Sơn

Còn có tên là Cù Lao Ré, thuộc tỉnh Quảng Ngãi Đảo dài trên 8km, rộngkhoảng 2,5km Dân cư đông đúc, làm nghề đánh bắt hải sản, trồng tỏi

Hình 1.6 Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

- Quần đảo Phú Quý

Trang 19

Ở ngoài khơi bờ biển Bình Thuận Gồm gần 10 hòn đảo lớn nhỏ và một sốbãi cạn nằm rải rác trong vùng biển kéo dài khoảng kinh độ 108o20’-109o20’Đ

và vĩ độ 9o50’ - 10o45’B Lớn nhất là đảo Phú Quý (còn gọi là Cù Lao Thu), dài6,5km, rộng khoảng 3,5km Đảo Hòn Hải trong quần đảo được chọn là một điểm

để xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

- Quần đảo Côn Sơn

Nằm cách Vũng Tàu 98 hải lí và cửa sông Hậu 45 hải lí Gồm 16 hòn đảolớn nhỏ với diện tích tổng cộng khoảng 70km2 Đảo lớn nhất là Côn Đảo, tiếpđến là Hòn Bảy Cạnh, Hòn Bà Đây là quần đảo khá trù phú, đất đai màu mỡ,nhiều hải sản

- Quần đảo Nam Du

Thuộc tỉnh Kiên Giang, nằm khoảng vĩ độ 9o40’B, kinh độ 104o2’Đ, cách

bờ biển hơn 27 hải lí Gồm 21 đảo đá lớn nhỏ, diện tích tổng cộng khoảng11km2, quây quần trong một vùng biển rộng 60km2 Đảo lớn nhất là Nam Du,dài gần 6km, nơi rộng nhất khoảng 1,5km

- Quần đảo Thổ Chu

Thuộc tỉnh Cà Mau, nằm cách mũi Cà mau khoảng 85 hải lí về phía TâyBắc Gồm 9 đảo lớn nhỏ, rải rác trên một vùng biển rộng khoảng 50km2 Đảolớn nhất là Thổ Chu Hòn Nhạn là đảo nằm xa bờ nhất của quần đảo, được chọnlàm điểm chuẩn A1 để vạch đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

3 Một số vấn đề cơ bản của Chiến lược biển, đảo Việt Nam đến năm 2020

Thế kỉ 21 được thế giới xem là thế kỉ của đại dương Bước vào thế kỉ 21,giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đang hướng mạnh ra biển để tăngcường tiềm lực kinh tế của mình Khai thác biển để phát triển kinh tế là cách làmđầy hứa hẹn, mang tình chiến lược và được đánh giá là có vai trò ngày càngquan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nước ta

Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

X đã thông qua nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Trang 20

3.1 Các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển, đảo Việt Nam đến năm 2020

- Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giầu từ biểntrên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghềbiển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững,hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn

- Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảoquốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa pháttriển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

- Ba là, khai thác mọi người lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môitrường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệuquả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồnlực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước

3.2 Mục tiêu của chiến lược biển, đảo Việt Nam đến năm 2020

- Mục tiêu tổng quát:

Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển,làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trênbiển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,làm cho đất nước giàu mạnh

- Mục tiêu cụ thể:

+ Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước

-+ Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sốngnhân dân vùng biển và ven biển để có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hailần so với thu nhập bình quân chung của cả nước

+ Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hìnhthành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở venbiển

+ Xây dựng cơ quan quản lí tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệuquả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển

3.3 Những định hướng của chiến lược biển, đảo Việt Nam đến năm 2020

- Về kinh tế - xã hội

Trang 21

+ Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môitrường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biểngắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển,trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển.

+ Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trungtâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước

+ Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển,ven biển gồm: khai thác, chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chếbiến hải sản; phát triển du lịch và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, cáckhu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu

đô thị ven biển

+ Trước mắt, sẽ đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, pháttriển công nghiệp đóng tàu, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vậntải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh,

an toàn cho người dân hoạt động, sinh sống trên biển, đảo và ở những vùngthường bị thiên tai

- Về quốc phòng, an ninh đối ngoại:

+ Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc

+ Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoạigiao, pháp lí, kinh tế, quốc phòng trong quản lí vùng trời, bảo vệ biển, đảo của

Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân

+ Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnhsát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngưdân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển

+ Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽnhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh tếkết hợp làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc

- Về phát triển khoa học - công nghệ biển:

+ Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệpđổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoahọc - công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai tháctài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ chonghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn pháttriển mới của đất nước

- Về xây dựng kết cấu hạ tầng biển

Trang 22

+ Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một sốcảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở

cả 3 miền của đất nước, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển thông thương vớithế giới

+ Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở vậtchất kĩ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kĩ thuật - công nghệcác cảng; tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hóa, giảm thiểu tối đa chi phí, bảođảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế

+ Sớm hoàn chỉnh khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xâydựng tuyến đường ven biển và đường cao tốc Bắc - Nam trên biển

4 Định hướng phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam

4.1 Thực trạng kinh tế biển, đảo Việt nam

- Trong những năm qua, đất nước chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong việcphát triển kinh tế biển Kinh tế biển Việt Nam đã và đang đóng góp phần khôngnhỏ vào nền kinh tế chung của đất nước Một số ngành kinh tế biển đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn: Khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản nước lợ là lĩnhvực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng 4,5 tỉ USD trong tổng giá trịthủy sản xuất khẩu năm 2008, tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trựctiếp và nuôi trồng thủy sản, cùng 50 vạn lao động dịch vụ liên quan Mức khaithác dầu khí năm 2008 là 14,9 triệu tấn dầu và 7,5 tỉ mét khối khí, kim ngạchxuất khẩu dầu đạt 10,4 tỉ USD, là ngành đóng góp lớn nhất vào GDP kinh tếbiển hiện nay

Kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân vàđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo

- Tuy nhiên, quy mô phát triển kinh tế biển nước ta như hiện nay là chưatương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có Cơ sở hạ tầng các vùng biển, venbiển và hải đảo nhìn chung còn yếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển nhỏ bé,manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp.Các chỉ tiêu hàng hóa thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nướctrong khu vực

Đến nay Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển,nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệthống kinh tế biển liên hoàn Các thành phố, thị trấn, khu công nghiệp, khu kinh

tế ven biển mới đang trong thời kì xây dựng Hệ thống các cơ sở nghiên cứukhoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quantrắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạncòn nhỏ bé, trang thiết bị thô sơ Việc sử dụng biển và hải đảo chưa thật hiệuquả, thiếu bền vững Trình độ khai thác biển của nước ta đang ở tình trạng lạchậu bậc nhất trong khu vực

