Những tổ chức này có vai trò rất quan trọngtrong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đạidiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm
Trang 1TÀI LIỆU ÔN TẬP MÔN KIẾN THỨC CHUNG (Phục vụ kỳ thi tuyển công chức tỉnh Bến Tre năm 2018)
ĐẢNG CỘNG SẢN VN
QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH NƯỚC NHÀ NƯỚC
CHÍNH PHỦ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỔ CHỨC
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Trang 22 Bản chất, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước CHXHCN Việt Nam
Hệ thống chính trị ở nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đượchình thành sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cùng với sựhình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Cùng với sựphát triển của xã hội mới, hệ thống chính trị của nước ta ngày càng được củng
cố, phát triển và hoàn thiện Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Namthể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là cơ chế để thực thiquyền lực chính trị trong bối cảnh giai cấp công nhân trong liên minh với giaicấp công nhân và đội ngũ trí thức đã trở thành giai cấp cầm quyền Như vậy,
hệ thống chính trị trở thành công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân,giai cấp nông dân và toàn thể nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta
Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo những nguyên tắc phổ biếncủa hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa:
- Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đốivới Nhà nước và xã hội
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất; có sự phân công, phốihợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp
3 Vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị nước CHXHCN Việt Nam
3.1 Đảng Cộng sản Việt Nam
Hệ thống chính trị nước ta hiện nay được tổ chức và hoạt động dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạonhà nước và xã hội Vai trò, vị trí và khả năng lãnh đạo của Đảng được xã hộithừa nhận thông qua sự nghiệp lãnh đạo của Đảng đối với cả dân tộc trongcông cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng CNXH
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam;đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và củadân tộc Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ,giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thựchiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và
xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chínhsách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổchức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng
Trang 3thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệunhững đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các
cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chứcđảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăngcường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu Đảng thườngxuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huymạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức kháctrong hệ thống chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, giữ vai trò quan trọngtrong hệ thống chính trị và trong xã hội Đảng không chỉ là một bộ phận cấuthành của hệ thống chính trị mà còn là lực lượng lãnh đạo toàn hệ thống chínhtrị và lãnh đạo toàn bộ xã hội Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựngĐảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật
3.2 Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namlà trụ cột của hệ thốngchính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của giaicấp cầm quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt độngcủa đời sống xã hội Nhà nước trong hệ thống chính trị có chức năng thể chếhoá đường lối, quan điểm của Đảng thành các quy định pháp luật trong Hiếnpháp, pháp luật và thực hiện quyền quản lý đất nước Hoạt động của nhà nướcnằm dưới sự lãnh đạo của Đảng nhưng có tính độc lập tương đối, với cáccông cụ và phương thức quản lý riêng của mình Nhà nước quản lý các mặtđời sống xã hội bằng công cụ pháp luật và có bộ máy cưỡng chế để đảm bảothực thi pháp luật
3.3 Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội thànhviên là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động theo phương thức hiệpthương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên
Các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội là nơi tập hợp quầnchúng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, làmột bộ phận không thể thiếu của một xã hội dân chủ Các tổ chức này ở nước
ta hiện nay là bộ phận không tách rời của hệ thống chính trị và là cơ sở chínhtrị của chính quyền nhân dân;là một trong những công cụ bảo đảm quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân Những tổ chức này có vai trò rất quan trọngtrong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đạidiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợiích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lànhmạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cáchmạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với
Trang 4Đảng, Nhà nước, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổimới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làmchủ.Các đoàn thể chính trị - xã hội rất đa dạng, có thể là các tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, (Hội làm vườn, HộiDoanh nhân, Hội Nhà báo, Hội Nạn nhân chất độc da cam Dioxin )
Trong số các tổ chức quần chúng ở nước ta, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam là tổ chức nòng cốt, giữ vai trò quan trọng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giaicấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nướcngoài Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là ngườilãnh đạo Mặt trận Những đoàn thể chính trị - xã hội khác cũng có vai tròquan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta gồm:
- Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng
lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tựnguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng; đại diện và bảo vệcác quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội
tập hợp tầng lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bịcủa Đảng Tổ chức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầuhết các cơ quan, đơn vị, được tổ chức theo hệ thống hành chính từ trung ươngđến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội bổ ích, lànhmạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho thanh niên
- Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của phụ
nữ, bảo vệ quyền bình đẳng, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Hội
có nhiệm vụ đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tham gia vào các hoạt động chínhtrị, xã hội để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới
- Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông
dân, có nhiệm vụ vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làmchủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấpnông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền vàlợi ích của nông dân Việt Nam
- Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội, nơi tập
hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và pháthuy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng,chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiếnbinh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bótình bạn chiến đấu