Trang 23

4.2 Một số định hướng về phát triển kinh tế biển, đảo

Định hướng chung về phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong những nămtới là:

- Xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển, có cơcấu kinh tế hiện đại, thực sự làm động lực thúc đẩy kinh tế cả nước phát triểnvới tốc độ nhanh Tạo sự kết hợp kinh tế ven biển, kinh tế trên biển và kinh tếhải đảo với các khu vực nội địa để phát triển nhanh, ổn định và bền vững

- Mở cửa, hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển và vùng ven biển mộtcách toàn diện Phát huy triệt để và có hiệu quả các nguồn lực bên trong, kết hợpvới tranh thủ sự hợp tác và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài theo nguyên tắccùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa,hội nhập

- Coi phát triển kinh tế biển và vùng ven biển là động lực để hỗ trợ, thúc đẩycác vùng khác cùng phát triển Kinh tế biển và vùng ven biển là “hạt nhân” tạo sựchuyển biến cơ bản và toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kếthợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển và vùng ven biển với bảo vệ tài nguyênmôi trường sinh thái, tái tạo và phát triển các nguồn tài nguyên biển, đảm bảo sựphát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sống của vùng biển, ven biển

và các hải đảo

4.3 Giải pháp phát triển kinh tế biển, đảo ở Việt Nam

Kinh tế biển Việt Nam hiện đã có bước chuyển biến đáng kể Ngoài cácngành nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với côngnghệ - kỹ thuật hiện đại như khai thác dầu khí, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, dulịch biển - đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn Tuy nhiên, điểm mấu chốt trongchiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam là hội nhập quốc tế

Mục tiêu thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là phấn đấuđưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển; làm giàu từ biển, phát triển toàndiện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ pháttriển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn Phấn đấu đến năm

2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuấtkhẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đáng kể đời sống củanhân dân vùng biển và ven biển

Để xây dựng một nền khoa học kinh tế biển hiện đại, một quốc gia mạnh vềbiển với tầm nhìn dài hạn, Việt Nam cần phải triển khai hàng loạt các giải phápnghiên cứu về biển, cả chiến lược, chính sách lẫn khoa học - công nghệ, bao gồm:

Thứ nhất, phát triển mạnh giao thông vận tải biển để đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hoá Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển

giao thông vận tải biển Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sôngvới khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ và được phân bố tương đối đều dọc theo bờ

Trang 24

biển từ Bắc vào Nam Hệ thống cảng biển Việt Nam được chía thành 6 nhóm: 1)Nhóm cảng biển phía bắc; 2) Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ; 3) Nhóm cảngbiển Trung Trung Bộ; 4) Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ; 5) Nhóm cảng vùngĐông Nam Bộ; và 6) Nhóm cảng đồng bằng sông Cửu Long Cùng với hệ thốngcảng, kho bãi, biển Việt Nam thông với hai đại dương lớn là Thái Bình Dương

và Ấn Độ Dương Những điều kiện thuận lợi này là cơ sở quan trọng để pháttriển giao thông vận tải biển Vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã tăng 6lần trong giai đoạn (1995-2006)

Thứ hai, tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, huấn luyện thuyền viên.

Việt Nam ước tính thiếu hụt khoảng 800 thuyền viên vào năm 2010 Nếu tính cả

sĩ quan tham gia vào thị trường xuất khẩu thì sự thiếu hụt lên tới 1000 người Đểgiảm thiểu sự thiếu hụt này, nhà nước cần xây dựng Trung tâm đào tạo huấn luyệnthuyền viên dựa trên nguồn kinh phí tài trợ của nhà nước và của tư nhân, đồngthời hợp tác với nước ngoài để đào tạo nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế.Bên cạnh đó, cần phát triển dịch vụ hàng hải và hiện đại cơ sở vật chất kỹ thuậtcho khâu quản lý điều hành nhằm bảo đảm an toàn hàng hải và dịch vụ hàng hải.Phát triển thương mại biển, đảo và vùng ven biển có trọng điểm để sớm hìnhthành một số trung tâm thương mại mạnh tại một số khu vực biển Duy trì tốc độtăng trưởng xuất khẩu hải sản cao, ổn định và bền vững, cải thiện cơ cấu xuấtkhẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng mặt hàng chế tạo, sản phẩm chế biến

Thứ ba, tập trung phát triển du lịch đảo và du lịch ven biển Du lịch và

giải trí biển là một lĩnh vực hoạt động kinh tế biển Các hoạt động kinh tế biển

đã đóng góp giải quyết đáng kể về thu nhập cũng như giảm thất nghiệp, xoá đóinghèo, bảo đảm an ninh quốc gia vùng biển Du lịch biển có tiềm năng kinhdoanh lớn Vùng biển và ven biển tập trung tới ¾ khu du lịch tổng hợp và hơn ½khu du lịch chuyên đề nhưng ngành du lịch biển vẫn chưa có những sản phẩmdịch vụ đặc sắc, có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu

du lịch biển tổng hợp đạt qui mô và trình độ quốc tế Những năm gần đây, dulịch, nghỉ dưỡng cũng như giải trí biển đã được mở rộng đáng kể Việt Nam cónhiều trung tâm du lịch biển quan trọng, có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trển tuyến

du lịch quốc tế Đông Nam Á Doanh thu du lịch biển tăng 5 lần giai đoạn (2000– 2006), Mục tiêu năm 2010 thu hút hoảng 4-5 triệu lượt khách quốc tế, 20 - 30triệu lượt khách trong nước đến du lịch biển

Thứ tư, tăng cường khai thác năng lượng, khoáng sản, thuỷ sản biển Đẩy mạnh sản xuất muối biển trên cơ sở thâm canh, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất các đồng muối hiện có.