Trang 5Chuyên đề 2 NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm
Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp, có tính đa dạng, đa chiều
và nội hàm phong phú Dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, nhà nướcđược định nghĩa là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, bao gồm mộtlớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức
và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của xã hội cũng như lợi ích của lựclượng cầm quyền trong xã hội
2 Sự ra đời và bản chất của nhà nước
2.1 Sự ra đời của nhà nước
Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là những mâu thuẫngiai cấp không thể điều hoà được V.I.Lênin nhận định: “Nhà nước là sảnphẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được.Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâuthuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại:
sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thểđiều hoà được”.Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, được phát triển qua quátrình phát triển tự nhiên của xã hội loài người Sự phát triển của sản xuất vậtchất chuyển xã hội từ cung không đủ cầu sang giai đoạn có của cải dự thừa,tiêu dùng đã có dự trữ thì việc chiếm đoạt tài sản dự trữ đã phân hóa xã hộithànhcác giai cấp đối lập nhau về lợi ích và nảy sinh mâu thuẫn giai cấp Khimâu thuẫn giai cấp phát triển đến độ không thể điều hòa được thì nhà nước rađời Lịch sử loài người chỉ ra rằng không phải khi nào xã hội và nhà nướccũng cùng tồn tại mà nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi trong xã hội có tồntại những mâu thuẫn giai cấp không điều hòa được Do đó, nhà nước sẽ tựtiêu vong khi những mâu thuẫn này không còn nữa C.Mác và Ph.Ăngghenkhi phân tích sự ra đời của nhà nước cũng đã nói: “Nhà nước là sản phẩm củamột xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thú nhận rằng xãhội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giảiquyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điềuhoà mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được Nhưng muốn cho nhữngmặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không
đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấutranh vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng rõ ràng làđứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt xung đột và giữ cho xung đột đónằm trong vòng trật tự Và lực lượng đó chính là nhà nước”
Trang 62.2 Bản chất của nhà nước
Vì là bộ máy thống trị giai cấp, bảo vệ cho lợi ích của một giai cấp nhấtđịnh nên nhà nước luôn mang bản chất giai cấp, không có nhà nước phi giaicấp Theo chủ nghĩa Mác thì không có và không thể có nhà nước đứng trêncác giai cấp hoặc nhà nước chung cho mọi giai cấp Nhà nước chính là một bộmáy do giai cấp thống trị về kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng
cố sự áp bức của chúng đối với quần chúng lao động Giai cấp thống trị sửdụng bộ máy nhà nước để đàn áp, cưỡng bức các giai cấp khác trong khuônkhổ lợi ích của giai cấp thống trị Đó là bản chất của nhà nước theo nguyênnghĩa, tức nhà nước của giai cấp bóc lột Theo bản chất đó, nhà nước khôngthể là lực lượng điều hòa sự xung đột giai cấp, mà trái lại, nó càng làm chomâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt Như vậy, nhà nước là bộ máy quantrọng nhất của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp V.I Lênin khi
đề cập tới bản chất của nhà nước cũng chỉ rõ: “Nhà nước là một bộ máy dùng
để duy trì thống trị của một giai cấp này đối với giai cấp khác” Để thực hiệnquyền thống trị của mình, nhà nước bao giờ cũng là một bộ máy nhất định, nó
tự tách ra từ xã hội và gồm một nhóm người chỉ chuyên làm công việc caitrị Bộ máy đó bao giờ cũng nắm trong tay một bộ máy cưỡng bức nhất định,một cơ quan thực lực ”
Tất cả những hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội do nhà nước tiếnhành, xét cho cùng, đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị Thực tế lịch
sử đã chứng minh rằng, cho dù được che giấu dưới hình thức tinh vi như thếnào, cho dù có bị khúc xạ qua những lăng kính phức tạp ra sao, nhà nướctrong mọi xã hội có giai cấp đối kháng cũng chỉ là công cụ bảo vệ lợi ích củagiai cấp thống trị
II NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
1 Sự ra đời
Tháng 8/1945, trong bối cảnh nhân dân Liên Xô chiến thắng phát – xítĐức và bọn quân phiệt Nhật Bản, Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời chớpthời cơ, lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp địnhGeneve năm 1954 được ký kết, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng MiềnNam còn bị đế quốc và phong kiến thống trị, nhà nước tạm thời bị chia cắtlàm hai miền Lúc này, cách mạng Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm
vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh thốngnhất đất nước Theo Hiến pháp năm 1959, nước ta vẫn giữ tên là Việt Namdân chủ cộng hòa Sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thốngnhất, tháng 7/1976 nước ta lấy tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namcho đến nay
2 Bản chất của nhà nước
Bản chất của Nhà nước ta hiện nay thể hiện cụ thể bản chất của nhà
Trang 72.1 Nhà nước CHXHCN Việt Nam mang bản chất giai cấp
Nhà nước được hình thành trên nền tảng liên minh giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam; giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản ViệtNam giữ vai trò lãnh đạo Tính tiên phong của giai cấp công nhân được thểhiện trong quá trình đấu tranhcáchmạng, ở sự trung thành với lý tưởng cáchmạng, ở khả năng nhận thức và tư tưởng đổi mới, phát triển Bản chất giaicấp của Nhà nước ta thể hiện bản chất của giai cấp công nhân, là giai cấp tiêntiến nhất, cách mạng nhất, phấn đấu vì lợi ích của nhân dân lao động và củatoàn xã hội Cùng với việc thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của các tầng lớpnhân dân trong xã hội, nhà nước còn thể hiện sự chuyên chính với các thếlực phản động, thù địch, có những hành vi chống đối, đi ngược lại lợi ích củanhân dân và của dân tộc Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của nhân dân, dântộc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đều bị nhà nước nghiêmtrị theo pháp luật
2.2 Nhà nước CHXHCN Việt Nam mang bản chất xã hội
Nhà nước bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong xã hội Nhà nước taluôn quan tâm thực hiện quản lý xã hội, giải quyết tốt các công việc mang tính xãhội, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân lao động Nhà nước đảm bảo trật tự, antoàn xã hội, chăm lo phát triển kinh tế và tổ chức xây dựng cung ứng các dịch vụcông đáp ứng nhu cầu công cộng của xã hội Đồng thời, Nhà nước giải quyết cácvấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển như: công trình giao thông, xóađói giảm nghèo, dân số, việc làm, bình đẳng giới, bảo vệ môi trường…
2.3 Nhà nước CHXHCN Việt Nam mang bản chất dân chủ
Bản chất dân chủ của nhà nước được thể hiện qua hai hình thức: dânchủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Với quyền được biết, được bàn, được thamgia ý kiến nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp; quyền dân chủ giántiếp được nhân dân thực hiện thông người đại diện do mình bầu chọn để thamgia vào hoạt động của nhà nước Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa sự phát triển đất nước Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phảiđược thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật đảm bảo
3 Chức năng của nhà nước
Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nướcphù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởiđiều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát triển của nó
Các chức năng cơ bản của nhà nước gồm:
3.1 Chức năng đối nội: Là những mặt hoạt động chủ yếu của Nhà
nước trong quan hệ với cá nhân, tổ chức trong nội bộ đất nước Chức năng đốinội gồm:
a) Chức năng kinh tế
Trang 8Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, chức năng kinh tế của Nhà nước
có sự khác nhau nhất định nhưng bao giờ nó cũng là chức năng cơ bản, quantrọng nhất của nước ta Chức năng kinh tế của Nhà nước Việt Nam có nhữngnội dung chủ yếu sau đây:
- Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững; chuyển dịch cơ cấukinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần,trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể phát triển vớinhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt; tạo môitrường kinh doanh cho cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân phát triển; pháttriển đa dạng kinh tế tư bản Nhà nước; tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài phát triển
- Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loạithị trường theo định hướng XHCN, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý kinh tếthị trường định hướng XHCN
- Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nềnkinh tế
b) Chức năng xã hội
Nội dung cơ bản của chức năng xã hội của nước ta có thể khái quát ởcác hướng chính sau:
- Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
- Xác định khoa học - công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn văn hoá dân tộc, tiếp thu cóchọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại
- Xây dựng, thực hiện chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân
- Tạo điều kiện để mỗi công dân đều có việc làm, khuyến khích mởrộng sản xuất, thu hút sức lao động; tích cực trong việc giải quyết vấn đề thấtnghiệp
- Xây dựng chính sách thu nhập hợp lý, điều tiết mức thu nhập giữanhững người có thu nhập cao sang những người có thu nhập thấp qua cácchính sách về thuế
- Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần đối với những người có công, người về hưu, người yếu thế trong
xã hội
- Chủ động tìm các biện pháp để giải quyết các tệ nạn xã hội
- Xây dựng và thực hiện các chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợgiúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 9và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hết sức chăm lođoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc
- Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường, phát triểnbền vững
c) Chức năng bảo vệ an ninh trật tự xã hội
- Nhà nước tăng cường sức mạnh về mọi mặt, sử dụng các hình thức vàphương pháp để giữ vững sự ổn định chính trị, kiên quyết chống lại những ý
đồ, hành vi nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị của đất nước
- Bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân Khôngngừng mở rộng việc ghi nhận các quyền con người thành các quyền công dân;xác lập cơ chế pháp lý hữu hiệu nhằm bảo đảm cho các quyền tự do, dân chủcủa công dân được thực hiện trên thực tế; phát hiện nhanh chóng, xử lý kịpthời, nghiêm minh các hành vi xâm phạm đến các quyền tự do, dân chủ củacông dân
- Bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, không ngừng tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa, thiết lập trật tự pháp luật Để thực hiện điều này đòi hỏi các cơquan nhà nước phải tích cực chủ động trong hoạt động của mình, nâng caohiệu quả hoạt động xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệpháp luật, kết hợp sức mạnh của nhà nước với sức mạnh của xã hội để ngănngừa các hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt là tội phạm
3.2 Chức năng đối ngoại: Là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà
nước trong phạm vi quan hệ với các quốc gia, dân tộc khác
- Chức năng bảo vệ tổ quốc
Để thực hiện chức năng này, nhà nước trung xây dựng quân đội chínhquy hiện đại có đủ khả năng đối phó với các mưu đồ can thiệp bằng vũ trang
từ bên ngoài; xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, thực hiện chính sáchgiáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân
sự, thực hiện chính sách hậu phương - quân đội
- Chức năng đối ngoại
Củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theonguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợicho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa,đồng thời góp phần vào việc thiết lập một thế giới dân chủ và tiến bộ.Trongbối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp hiện nay, với sự phát triểnmạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới,hoạt động đối ngoại của nhà nước ngày càng trở nên đa dạng về hình thức,phong phú về nội dung Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa, quan hệvới tất cả các nước, mở rộng quan hệ và hợp tác kinh tế, chính trị, văn hoá,khoa học và kỹ thuật theo các nguyên tắc của pháp luật quốc tế Hiện nay,Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế Trên các diễn đàn quốc tế
Trang 10và khu vực Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí và nỗ lực nhằm góp phần xâydựng một thế giới ổn định, hòa bình, phát triển Do vậy, vị trí và ảnh hưởngcủa Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế.
4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước
4.1.Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
Hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, trong đóchỉ tồn tại một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnhđạo Nhà nước và xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, giữvai trò lãnh đạo toàn dân, toàn diện bao gồm chính trị, kinh tế - xã hội, anninh, quốc phòng, ngoại giao
Sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo giữ vững bản chất của Nhà nước xã hộichủ nghĩa, giữ vaitrò quyết định trong việc xác định phương hướng tổ chức vàhoạt động của Nhà nước Đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo hiệu lực, hiệuquả quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việctham gia quản lý các công việc của Nhà nước
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện trên các nộidung chủ yếu sau:
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách định hướng cho quátrình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước;
- Đảng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những đảng viên có phẩm chất,năng lực và giới thiệu họ vào đảm nhận các chức vụ trong bộ máy nhà nướcthông qua con đường bầu cử dân chủ;
- Đảng kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thựchiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng;
- Các đảng viên và các tổ chức của Đảng gương mẫu trong việc thựchiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay các công việc của Nhànước mà phải phân định rạch ròi công việc lãnh đạo của Đảng với việc quản
lý của Nhà nước.Nguyên tắc này đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động quản lýnhà nước, các cơ quan nhà nước một mặt phải thừa nhận và chịu sự lãnh đạocủa Đảng, mặt khác phải có trách nhiệm đưa đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng vào thực tiễn đời sống xã hội và đảm bảo sự kiểm tra, giám sátcủaĐảng