Mặc dù ngành khai thác dầu thô và khí thiên nhiên trên biển Việt Nammới được bắt đầu từ năm 1986, nhưng hiện đang đứng ở vị trí thứ 4 ở ĐôngNam Á và thứ 44 trong Cộng đồng các quốc gia khai thác dầu mỏ trên thế giới.Ngành dầu khí là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn có tiềm lực kỹ thuật,vật chất lớn và hiện đại nhất trong nhũng ngành khai thác biển, đồng thời cũng

Trang 25

là một trong những ngành xuất khẩu thu được nhiều ngoại tệ nhất Cần đẩymạnh phát triển công nghiệp ven biển, trước hết là dầu mỏ, khí đốt, than, quặngkim loại, chuẩn bị điều kiện khai thác khoáng sản ở biển sâu sau năm 2010 Bêncạnh khai thác khoáng sản biển, thì thủy sản cũng đóng vai trò quan trọng vìthuỷ sản là nguồn tài nguyên tài tạo, phát triển dựa trên nền tảng của các hệ sinhthái Kinh tế thuỷ sản bảo đảm và cải thiện kế sinh nhai cho dân cư sống ở vùngnông thôn ven biển và hải đảo Tiếp tục phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷhải sản để đến năm 2010 đạt tổng sản lượng 4 triệu tấn Mở rộng thêm diện tíchnhững nơi thuận lợi nhất cho nghề muối, đưa diện tích các đồng muối lên 30- 35nghìn ha vào năm 2010

Thứ năm, phát triển kết cấu hạ tầng biển trên cơ sở đầu tư nâng cấp các cụm cảng, đáp ứng yêu cầu xuất nhập khẩu Nâng công suất cụm cảng phía Bắc

lên 60 - 70 triệu tấn, miền Trung 40 - 50 triệu tấn/năm, miền Nam 90 - 100 triệutấn vào năm 2010 Nâng cấp và chuẩn bị điều kiện xây mới một số sân bay venbiển Khẩn trương xây dựng các cảng biển nước sâu, qui mô lớn có thể tiếp nhậncác tàu biển trọng tải lớn từ 50.000 – 100.000 DWT Ngành hàng hải Việt Namcần 4-5 tỉ USD từ nay đến năm 2015 để đầu tư phát triển cảng biển Năm 2008,cảng biển Nam Ninh (cảng đầu tiên đạt tiêu chuẩn quốc tế ở phía bắc) chính thứcđược đưa vào khai thác đã đánh dấu sự phát triển mới của ngành vận tải biển ViệtNam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Tóm lại, mục tiêu của Cộng đồng quốc tế nói chung và của từng quốc giaven biển nói riêng là phát triển bền vững như Chương trình nghị sự 21 của Liênhợp quốc đã đưa ra Phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện chưa được coi là bềnvững Vì vậy, để phá triển một nền kinh tế biển hiệu quả, bền vững và có khảnăng hội nhập quốc tê cần có một phương pháp quản lý biển tổng hợp, đảm bảođược an ninh sinh thái và an ninh xã hội ở vùng biển đảo và ven biển Thêm nữa

là phải thay đổi cách tư duy về quản lý và khai thác tài nguyên biển, phải chinhphục biển và chế ngự biển khơi, có như vậy, mục tiêu “trở thành một quốc giamạnh về biển, giàu lên từ biển vào năm 2020” của Chính phủ Việt Nam mới cókhả năng thành hiện thực

Trang 26

Chủ đề 2

VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP CÁC NGÀNH KINH TẾ BIỂN

Ở VIỆT NAM

Hình 2.1: Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển Việt Nam

1 Khai thác tổng hợp các ngành kinh tế biển, đảo

Hoạt động kinh tế biển, đảo rất đa dạng bao gồm đánh bắt và nuôi trồnghải sản, khai thác các đặc sản, khai thác khoáng sản trong nước biển và trong

Trang 27

lòng đất, du lịch biển và giao thông vận tải biển Chỉ có khai thác tổng hợp mớiđem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.

Môi trường biển là không chia cắt được Bởi vậy, một vùng biển bị ô nhiễm

sẽ gây thiệt hại cho cả vùng bờ biển, cho các vùng nước và đảo xung quanh

Môi trường đảo, do sự biệt lập nhất định của nó, không giống như trên đấtliền, lại do có diện tích nhỏ, nên rất nhạy cảm trước tác động của con người Chẳnghạn, việc chặt phá rừng và lớp phủ thực vật có thể làm suy giảm rõ rệt nguồn cungcấp nước ngọt, khiến đời sống nhân dân trên đảo gặp rất nhiều khó khăn

2 Khai thác và nuôi trồng hải sản

2.1 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành khai thác và nuôi trồng hải sản

- Nước ta có bờ biển dài 3260km và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng

1 triệu km2 Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú Tổng trữlượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng1,9 triệu tấn

+ Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong đó có hơn 100 loài có giá trịkinh tế Các loài có sản lượng cao nhất thuộc nhóm cá nổi là cá nục, cá trích, cácơm, cá nhám, cá căng, cá hồng, cá hố, cá đỏ môi, cá ngừ, cá thu, cá chuồn, cáchim, cá liệt Thuộc nhóm cá tầng đáy có cá lượng, cá mối, cá hồng, cá khế, cátrác, cá miễn sành, cá sạo, cá song, cá đối, cá phèn, cá đù, cá úc

Trữ lượng cá nổi khoảng trên 1,7 triệu tấn và khả năng khai thác hàngnăm đạt khoảng 700.000 tấn Nơi khai thác nhiều nhất là vùng biển phía đôngNam Bộ chiếm 30,3%, sau đó đến miền Trung khoảng 28,9%, vịnh Bắc Bộ22,5% và sau cùng là vùng biển phía Tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan) 18,3%

Trữ lượng cá tầng đáy khoảng hơn 1 triệu tấn với khả năng khai tháckhoảng trên 400000 tấn/năm Vùng biển phía đông Nam Bộ cũng là nơi nhiều cátầng đáy nhất, chiếm tới 67,91% trữ lượng và khả năng khai thác, sau đến vịnhThái Lan chiếm 18,5%, vịnh Bắc Bộ chiếm 7,6% và cuối cùng là miền Trungchiếm 6%

Như vậy tổng trữ lượng cá biển trên biển Đông Việt Nam là khoảng hơn2,7 triệu tấn, với khả năng khai thác khoảng 1,1 triệu tấn, trong đó cá nổi chiếm62,8%, cá tầng đáy 37,2% Nơi giàu nhất là khu vực đi từ Ninh Thuận đến KiênGiang, sau đó đến vịnh Bắc Bộ, nghèo nhất từ Đà Nẵng đến Nha Trang

+ Biển nước ta có khoảng 1647 loài giáp xác, trong đó tôm, cua là nhữngloài có giá trị kinh tế cao

• Tôm có khoảng 100 loài, nhiều loài có giá trị kinh tế (khoảng 50%) đa

số sống ở vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt Cũng

Trang 28

có loài sống ở ngoài khơi, xa vùng cửa sông, nhưng ở các thời kì tôm con và lớnlên chúng vẫn thường cư trú ở các bãi triều cửa sông ven biển

Tôm he tập trung nhiều nhất từ Vũng Tàu đến Phú Quốc, thứ hai là vùngven biển Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, thứ ba là ngoài khơi Ninh Thuận – BìnhThuận Các loài tôm he có giá trị kinh tế cao là tôm he bạc, tôm rảo, tôm bộp, tômsắt, tôm thẻ rằn, tôm sú, tôm vàng, tôm đuôi xanh Tôm sú có kích thước lớn nhất,dài trung bình 20cm, năng 150g, tối đa có thể đạt đến 30cm, nặng 250g

Tôm hùm và tôm rồng tập trung ở vùng duyên hải Trung Bộ từ Quảng Bìnhđến Ninh Thuận Các loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao là tôm hùm sao (loài lớnnhất, tối đa dài đến 36cm, năng 3,4kg, còn trung bình dài khoảng 23cm, năng2kg), tôm hùm ma, tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi, tôm hùm xanh, tôm hùm lông.Tôm hùm đỏ và tôm hùm sỏi chiếm khoảng 70% tổng sản lượng tôm hùm

Tôm vỗ tập trung ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ngoài khơi QuảngNgãi – Bình Định – Phú Yên, ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận và vùngCôn Đảo

Khả năng khai thác tôm ở vùng biển nước ta khoảng 55 – 70 ngàntấn/năm, trong đó (1) vùng ven bờ khoảng 20.000 - 24.000 tấn (Nam Bộ 16.500 -

19.000 tấn, Trung Bộ 2.000 - 3.000 tấn, Vịnh Bắc Bộ 1.500 - 2.000 tấn) và vùng

xa bờ khoảng 35.000 - 46.000 tấn

Vùng biển nước ta có khoảng 800 loài cua trong tổng số 2500 loài cua củavùng biển nhiệt đới Ấn Độ Dương – tây Thái Bình Dương Có giá trị nhất lànhóm cua bể, ghẹ Nhìn chung chúng có mặt ở hầu hết các vùng bờ biển, nhưng

ít tập trung thành các bãi lớn Vì vậy việc khai thác thường là thủ công, cho năngsuất thấp Theo những kết quả nghiên cứu, ở vịnh Bắc Bộ có khoảng 400 loàicua, phân bố tới độ sâu 40 – 50m Ngoài ra, nhân dân vùng ven biển còn khaithác cáy rạn, cùm cụp, cáy xanh làm thực phẩm

+ Vùng biển nước ta có rất nhiều loài nhuyễn thể, với hơn 2500 loài

• Mực có 37 loài thuộc 4 họ (mực nang, mực ống, mực xim, mựcommastrephidae) Trong số này mực nang và mực ống có số lượng lớn và phân

bố rộng Mực phân bố ở độ sâu khoảng 10 - 70m, có nồng độ muối khoảng 30‰

và nhiệt độ nước biển trên 200C

Những nơi mực tập trung thành các ngư trường lớn phân bố ở vùng đảoCái Chiêm – Vĩnh Thực, quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (HảiPhòng) Hòn Mê (Thanh Hóa), Hòn Mắt (Nghệ An), vùng biển Phan Thiết –Hàm Tân (Bình Thuận) Ngoài ra, mực còn có ở vùng biển Nha Trang (KhánhHòa), Phan Rang (Nình Thuận), Côn Đảo, Cà Mau nhưng số lượng không lớn

Trữ lượng mực ở vùng biển nước ta khoảng gần 60 nghìn tấn, trong đókhả năng đánh bắt khoảng gần 24 ngàn tấn, chiếm 40% trữ lượng

1() Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 29

Bảng 2.1 Trữ lượng mực ở các vùng biển Việt Nam (đơn vị: tấn) (2)

Loại mực Vịnh Bắc Bộ Biển miền Trung Đông Nam Bộ Tây Nam Bộ

• Ốc có mặt ở hầu hết các vùng ven biển nước nông Ở vịnh Bắc Bộ,trong nhóm các loài ốc thì có giá trị kinh tế cao là bào ngư Bào ngư phân bố ởnhiều quần đảo Cô Tô, Ba Mùn, Thượng Mai (Quảng Ninh) Bạch Long Vĩ (HảiPhòng), ven biển Hà Tĩnh, Quảng Trị, quần đảo Côn Sơn Ở ngoài khơi, trêncác rạn san hô của Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển phía Nam có nhiều loài ốckích thước lớn, vỏ có nhiều vân đẹp như: ốc đụn, ốc xà cừ, ốc gáo, ốc lam, vúnàng không chỉ làm thực phẩm mà còn khai thác vỏ để làm hàng mĩ nghệ

• Trai ngọc: chủ yếu khai thác để lấy ngọc sản xuất các mặt hàng mĩ nghệxuất khẩu Chúng thường phân bố ở các rạn đá, rạn san hô của vùng đảo Cô Tô(Quảng Ninh), Nam Trung Bộ, Côn Đảo

• Sò huyết: là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Những vùng sò huyết

có hàm lượng và chất lượng cao phân bố ở Quảng Ninh, Lăng Cô (Thừa Thiên –Huế), Ô Loan (Phú Yên), ven biển Đông Nam Bộ

• Hàu: thường phân bố trong vùng biển có rạn đá quanh các đảo, cácvùng cửa sông Tại những vùng nước lợ có mực triều cao, giàu thức ăn, hàu pháttriển nhanh

• Ngoài ra còn các loài như vẹm xanh, trai tai tượng, hến biển chỉ thấy phân

bố ở vùng biển Nam Trung Bộ, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa Những loài cókích thước lớn, cho sản lượng thịt cao Những giống loài khác như: tu hài, don, dắt,móng tay, quéo bùn cũng được nhân dân ta khai thác làm thực phẩm

+ Đã phát hiện được 653 loài rong biển trong vùng biển Đông Việt Nam.Trong các ngành rong, rong đỏ có 310 loài (chiếm 47,5%), rong lục 151 loài(21,1%), rong nâu 124 loài (19%), rong lam 68 loài (chiếm 12,4% còn lại Sốloài rong biển có giá trị kinh tế khoảng 90 loài, chiếm 13,7% trong tổng số 653loài, trong đó rong mơ và rong câu là quan trọng nhất

• Rong mơ có trữ lượng khoảng 35.000 tấn, tập trung nhiều ở phía Nam(chiếm 61,42%), nhất là từ Phú Yên đến Bình Thuận, còn ở miền Bắc (chiếm38,58%), tập trung hầu hết ở Quảng Ninh

• Rong câu có trữ lượng khoảng 9300 tấn, vịnh Bắc Bộ có khoảng 5500tấn chiếm 59,1%, còn miền Nam có 3800 tấn, chiếm 48,9% Các tỉnh có nhiềurong câu là Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên

2() Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 30

+ Vùng biển nước ta còn có nhiều loài chim biển (khoảng 200 loài chimvới các nhóm: hải âu, bồ nông, rẽ, mòng biển, yến ) và nhiều loài bò sát quýhiếm, nằm trong Sách đỏ thế giới

- Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm đã đượcxác định là : ngư trường Cà Mau - Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngưtrường Ninh Thuận - Bình Thuận - Bà Rịa - Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng-Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quầnđảo Trường Sa Đây là nơi có nhiều cá, tôm và các hải sản khác, thuận lợi choviệc khai thác, cho năng suất và sản lượng cao

- Dọc bờ biển nước ta có những bãi triều, đầm phá, các cánh rừng ngậpmặn Đó là những khu vực thuận lợi cho nuôi trồng hải sản Ở một số hải đảo cócác rạn đá, là nơi tập trung nhiều hải sản có giá trị kinh tế Ven bờ có nhiều đảo

và vũng, vịnh tạo điều kiện cho các bãi cá đẻ

- Nhân dân ta có kinh nghiệm và truyền thống đánh bắt và nuôi trồng hảisản Các phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn Hoạtđộng khai thác và nuôi trồng được thuận lợi hơn do phát triển dịch vụ thuỷ sản

và mở rộng chế biến thuỷ sản

- Cùng với sự tăng dân số thế giới và trong nước, nhu cầu về các mặt hàngthuỷ sản tăng nhiều trong những năm gần đây Các mặt hàng thuỷ sản của nước

ta cũng đã thâm nhập được vào thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kì

- Những đổi mới trong chính sách của Nhà nước đã và đang có tác độngtích cực tới sự phát triển ngành thuỷ sản Khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi

và giữ vững chủ quyền vùng biển, hải đảo

- Tuy nhiên, việc phát triển ngành hải sản ở nước ta gặp không ít khó khăn + Hàng năm có tới 9 - 10 cơn bão xuất hiện ở Biển Đông và khoảng 30 -

35 đợt gió mùa Đông Bắc, nhiều khi gây thiệt hại về người và tài sản của ngưdân, hạn chế số ngày ra khơi

+ Tàu thuyền, các phương tiện đánh bắt nói chung còn chậm được đổi mới, dovậy năng suất lao động còn thấp Hệ thống các cảng cá còn chưa đáp ứng yêu cầu

+ Ở một số vùng ven biển, môi trường bị suy thoái và nguồn lợi thuỷ sảncũng bị đe doạ suy giảm

2.2 Thực trạng khai thác và nuôi trồng hải sản

* Đánh bắt và khai thác hải sản

- Đánh bắt hải sản: cá, tôm, cua, mực

Nhìn chung, sản lượng đánh bắt hải sản (chủ yếu là cá biển) trong nhữngnăm qua liên tục tăng

Bảng 2.2 Sản lượng đánh bắt hải sản của nước ta (nghìn tấn)

Trang 31

Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt, 2010.

Trong cơ cấu sản lượng hải sản, cá biển chiếm ưu thế tuyệt đối, phần cònlại là tôm, mực và các hải sản khác

Bảng 2.3 Cơ cấu sản lượng khai thác hải sản (%)

Năm Tổng số Cá Tôm, mực và các hải sản khác

là Kiên Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận và Cà Mau

Việc gia tăng sản lượng khai thác hải sản trong những năm gần đây là do sốlượng tàu đánh bắt tăng và ngày càng hiện đại Các tàu có thể đánh bắt xa bờ vớithời gian dài, góp phần hạn chế suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ và bảo vệ chủquyền đất nước

Bảng 2.4 Số tàu đánh bắt hải sản xa bờ của nước ta

Trang 32

Năm Số tàu đánh bắt (chiếc) Tổng công suất các tàu đánh

Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt, 2010 Tổng cục Thống kê

Tuy nhiên việc đánh bắt hải sản vẫn còn nhiều tồn tại cần phải giải quyết: + Mặc dù phương tiện đánh bắt ngày càng hiện đại nhưng vẫn còn nhiềuphương tiện đánh bắt lạc hậu, nên việc đánh bắt ven bờ vẫn diễn ra phổ biến làmcho nguồn lợi hải sản ven bờ bị suy giảm nhanh chóng

+ Việc sử dụng ánh sáng quá mức, sử dụng chất độc hoặc nổ mìn khôngnhững tận diệt loại hải sản đang khai thác mà còn gây ô nhiễm môi trường, ảnhhưởng đến các loài sinh vật khác

Trang 33

Hình 2.3: Con vích dài 1,8m, chiềungang lưng 1m, nặng khoảng 200kg.Toàn bộ cơ thể vích chỉ một màu đen, đãđược ngư dân huyện Quỳnh Lưu (NghệAn) thả về biển tháng 5 - 2011

Để khai thác nguồn lợi hải

sản một cách bền vững, góp phần

bảo vệ an ninh chủ quyền đất nước

cần đầu tư nâng cấp phương tiện

đánh bắt xa bờ; hoàn thiện và mở

rộng các cơ sở hạ tầng và dịch vụ

hậu cần nghề cá; tạo mọi điều kiện

thuận lợi cho ngư dân bám biển

dài ngày, nhất là vùng biển quần

đảo Trường Sa, Hoàng Sa; không

sử dụng hình thức đánh bắt mang

tính hủy diệt; quy định kích thước

mắt lưới, thời gian và khu vực khai

thác; cứu hộ và thả về biển những

sinh vật quý hiếm

- Khai thác rong biển

+ Rong biển có rất nhiều công dụng

Nhóm dùng làm thực phẩm chiếm tới 33%, do rong biển giàu protein, chủyếu gồm các loài như rong cải biển, rong mứt, rong đông, rong giấy, rong cạo,rong thun thút dùng để làm nộm hoặc nấu thạch, chế biến nước giải khát, cóthể phơi khô để dùng dần

Nhóm dùng trong công nghiệp chiếm 27%, chủ yếu để chế biến agar,alginate Agar được chế biến từ rong câu có trên 50 công dụng, như làm tăng độtrong của rượu, làm xốp bánh mì, lấy giấy bọc kẹo, vỏ bọc thuốc, hồ tơ lụa, làmthuốc đánh răng Alginate chế biến từ rong mơ cũng được dùng để sản xuất cao

su, xà phòng, keo dính, giấy không thấm nước, kem bôi da, thuốc nhuộm tóc,dầu bôi trơn