4.2 Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhândân, do nhân dân, vìnhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Nhà nước là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy, tronghoạt động của mình Nhà nước phải đảm bảo sự tham gia và giám sát của nhân
dân đối với các cơ quan nhà nước Nguyên tắc này đòi hỏi: Thứ nhất, tăng
cường và mở rộng sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào việc giải quyết các
Trang 11công việc của nhà nước Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ
quan đại diện đểcác cơ quan này thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng
của nhân dân Thứ ba, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo ra cơ sở pháp
lý và các điều kiện tài chính, vật chất cho các tổ chức xã hội hoạt động; định
ra những hình thức và biện pháp để thu hút sự tham gia của các tổ chức xã hội
và nhân dân vào các hoạt động của Nhà nước
4.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc này xuất phát từ hai yêu cầu khách quan của quản lý, đó là:đảm bảo tính thống nhất của hệ thống lớn (quốc gia, ngành, địa phương, cơquan, đơn vị, bộ phận) và đảm bảo sự phù hợp với đặc thù của hệ thống con lệthuộc (từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị, bộ phận, cá nhân).Nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa sự chỉ đạo tậptrung, thống nhất của cơ quan nhà nước cấp trên với việc mở rộng dân chủ đểphát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới nhằm đạt hiệu quả trong quản
lý nhà nước.Tập trung trong các cơ quan nhà nước được thể hiện trên các nộidung: Bộ máy nhà nước được tổ chức theo hệ thống thứ bậc từ Trung ươngđến các địa phương; thống nhất chủ trương, chính sách, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển; thống nhất các quy chế quản lý; thực hiện chế độmột thủ trưởng hoặc trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở tất cả các cấp, cácđơn vị
Dân chủ trong các cơ quan nhà nước là sự phát huy trí tuệ của các cấp,các ngành, cơ quan, đơn vị và các cá nhân, tổ chức vào hoạt động quản lý nhànước Tính dân chủ được thể hiện cụ thể qua việc cấp dưới được tham giathảo luận, góp ý kiến về những vấn đề trong quản lý; cấp dưới được chủ động,linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trướccấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ của mình
Hai nội dung tập trung và dân chủ liên quan mật thiết với nhau, tácđộng bổ trợ cho nhau.Tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ trong khuônkhổ tập trung Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi sự kết hợp hàihòa hai nội dung này để tạo ra sự nhất trí giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, giữangười chỉ huy và người thừa hành
4.4 Nguyên tắc hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước có kế hoạch
Nhà nước đại diện cho sở hữu toàn dân đối với tư liệu sản xuất chủ yếu
Để đảm bảo hiệu quả quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhà nướcphải tuân thủ nguyên tắc hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước có kếhoạch Thực hiện nguyên tắc này có nghĩa là trong toàn bộ hoạt động của bộmáy nhà nước phải xây dựng kế hoạch hoạt động dựa trên cơ sở khoa học và
cơ sở thực tiễn nhằm thực hiện mục đích đã dự kiến trước
4.5 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định, là nộidung quan trọng nhất của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Điều 8 Hiến
Trang 12pháp năm 2013 có nêu:“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp
và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyêntắc tập trung dân chủ” Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động của các
cơ quan nhà nướcphải triệt để tôn trọng pháp luật của Nhà nước; không chophépcác cơ quan nhà nước thực hiện quản lý nhà nước một cách chủ quan,tùy tiện mà phải dựa vào pháp luật, làm đúng pháp luật, cụ thể:Các cơ quannhà nước phải chịu sự giám sát của công dân và của xã hội; tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan nhà nước phải trong phạm vi thẩm quyền do pháp luậtquy định, không vượt quyền; hoạt động quản lý nhà nước phải được tiến hànhtheo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; các quyết định quản lý nhànước được ban hành đúng luật; tăng cường kiểm tra, giám sát mọi hoạt độngcủa cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; xử lý nghiêmminh các hành vi vi phạm pháp luật Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế xã hộichủ nghĩa là cơ sở đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhànước, đảm bảo công bằng xã hội
4.6 Nguyên tắc công khai, minh bạch, lắng nghe ý kiến nhân dân
Trong nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân” thì tất cảnhững thông tin trong quản lý của các cơ quan nhà nước phải được công khaicho người dân biết trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia và đảm bảo quyđịnh của pháp luật.Tính minh bạch trong hoạt động quản lý là hết sức cầnthiết và là nguồn sức mạnh của bộ máy công quyền Minh bạch trước hết lànhằm bảo đảm bản chất dân chủ của xã hội, thể hiện quyền của người dântrong việc tham gia quản lý nhà nước, là một giải pháp rất quan trọng để khắcphục tệ quan liêu tham nhũng Minh bạch cũng là điều kiện không thể thiếu để
bộ máy nhà nước tiếp thu trí tuệ của dân đóng góp cho các hoạt động quản lý
và là một yêu cầu cần thiết để thành công trong hội nhập quốc tế
Tính minh bạch luôn gắn với công khai Muốn công khai thì phải minhbạch và minh bạchlà cơ sở, là nền tảng để thực hiện công khai Ngày nay, sựtham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước làđiều tất yếu Nhà nước phải lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu nhữngnhận xét, đánh giá của nhân dân thông qua các biện pháp điều tra, thăm dò dưluận xã hội để tổng kết, rút kinh nghiệm nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn ýchí và nguyện vọng của nhân dân Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan nhànước khi xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phảitiến hành công khai, minh bạch, đảm bảo công bằng, dân chủ theo đúng quyđịnh của pháp luật
4.7 Nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc
Thực hiện nguyên tắc này có nghĩa là đảm bảo cho các dân tộc cóquyền bình đẳng trong xây dựng nhà nước, tham gia quản lý nhà nước, bìnhđẳng về quyền và nghĩa vụ Nhà nước có chính sách hỗ trợ các dân tộc ítngười tiến kịp các dân tộc khác về mọi mặt, giữ gìn, phát huy truyền thống,bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc Các dân tộc đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau
Trang 13cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẻ dân tộc.
III BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức vàhoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chếđồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
1 Các cơ quan trong bộ máy nhà nước
1.1 Quốc hội:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quốc hộithực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọngcủa đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Nhiệm vụ,quyền hạn của Quốc hội được quy định tại Điều 70 Hiến pháp năm 2013.Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm
Đại biểu Quốc hội: Là công dân Việt Nam, từ 21 tuổi trở lên, có phẩm
chất, trình độ, năng lực, được cử tri tín nhiệm bầu ra Đại biểu Quốc hội làngười đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình
và của Nhân dân cả nước.
Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội: Là đại biểu Quốc hội do Quốc hội
bầu ra vào kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội
Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thựcHiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ banthường vụ Quốc hội; tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữquan hệ với các đại biểu Quốc hội Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịchQuốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội: Là cơ quan thường trực của Quốc hội.Ủy
ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội
và các Ủy viên Số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyếtđịnh Thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thànhviên Chính phủ Ủy ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu
ra Ủy ban thường vụ Quốc hội Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội được quy định tại Ðiều 74 Hiến pháp năm 2013
Hội đồng Dân tộc
Các Ủy ban của Quốc hội gồm: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Tư pháp; Ủy
ban Kinh tế; Ủy ban Tài chính - Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủyban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban về Các vấn
đề Xã hội; Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Đối ngoại
Trang 141.2 Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại Chủ tịch nước do Quốc hộibầu trong số đại biểu Quốc hội Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáocông tác trước Quốc hội Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốchội Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đếnkhi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước Nhiệm vụ và quyền hạn Chủ tịchnước được quy định tại Ðiều 88 Hiến pháp năm 2013 Giúp việc cho Chủ tịchnước có: Phó Chủ tịch nước, Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Văn phòngChủ tịch nước Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và có thể được Chủtịch nước ủy nhiệm thay Chủ tịch nước thực hiện một số nhiệm vụ
1.3 Chính phủ
Điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính phủ là cơ quan hànhchính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thựchiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịutrách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy banthường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủđược quy định tại Điều 96 Hiến pháp năm 2013
Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ,các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu, số lượng thành viênChính phủ do Quốc hội quyết định Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể,quyết định theo đa số Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội.Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khiQuốc hội khoá mới thành lập Chính phủ Thủ tướng Chính phủ là người đứngđầu Chính phủ, do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội Nhiệm vụ vàquyền hạn của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 96 Hiến pháp
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủtướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân côngphụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể
về hoạt động của Chính phủ
1.4 Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thựchiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa
án khác do luật định Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệquyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Nhiệm kỳcủa Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội
Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công táctrước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báocáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Việc bổ nhiệm,
Trang 15phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu,
nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định
1.5 Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tưpháp.Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Việnkiểm sát khác do luật định
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảmpháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.Nhiệm kỳ của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báocáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu tráchnhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
IV TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỦA CHXHCN VIỆT NAM
Bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan thực thi quyềnhành pháp, trong đó Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Bộmáy hành chính nhà nước ở nước ta gồm các cơ quan hành chính nhà nướccấp trung ương và các cơ quan hành chính nhà nước cấp địa phương
1 Các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
Các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương bao gồm Chính phủ,các bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ
Hiện nay, các bộ và cơ quan ngang bộ gồm:
- Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội
- Bộ Giao thông vận tải
- Bộ Xây dựng
- Bộ Thông tin và Truyền thông
- Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 16- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Bộ Nội vụ
- Bộ Y tế
- Bộ Khoa học và Công nghệ
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Văn phòng Chính phủ
- Thanh tra Chính phủ
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Ủy ban dân tộc
Cơ quan thuộc Chính phủ gồm:
- Đài Tiếng nói Việt Nam
- Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
- Thông tấn xã Việt Nam
- Đài Truyền hình Việt Nam
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
2.Cơ quan hành chính nhà nước cấp địa phương
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương, cấp chính quyền địa phương
gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hànhchính của nước CHXHCN Việt Nam Chính quyền địa phương ở nông thôngồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã Chính quyền địa phương ở đôthị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương,phường, thị trấn
2.1 Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địaphương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ýchí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trướcnhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọngcủa nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trướcHội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn
đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân
Trang 17Thường trực Hội đồng nhân dân là cơ quan thường trực của Hội đồngnhân dân, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định; chịu tráchnhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân Thành viên của Thườngtrực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhândân cùng cấp.
Ban của Hội đồng nhân dân là cơ quan của Hội đồng nhân dân, có nhiệm
vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình Hội đồng nhândân, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịutrách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các cấp:
- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Hội đồng nhân dân huyện
- Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận
- Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn
2.2 Ủy ban nhân dân:
Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quanchấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dâncùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Ủy ban nhân dân gồmChủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy bannhân dân các cấp do Chính phủ quy định
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh,cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năngquản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ,quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên Cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biênchế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra vềnghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên
Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải bảođảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý,thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từtrung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơquan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn
Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các cấp:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Ủy ban nhân dân huyện
- Ủy ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Trang 18Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bến Tre hiện nay gồm:
- Sở Tư pháp
- Sở Tài chính
- Sở Công Thương
- Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội
- Sở Giao thông vận tải
- Sở Xây dựng
- Sở Thông tin và Truyền thông
- Sở Giáo dục và Đào tạo
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Sở Nội vụ
- Sở Y tế
- Sở Khoa học và Công nghệ
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Sở Tài nguyên và Môi trường
- Văn phòng UBND tỉnh
- Thanh tra tỉnhCác cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh:
- Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh;
- Ban QLDA ĐTXD các công trình Công nghiệp và dân dụng;
- Ban QLDA ĐTXD các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Ban QLDA ĐTXD các công trình Giao thông;
- Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh;
- Trường Cao đẳng Bến Tre
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện trong tỉnh Bến Tre gồm:
- Phòng Tư pháp
- Phòng Tài chính - Kế hoạch
- Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội
- Phòng Giáo dục và Đào tạo
- Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ Phòng Kinh tế (Tp Bến Tre)