Nhóm dùng trong y dược chiếm 20% để chế thuốc giun, thuốc điều tiếtsinh sản, điều trị huyết áp, điều chế thuốc gây mê, chữa bệnh bướu cổ, làm chỉkhâu vết thương

Ngoài ra, rong biển còn được khai thác làm thức ăn cho gia súc, làm phânbón hữu cơ …

+ Về sản lượng khai thác: rong câu có sản lượng khai thác khoảng 7000tấn, trong đó rong câu chỉ vàng chiếm tuyệt đại đa số (trên 90%) Sản lượngrong mơ khai thác chỉ được khoảng 2000 tấn

+ Do rong biển có nhiều giá trị, cho nên trong những năm gần đây, ngườidân vùng ven biển đã ồ ạt khai thác cây rong biển, gây tác động xấu đến môi

Trang 34

trường sinh thái biển, tận diệt các loài thủy sản trú ngụ, sinh sản ở các vùng cócây rong biển sinh sống

Hình 2.4 Rong được phơi dọc bờ biển

+ Vẫn biết rong biển mang lại nhiều lợi ích cho con người, là loài có chutrình đời sống 1 năm, nếu không được khai thác thì chúng cũng bị tàn lụi, thốirữa Tuy nhiên cần phải bảo vệ, có biện pháp khai thác hợp lí bằng cách:

• Qui hoạch vùng khai thác, ấn định thời gian khai thác rong biển đểtránh tác động xấu đến môi trường biển, làm giảm nguồn lợi thuỷ sản

• Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát khai thác rong biển

• Khuyến cáo người dân tuân thủ những nguyên tắc chung khi tiến hànhkhai thác rong biển

• Tổ chức tuyên truyền đến cộng đồng dân cư về nguồn lợi, giá trị củarong biển đối với môi trường, đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển

- Các loài khác: ráp xác (cua, ghẹ ) nhuyễn thể (ốc, sò, tu hài, vẹm ),

chim biển (chim yến) cũng được khai thác ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu

Trang 35

cầu của người dân, nhất là khách du lịch Một số loài bò sát biển có nguy cơ bịtuyệt chủng do bị săn bắt ráo riết để làm thực phẩm, làm đồ mỹ nghệ

* Nuôi trồng hải sản

- Hiện nay, nhiều loại hải sản đã trở thành đối tượng nuôi trồng, trong đó

cá, tôm được nuôi trồng phổ biến hơn cả

Nuôi trồng hải sản liên quan chặt chẽ đến diện tích mặt nước và thị trườngtiêu thụ Nhìn chung, diện tích nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2005 - 2010 không

ổn định, từ 2005 đến 2007 tăng nhanh, nhưng năm 2008 giảm, năm 2009, 2010

đã tăng trở lại

Về cơ cấu diện tích nuôi trồng thủy sản biển, tôm chiếm ưu thế tuyệt đối.Tôm sú, tôm càng xanh, tôm hùm được nuôi nhiều

Bảng 2.5 Diện tích nuôi trồng thủy sản biển ở nước ta (nghìn ha)

Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt, 2010 Tổng cục Thống kê.

Mặc dù diện tích nuôi trồng không ổn định nhưng sản lượng luôn tăng

Bảng 2.6 Sản lượng nuôi trồng thủy sản biển ở nước ta (nghìn tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt, 2010 Tổng cục Thống kê.

Các tỉnh có sản lượng tôm nuôi lớn nhất là Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,Bến Tre và Kiên Giang Nghề nuôi tôm cũng đang phát triển mạnh ở hầu hết cáctỉnh duyên hải

Trang 36

Việc phát triển nghề nuôi tôm mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân nhưngcũng gây tác hại tới môi trường Rừng ngập mặn có xu hướng giảm về diện tích,suy giảm đa dạng sinh học, một trong những nguyên nhân là do sự gia tăng về diệntích nuôi tôm.

Cần phải tính toán kĩ lưỡng khi nuôi tôm trong rừng ngập mặn làm saokhông ảnh hưởng đến rừng ngập mặn, đồng thời giúp cải thiện kinh tế cho nhândân Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) phối hợp với các tổ chức quốc tếkhác đã đưa ra các nguyên tắc nuôi tôm bền vững mà không ảnh hưởng sâu sắc, lâudài đến rừng ngập mặn

• Lựa chọn vị trí nuôi tôm phù hợp

• Thiết kế và xây dựng khu vực nuôi tôm nhằm giảm thiệt hại môi trường

• Sử dụng của nước thải nuôi tôm đến nguồn nước

• Lựa chọn nguồn giống tôm nuôi địa phương không bị dịch bệnh

• Lựa chọn và quản lí thức ăn của tôm sao cho hiệu quả và ít xả thải ramôi trường

• Chăm sóc tôm nuôi bằng các phương pháp không gây hại cho các sinhvật hoang dã

• Đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng tôm nuôi Không sử dụngcác hóa chất gây hại cho hệ sinh thái và sức khỏe con người

Hình 2.6 Nuôi tôm tại Cà Mau

- Để đẩy mạnh chương trình nuôi trồng hải sản đến năm 2015, tổng sảnlượng cá biển nuôi của cả nước đạt 160.000 tấn và định hướng đến năm 2020 đạt

200.000 - 260.000 tấn, cả hai hình thức: nuôi cá biển theo kiểu lồng bè đơn giản, phân tán trong các eo vịnh, cửa sông, ven biển và nuôi trên lồng bè tập trung quy

Trang 37

mô công nghiệp ở các vùng vịnh bán kính xa bờ tại một số tỉnh trọng điểm như

Quảng Ninh, Phú Yên, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Kiên Giang đang được triển khaimạnh mẽ Các loài hải sản được khuyến khích nuôi như cá giò, cá tráp, cá hồng

- Nghề nuôi trồng nhuyễn thể bao gồm ngao, sò lông, trai ngọc, hàu, tu hài bắt đầu được phát triển ở nhiều nơi Đáng chú ý hơn cả là việc nuôi trai ngọc nhỏbằng công nghệ của Nhật Bản ở Quảng Ninh và nuôi trai ngọc lớn của Ôx-trây-li-a

ở Khánh Hòa Hàu được nuôi nhiều ở Hải Phòng, Hà Tiên (Kiên Giang)

- Việc nuôi rong biển phát triển ở các tỉnh ven biển miền Bắc và miềnTrung Phần nhiều rong biển được chế biến thành agar phục vụ cho nhu cầutrong nước và xuất khẩu Hiện nay, rong biển cũng đang được khuyến khíchnuôi trồng Tuy nhiên, do nhu cầu của thị trường và giá cả cho nên việc nuôitrồng rong biển còn gặp nhiều khó khăn

Nhờ đẩy mạnh nuôi trồng hải sản, cơ cấu kinh tế ở nhiều vùng ven biển

có những chuyển biến tích cực Cuộc sống của nhân dân ngày càng được cảithiện Tài nguyên biển được tận dụng và sử dụng hợp lí hơn

3 Khai thác tài nguyên khoáng sản biển, đảo

3.1.Dầu khí

Tài nguyên dầu khí của nước ta phong phú với trữ lượng khoảng vài tỉ tấndầu và hàng trăm tỉ m3 khí Hầu hết các diện tích chứa dầu đều nằm trên thềmlục địa với độ sâu không lớn Đây là những điều kiện thuận lợi trong công táctìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí

Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò trong thời gian qua đã xác định ở vùngthềm lục địa nước ta có 8 bể trầm tích Đệ tam (có thời gian cách ngày naykhoảng 23 triệu năm) là : Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn,Thổ Chu – Mã lai, Tư Chính – Vũng Mây, Hoàng Sa và nhóm bể Trường Sa, vớidiện tích gần 1 triệu km2 Trong số này, công tác tìm kiếm, thăm dò mới chỉ tậptrung ở các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Thổ Chu – Mã Lai, Sông Hồng

- Bể Sông Hồng: Chiếm phần lớn vịnh Bắc Bộ và kéo dài một phần ởvùng biển miền Trung Đã khoan vài chục giếng, trong đó hàng chục giếng pháthiện thấy khí Kết quả thăm dò thì bể Sông Hồng có triển vọng chứa dầu khí,trong đó tiềm năng sinh khí là chủ yếu Mỏ khí tự nhiên đã được đưa vào khaithác ở Tiền Hải, Thái Bình

- Bể Phú Khánh: Phân bố dọc biển Trung Bộ, phần lớn phân bố ở độ sâu200m Do nằm kề với bể trầm tích Cửu Long, nên nó được đánh giá là có triểnvọng về dầu khí

Trang 38

Hình 2.7 Giàn khoan mỏ Đại Hùng

- Bể Cửu Long: Phân bố dọc

vùng biển Đông Nam Bộ Đây là bể

được tiến hành khoan thăm dò sớm

(từ đầu những năm 1970) Tại bể

Cửu Long hiện nay có một số mỏ

đang được khai thác: Bạch Hổ và

Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc

Hàng chục giếng khoan khai

thác dầu ở mỏ Bạch Hổ và Rồng có lưu

lượng dầu hàng trăm tấn/ngày đêm, có

giếng đạt tới 1000 tấn/ngày đêm

- Bể Nam Côn Sơn: Phân bố

ở rìa phía nam đảo Côn Sơn Công

tác thăm dò bắt đầu từ những năm 1970 Cho tới nay đã phát hiện nhiều giếngkhoan có dầu khí (khí là chủ yếu) Hiện nay tại bể Nam Côn Sơn có một số mỏ

đã được đưa vào khai thác như mỏ Đại Hùng, Lan Tây, Lan Đỏ, Rồng Đôi, RồngĐôi Tây

- Bể Thổ Chu – Mã lai: Phân bố ở vùng vịnh Thái Lan Ở đây phát hiệnthấy dầu khí Khí ở đây có hàm lượng CO2 cao, dao động từ vài phần trăm đếnvài chục phần trăm Mỏ Bunga-Kekwa được đưa vào khai thác năm 1997

- Bể Vũng Mây: Phân bố ở phía đông – đông nam bể Nam Côn Sơn Cácđiều kiện sinh dầu, chứa dầu chưa thật sáng tỏ Bể đang được tiếp tục tiến hànhđiều tra nghiên cứu

- Hai bể Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều triển vọng dầu khí và chứađựng tài nguyên băng cháy (methane hydrate), loại năng lượng sạch trong tươnglai có thể còn quý hơn dầu mỏ

Dầu mỏ là “vàng đen” của Tổ quốc Dầu mỏ ngoài khả năng sinh nhiệtlớn (10.000 đến 11.500 kcal/kg), dầu mỏ rất tiện sử dụng và vận chuyển, dễdàng cơ khí hóa việc nạp nhiên liệu vào động cơ Nhiên liệu cháy hoàn toàn vàkhông tạo thành tro Từ dầu mỏ, sản xuất ra nhiều loại hóa phẩm, dược phẩm

Nước ta mới bắt đầu khai thác dầu mỏ từ năm 1986, nhưng đến năm 2005

đã đạt sản lượng 18,5 triệu tấn dầu thô Cùng với dầu mỏ, khí tự nhiên cũngđang được khai thác, đặc biệt là dự án Nam Côn Sơn đưa khí từ mỏ Lan Đỏ, LanTây về cho các tuốc bin khí của nhà máy điện Phú Mỹ và Cà Mau Ngoài ra, khícòn là nguyên liệu để sản xuất phân đạm (Phú Mỹ, Cà Mau); khí gas được hóalỏng để làm nhiên liệu khá phổ biến trong các gia đình

Trang 39

Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt, 2010 Tổng cục Thống kê.

Dầu khí là tài nguyên không thể phục hồi, khai thác đến đâu hết đến đấy

Ô nhiễm dầu và dầu tràn dù nồng độ dầu trong nước chỉ 0,1mg/l cũng có thể gâychết các loài sinh vật phù du; ảnh hưởng lớn đến con non và ấu trùng của cácsinh vật đáy biển Ô nhiễm dầu ở biển còn ảnh hưởng đến ngành du lịch và cáchoạt động kinh tế khác Năm 2010, vụ nổ tại dàn khoan dầu Deepwater Horizontrong vịnh Mexico làm chết 11 người và khiến hàng trăm nghìn tấn dầu tràn lênmặt biển Người ta phát hiện xác nhiều con cá mập và cá heo dạt vào bờ Cua,rùa và chim vật lộn trong làn nước ô nhiễm khi dầu lan tới những vùng đầm lầycủa bang Louisiana Một bãi biển ở phía nam New Orleans phải ngừng hoạtđộng vì dầu

Vì vậy cần phải khai thác và sử dụng hợp lí, tránh lãng phí và gây ônhiễm môi trường trong quá trình khai thác và vận chuyển

3.2 Tài nguyên muối

Nước ta có đường bờ biển dài 3260km Độ muối trong nước biển trungbình 32‰ - 33‰, gần bằng độ muối bình quân ở đại dương (35‰) Độ mặn củanước biển thay đổi tùy theo khu vực, theo mùa và theo độ sâu