- Phòng Nội vụ
Trang 19- Phòng Kinh tế và Hạ tầng/ Phòng Quản lý Đô thị (Tp Bến Tre)
- Phòng Y tế
- Phòng Văn hóa và Thông tin
- Phòng Tài nguyên và Môi trường
- Văn phòng HĐND và UBND huyện
- Thanh tra huyện
2.3 Toà án nhân dân địa phương:
- Toà án tỉnh và cấp tương đương
- Toà án nhân dân huyện
2.4 Viện kiểm sát nhân dân địa phương:
- Viện kiểm sát nhân tỉnh và cấp tương đương
- Viện kiểm sát nhânToà án nhân dân huyện
IV NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM
1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN
Nhà nước pháp quyền không chỉ là phương thức tổ chức, vận hànhquyền lực nhà nước mà còn chứa đựng trong đó các nguyên tắc hợp lý củaquản lý xã hội được đúc kết qua lịch sử.Vì vậy những giá trị của nhà nướcpháp quyền có tính nhân loại Tuy nhiên, với mỗi chế độ chính trị có hìnhthức biểu hiện của nhà nước pháp quyền không giống nhau Khái niệm chung
về nhà nước pháp quyền được thống nhất giữa các quốc gia: Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật; quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người đều được pháp luật ghi nhận và bảo vệ; các quy trình và quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng một hệ thống tòa án độc lập Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị của con người và đảm bảo cho công dân có khả năng, điều kiện chống lại sự tùy tiện của cơ quan nhà nước bằng việc lập ra cơ chế kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy nhà nước Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp và pháp luật đã quy định Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền tự do và quyền công dân.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc tư tưởng, quan điểm về nhà nước phápquyền, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, doNhân dân, vì Nhân dân” Căn cứ vào những quy định trong Hiến pháp, có thểhiểu nhà nước pháp quyền XHCNVN là nhà nước của Nhân dân, do Nhândân, vì Nhân dân, cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Nhà nước côngnhận, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo quyền con người, quyền công dân; tổchức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; quyền lực Nhà nước là thống
Trang 20nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát, giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và các nguyên tắc tậptrung dân chủ; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòabình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc vàđiều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
2 Những đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN
Nhà nước pháp quyền XHCN có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Nhà nước pháp quyền về bản chất là một nhà nước đề cao pháp luậttrong khi phải thừa nhận và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Phát huydân chủ trong hoạt động của Nhà nước là một đòi hỏi tất yếu của Nhà nướcpháp quyền XHCN
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tất cả vì hạnh phúc con người
Đây là đặc trưng thể hiện bản chất, mục đích, chức năng, nhiệm vụ củanhà nước XHCN, thể hiện mục tiêu, lý tưởng, động lực của những người cộngsản trong quá trình lãnh đạo nhân dân làm cách mạng giải phóng dân tộc, giảiphóng con người, xây dựng xã hội mới không còn người bóc lột người, tất cả
vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân
- Nhà nước pháp quyền XHCN được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và yêu cầu thượng tôn pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam phản ánh đường lối, chủ trương củaĐảng, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, vì vậy, đó là thước đo giátrị phổ biến trong xã hội và cần phải trở thành công cụ để quản lý của nhànước
Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn chỉnh để dùnglàm công cụ điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, làm căn cứ để xây dựng trật tự xãhội Các cơ quan nhà nước các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và mởrộng ra là tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải tôn trọngpháp luật, đặt mình trong vòng pháp luật, thực hiện các hoạt động tuân thủtheo pháp luật
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp
và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Trang 21Sự thống nhất quyền lực thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục đíchcủa quyền lực: toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Có nghĩa là các
cơ quan nhà nước dù làm nhiệm vụ lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều là cơquan thống nhất của nhân dân, để phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của nhân dân.Đểthống nhất quyền lực nhà nước thì phải tập trung quyền lực vào các cơquan đại diện của dân mà cơ quan đại diện cao nhất là Quốc hội Có như vậymới có thể thống nhất bảo vệ một mục tiêu chung là độc lập dân tộc và lợi íchcủa nhân dân, đất nước, dân tộc và đi lên CNXH
Tuy nhiên, mỗi nhánh quyền lực đều có đặc thù riêng và có những đặcđiểm kỹ thuật riêng: hoạt động hành pháp không thể giống với hoạt động lậppháp hay tư pháp Do đó, để nâng cao chất lượng hoạt động cần phân côngcác bộ phận quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp cho các cơ quan khácnhau, nhưng sự phân công này không giống như tam quyền phân lập ở cácnước tư bản, không phải là chia để đối trọng, khống chế lẫn nhau mà các cơquan thực thi quyền lực này lại có mối liên hệ với nhau để đạt mục tiêuchung
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam đối với cách mạng Việt Namnói chung và việc xây dựng và hoạt động của Nhà nước nói riêng là một tấtyếu khách quan Điều đó được khẳng định qua vai trò lãnh đạo không thểthiếu của Đảng Cộng sản trong suốt quá trình tuyên truyền, chỉ đạo, tổ chức
và dẫn dắt dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhấtđất nước và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và phát triển với nhân dân các dân tộc và các nước trên thế giới, đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các Công ước, Điều ước quốc tế đã tham gia ký kết, phê chuẩn
Đặc trưng này thể hiện đường lối đối ngoại và quan hệ quốc tế của nhànước CHXHCNVN Trải qua nhiều lần đấu tranh gian khổ để giành được độclập dân tộc, nhân dân Việt Nam mong muốn sống trong hòa bình để xây dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc đồng thời góp phần xây dựng một thế giới hòabình, hữu nghị, hợp tác và phát triển
Trang 22Chuyên đề 3 CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC
I CÔNG VỤ
1 Khái niệm
Theo cách hiểu chung nhất, công vụ là các việc công Các việc nàyđược thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích củanhà nước Ở phạm vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong các hoạt động củanhà nước Đây cũng chính là cách quan niệm về công vụ của nhiều nước trênthế giới Theo cách hiểu này, công vụ gắn liền với con người làm việc choNhà nước và những công việc của Nhà nước do những con người đó thựchiện Chính vì vậy, ở nhiều nước hai khái niệm công vụ và công chức luôngắn liền chặt chẽ với nhau
Tóm lại, công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lýđược thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước hoặc những người kháckhi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhànước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội.Công vụ là phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn với quyền lực nhà nước
2 Đặc trưng của công vụ
Đặc trưng của một số hoạt động thường được xác định dựa trên nhiềutiêu chí Hệ thống các tiêu chí đó phản ánh: mục tiêu của hoạt động; nguồnlực cần cho hoạt động (bao gồm cả quyền lực, nguồn tài chính, vật chất);phương thức tiến hành các hoạt động đó Công vụ là một loại hoạt động đặcbiệt, do đó có những nét đặc trưng riêng được thể hiện như sau:
- Về mục tiêu hoạt động công vụ
Hoạt động công vụ có mục tiêu chung nhất là thực hiện các công việcquản lý nhà nước của hệ thống các cơ quan nhà nước nhằm đạt được mục tiêuquản lý mà nhà nước đề ra Mục tiêu này được cụ thể hoá thành các nhómmục tiêu theo từng loại tổ chức, cơ quan Xuất phát từ bản chất nhân dân củanhà nước ta, mọi hoạt động công vụ đều có mục tiêu nhằm phục vụ nhân dân,
vì lợi ích của nhân dân Mục tiêu bao quát này chi phối mọi hoạt động công
vụ của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước, chi phối toàn bộ nền công
vụ nhà nước
- Về quyền lực và quyền hạn trong thực thi công vụ
Trong hoạt động công vụ, các cơ quan nhà nước được sử dụng quyềnlực nhà nước Đây là loại quyền lực đặc biệt nhằm thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước của các cơ quan nhà nước Đây là một dấu hiệu rất quan trọng đểphân biệt hoạt động công vụ với các hoạt động khác Quyền lực nhà nước cómột số đặc trưng như: Được quy định trên cơ sở pháp luật; mang tính pháp lý;được quy định trong các quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
Trang 23Quyền hạn được hiểu là quyền lực pháp lý của nhà nước được trao chocác tổ chức và cá nhân để thực thi công vụ Quyền hạn luôn gắn liền vớinhiệm vụ được trao Nói cách khác, quyền hạn gắn liền với công việc đượcđảm nhận chứ không gắn liền với người Trong hoạt động của các cơ quannhà nước, quyền hạn là yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, nhưng quyềnhạn được trao phải tương xứng với nhiệm vụ Nếu nhiệm vụ được giao khôngkèm theo đầy đủ quyền hạn thì sẽ có không ít những nhiệm vụ không đượcthực hiện và như vậy mục tiêu chung của cơ quan nhà nước sẽ không đạtđược; ngược lại khi có nhiều quyền hạn mà quá ít việc phải làm cũng có thểsinh ra lạm dụng.