Do nước ta nằm ở khu vực

nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt

độ cao (trung bình năm trên toàn

quốc đều lớn hơn 200C - trừ vùng

núi cao), nhiều nắng (tổng số giờ

nắng tùy nơi từ 1400 đến 3000

giờ/năm), song độ ẩm lớn (trên 80

%), mưa nhiều (lượng mưa trung

bình năm từ 1500 – 2000mm) nên

ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất

cũng như năng suất muối

Thời vụ sản xuất muối ở

miền Bắc bắt đầu từ cuối tháng 4

và kết thúc vào cuối tháng 7 Ở miền Nam bắt đầu từ cuối tháng 1 và kết thúcvào cuối tháng 6

Trang 40

Ở một vài tỉnh như Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, muối

có thể sản xuất quanh năm

Muối có vai trò to lớn trong đời sống và hoạt động sản xuất Muối khôngthể thiếu trong bữa ăn hàng ngày Muối còn được sử dụng trong nhiều ngànhkinh tế như chế biến thực phẩm, hóa chất, y học, xuất khẩu Chính vì vậy, ngay

từ thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã thành lập những công ty độc quyền buônbán muối Nguồn thuế thu từ muối chiếm 6% Ngân sách Đông Dương (thời kỳ

1928 - 1936), lợi nhuận kinh doanh muối của Sở Thương chính Đông Dươngnăm 1936 tương đương 47.618 tấn gạo Trong vòng khoảng 40 năm đầu thế kỉ

XX, các công ty độc quyền muối đã xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn muối

Từ khi nước ta thống nhất, sản lượng muối hàng năm nói chung khôngngừng tăng, không chỉ đáp ứng nhu cầu muối ăn cho nhân dân mà còn cho cảcông nghiệp và xuất khẩu Năm 1995, cả nước có khoảng 11.454ha với sảnlượng 630.000 tấn, đến năm 2009 tăng lên 14.404ha với sản lượng khoảng 1triệu tấn

Những địa phương có diện tích và sản lượng muối nhiều là Hải Phòng, TháiBình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP HồChí Minh, Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu

Ninh Thuận là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất muối Với điều kiện tựnhiên khắc nghiệt: mùa khô kéo dài, mưa ít, lượng bốc hơi cao, nồng độ muốitrong nước biển cao nhất nước (bằng nồng độ muối đại dương) Đây là lợi thế

để Ninh Thuận sản xuất muối công nghiệp với quy mô lớn Năng suất muối cóthể đạt bình quân trên dưới 150 tấn/ha/năm, tương đương năng suất các đồngmuối công nghiệp loại trung của thế giới Có thể tạo được những cánh đồngmuối có quy mô tập trung nhiều ngàn ha, sản lượng có thể đạt trên dưới mộttriệu tấn, mở ra khả năng rất lớn để áp dụng công nghệ cao và trang bị cơ giớihoá trong sản xuất và thu hoạch

Ninh Thuận đang tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch sản xuất, lưu thôngmuối trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và đến năm 2020 Định hướng của tỉnh làđầu tư cải tạo, nâng cấp các đồng muối công nghiệp hiện có và xây dựng cácđồng muối mới để đến năm 2015, đưa tổng diện tích đồng muối toàn tỉnh lêngần 5000ha, trong đó, diện tích thực tế đưa vào sản xuất khoảng 4000ha

3.3 Các loại khoáng sản khác

- Titan

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, titan (Ti) là nguyên tố hoá học nhóm IV

B, chu kì 4 bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học; số thứ tự 22, nguyên tử khối47,90, do nhà khoáng vật học Grêgô (người Anh) tìm ra ở dạng đioxit, năm 1791

Là một trong những vật liệu quan trọng của kĩ thuật mới; hợp kim titan được dùng

để chế tạo tên lửa, máy bay, tàu thuỷ, tàu ngầm, các thiết bị bền với hoá chất (nồi

Ngày đăng: 20/03/2019, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Ngoài ra tài liệu còn sử dụng tư liệu của một số trang web:http://vietnamnet.vn; http://vnexpress; dantri.com.vn; Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam; www.f5news.vn; Tạp chí Du lịch – số 1/2005; www.unescovietnam.vn Link
1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Khoa học và công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước. Hà Nội, 2011 Khác
2. Nguyễn Văn Cư, Phạm Huy Tiến. Sạt lở bờ biển miền Trung Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2003 Khác
3. Thái Thị Xuân Đào (chủ biên). Tài liệu giáo dục bảo vệ môi trường trong các Trung tâm giáo dục thường xuyên. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội, 2009 Khác
4. Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông. Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002 Khác
5. Vũ Phi Hoàng, Kể về hải đảo của chúng ta, NXB Giáo dục, 1984 Khác
6. Nguyễn Chu Hồi. Cơ sở tài nguyên và môi trường biển. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Khác
7. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí. Rừng ngập mặn, nguồn tài nguyên quý giá của chúng ta. NXB Thanh niên, Hà Nội, 2009 Khác
8. Phan Nguyên Hồng và nnk. Rừng ngập mặn của chúng ta. NXB Giáo dục.Hà Nội, 1995 Khác
11. Biển và đảo Việt Nam (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên PTTH), Hà Nội 1994 Khác
12. Phạm Trung Lương (Chủ biên). Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002 Khác
13. Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch. Tổng Cục Du lịch Việt Nam, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội 2000 Khác
14. Lê Đức Tố, Hoàng Trọng Lập, Trần Công Trục, Nguyễn Quang Vinh. Quản lý biển. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Khác
15. Viện Địa lý. Nghiên cứu đề xuất các mô hình phát triển kinh tế - xã hội vững cho một số khu vực ven biển và đảo ven bờ biển Việt Nam. Báo cáo tổng hợp đề tài độc lập cấp Nhà nước, Mã số ĐTĐL. 08/G04. Hà Nội, 2010 Khác
16. Viện Địa lý. Đánh giá tổng hợp một số dạng thiên tai lũ lụt, sạt lở bờ biển cửa sông các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và đề xuất giải pháp phòng tránh. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội 2011 Khác
17. Vụ Giáo dục Trung học, Chương trình phát triển giáo dục Trung học. Tài liệu tập huấn phát triển chuyên môn giáo viên trường Trung học phổ thông chuyên môn Địa lý, Hải Phòng, 2011 Khác
18. Nguyễn Văn Phòng, Hải dương học và biển Việt Nam, NXB Giáo dục, 1998.Lê Bá Thảo, Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lí, NXB Thế giới, 1998 Khác
20. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên) và nnk, Địa lí du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w