- Về nguồn lực để thực thi công vụ
Về tài chính, hoạt động công vụ được bảo đảm thực hiện bằng ngân sáchnhà nước Một đặc trưng của nhà nước được thừa nhận chung là nhà nước đặt
ra thuế và tiến hành thu thuế để nuôi dưỡng bộ mày nhà nước, bảo đảm pháttriển kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh, quốc phòng Vì vậy, toàn bộ kinh phícho bộ máy nhà nước hoạt động, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chứcđều lấy từ ngân sách nhà nước
Về nhân lực thực thi công vụ là đội ngũ cán bộ, công chức là người làmcho nhà nước thực hiện Ngoài ra, hoạt động công vụ còn được thực hiện bởicác cá nhân được nhà nước trao quyền Trong xu thế hiện nay sự tham gia củanhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước ngày càng được quan tâm vàkhuyến khích thì các hoạt động công vụ được thực thi bởi những người khôngphải là công chức, viên chức ngày càng gia tăng thông qua việc xã hội hóathực hiện dịch vụ công
- Về cách thức thực thi công vụ
Do công vụ là một dạng hoạt động đặc biệt, khác với các hoạt độngthông thường khác nên quy trình thực thi công vụ có một số đặc trưng cơ bảnsau đây:
- Tính pháp lý: Hoạt động công vụ của các cơ quan nhà nước thựcchất là hoạt động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do nhà nước giao thôngqua văn bản pháp luật Chính vì vậy, quá trình thực hiện hoạt động công vụmang tính pháp lý cao
- Tuân thủ theo quy định: Cách thức thực thi công vụ mang tínhnguyên tắc, cứng nhắc bằng những quy định, thủ tục Trong quá trình thực thicông vụ, công chức phải tuân thủ chặt chẽ các quy tắc, quy định và thủ tục,nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
- Công khai: Hoạt động công vụ cần phải công khai, minh bạch đểngười dân giám sát, đồng thời ngăn chặn những hành vi tiêu cực
- Bình đẳng Hoạt động công vụ phải đảm bảo mọi người được tiếpcận và thụ hưởng dịch vụ thông qua công vụ một cách bình đẳng, không phânbiệt thành phần, giai cấp và các yếu tố khác
Trang 24- Có sự tham gia của các chủ thể có liên quan: Hoạt động công vụkhông chỉ được thực thi bởi các cơ quan nhà nước mà còn có sự tham gia củanhân dân, của các chủ thể khác khi được Nhà nước trao quyền Đặc biệt, xuhướng xã hội hóa một số dịch vụ công do Nhà nước đảm nhận trước đây làmcho vai trò của các chủ thể khác trong quá trình thực thi công vụ ngày cànggia tăng
Có thể tóm tắt các đặc trưng của công vụ qua sơ đồ sau:
3 Các yếu tố của công vụ
Hệ thống pháp luật quy định các hoạt động của các cơ quan thực thicông vụ (cơ quan thực thi quyền hành pháp, quản lý nhà nước) Hệ thống này
Mục tiêu
Phục vụ nhà nước Phục vụ nhân dân, Không có mục đích riêng,
Xã hội hoá cao vì phục vụ nhiều người Duy trì an ninh, an toàn trật tự xã hội Tăng trưởng và phát triển.
Không vì lợi nhuận
Nguồn lực
Cách thức
thực hiện
Tính pháp lý Tuân thủ quy định;
Bình đẳng Công khai
Có sự tham gia của nhiều chủ thể
Sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hay quỹ công để hoạt động
Do cán bộ, công chức là người làm cho nhà nước thực hiện
- Sử dụng quyền lực nhà nước
- Quyền lực do Pháp luật quy định
- Quyền hạn được trao cho các tổ chức, cá nhân thực thi công vụ
Quyền hạn
Trang 25bao gồm Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác docác cơ quan quyền lực nhà nước có thẩm quyền ban hành
Hệ thống các quy tắc, quy chế, quy định cách thức tiến hành các hoạtđộng công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước do Chính phủ hoặc cơquan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành tạo thành hệ thống thủ tụchành chính, quy tắc quy định các điều kiện tiến hành công vụ Các thủ tụchành chính càng rõ ràng, đơn giản và thuận tiện càng tạo điều kiện cho công
vụ được thực hiện đạt kết quả và hiệu quả
Công chức với tư cách là những chủ thể thực sự tiến hành các công vụ
cụ thể Đây là hạt nhân của nền công vụ và cũng chính là yếu tố bảo đảm chonền công vụ hiệu lực, hiệu quả Cần phải chú ý xây dựng một đội ngũ côngchức có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu tạo cơ sở quan trọng
để triển khai và thực hiện các hoạt động công vụ có hiệu quả
Công sở là nơi tổ chức tiến hành các công vụ Công sở cần phải bảođảm các điều kiện cần thiết để nhân dân được tiếp cận với công vụ thuận tiệnkhi tiến hành công vụ Hiện nay, những điều kiện vật chất cần thiết để tiếnhành công vụ theo xu thế hiện đại rất được quan tâm (giải quyết thủ tục hànhchính trực tuyến)
Có thể mô tả các yếu tố cấu thành công vụ nhà nước bằng sơ đồ dưới đây:
4 Các nguyên tắc hoạt động công vụ
Các nguyên tắc công vụ là những tư tưởng, quan điểm chi phối toàn bộhoạt động công vụ nhà nước, hoạt động công vụ của công chức nhà nước
Hệ thống phápluật quy định hoạt động công vụ, công chức
Công chức
Công sở và các điều
kiện vật chất khác
Hệ thống văn bản pháp quy quy định cách thức tiến hành công vụ.
Công vụ nhà nước
Trang 26Đây là những tư tưởng, quan điểm có tính chất nền tảng phản ánh bản chấtcủa công vụ, quyết định định đướng của nền công vụ của quốc gia Nền công
vụ có thực sự mang tính phục vụ nhân dân hay không tuỳ thuộc vào việc tôntrọng, thực hiện những nguyên tắc công vụ như thế nào Các nguyên tắc công
vụ bao gồm:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật (hiến pháp, luật và các văn bản quyphạm pháp luật khác, quy định chung,v.v.)
- Đúng quyền hạn được trao
- Chịu trách nhiệm với công vụ thực hiện
- Thống nhất trong quá trình thực thi công vụ giữa các cấp, ngành
- Công khai, minh bạch
Ngoài những nguyên tắc chung mà nền công vụ các quốc gia thường
đề cập tới thì trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, đưa ra 5 nhóm nguyêntắc thực thi công vụ cần tuân thủ:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;
- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,công dân;
- Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát;
- Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả;
- Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ
II CÔNG CHỨC
1 Khái niệm công chức
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm ai là công chức cũng đã
có nhiều lần thay đổi Sự hình thành khái niệm công chức được gắn liền với
sự phát triển của nền hành chính nhà nước Theo quy định tại điều 1, Sắc lệnh
số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vềquy chế công chức Việt Nam, công chức là “những công dân Việt Nam đượcchính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quanChính Phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừnhững trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Sau đó một thời giandài, ở Việt Nam không tồn tại khái niệm “công chức” mà thay vào đó là kháiniệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt công chức vàviên chức
Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quancần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ côngchức nhà nước, khái niệm “công chức” được sử dụng trở lại trong Nghị định169/HĐBT ngày 25/5/1991 Theo đó những người được coi là công chức phảiđáp ứng được những điều kiện sau: Là công dân Việt Nam; được tuyển dụng
Trang 27vụ thường xuyên trong các công sở của Nhà nước, ở trung ương hay địaphương, ở trong hay ngoài nước; được xếp vào một ngạch Pháp lệnh Cán bộ
- công chức năm 1998 có đối tượng điều chỉnh chung là cán bộ, công chức.Theo đó, tất cả những người làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chínhtrị, chính trị xã hội đều được gọi chung là cán bộ, công chức Tuy nhiên, cómột nhóm đối tượng được phân loại với tên gọi là công chức
Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 ra đời là một văn bản có giá trị pháp
lý cao nhất từ trước đến nay định nghĩa được rõ ràng hơn về khái niệm cán bộ
và công chức Theo đó:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữchức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sựnghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữchức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhândân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danhchuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và hưởng lương từngân sách nhà nước
2 Phân biệt công chức với những nhóm người khác (với cán bộ, viên chức và những người hợp đồng trong các tổ chức của Nhà nước)
2.1 Phân biệt với cán bộ
Theo Luật Cán bộ, công chức, cán bộ là thuật ngữ để chỉ nhóm ngườiđược bầu cử làm việc theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở Trung ương và địa phương Ngoài ra, cán bộ còn bao gồmnhững người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hộiđồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứngđầu tổ chức chính trị – xã hội
Trang 28Như vậy nếu công chức là nhóm người được tuyển dụng, bổ nhiệm thìcán bộ là nhóm người được bầu cử vào một vị trí công tác và làm việc theonhiệm kỳ
2.2 Phân biệt với viên chức
Theo Luật Viên chức 2010, “Viên chức là công dân Việt Nam đượctuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theochế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật” Như vậy, viên chức là những người
làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập với tính chất công việc khôngmang tính quyền lực công, quản lý nhà nước mà chủ yếu là hoạt động nghềnghiệp, cung ứng dịch vụ công
2.3 Phân biệt với lao động hợp đồng
Người lao động theo chế độ hợp đồng là những người được làm việctheo cơ chế hợp đồng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước Hiệnnay, việc hợp đồng người làm việc trong các cơ quan, đơn vị chủ yếu là ở các
vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ và được áp dụng thực hiện theo Nghị định số68/2000/NĐ-CP, cụ thể: Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp,thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sửdụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp; Lái xe; Bảo vệ; Vệ sinh; Trông giữphương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan,đơn vị sự nghiệp;
Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp công lập còn thực hiện hợp đồng laođộng theo sự vụ mà chế độ, chính sách đối với người lao động được điềuchỉnh bằng Bộ Luật lao động
3 Phân loại công chức và ý nghĩa của phân loại công chức
3.1 Phân loại theo ngạch công chức
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được phân loạitheo ngạch như sau:
- Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên caocấp hoặc tương đương;
- Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viênchính hoặc tương đương;
- Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viênhoặc tương đương;
- Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặctương đương và ngạch nhân viên
3.2 Phân loại theo vị trí công tác
Theo cách phân loại này, công chức được chia thành các nhóm:
Trang 29- Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (chuyên môn nghiệp vụ).Phân loại công chức có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng và quản
lý đội ngũ công chức có hiệu quả Đó là cơ sở để đề ra những tiêu chuẩnkhách quan trong việc tuyển chọn người vào làm việc trong cơ quan nhànước, đáp ứng yêu cầu của công việc; giúp cho việc xác định vị trí việc làm,tiền lương, các chế độ, chính sách một cách hợp lý, chính xác; giúp cho việctiêu chuẩn hóa và cụ thể hóa việc đánh giá công chức; giúp cho việc xâydựng, quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức đúng đối tượng theo yêucầu, nội dung công việc; giúp đưa ra các căn cứ cho việc xác định biên chếcông chức một cách hợp lý
4 Nghĩa vụ, quyền và quyền lợi của công chức
4.1 Nghĩa vụ của công chức
Nghĩa vụ của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung vàcông chức nói riêng là những gì nhà nước bắt buộc người làm việc cho mìnhphải tuân thủ và đó cũng chính là những gì người làm việc cho nhà nước camkết phải thực hịên khi họ trở thành thành viên của các cơ quan nhà nước Đó
là những nghĩa vụ này mang tính đơn phương, do nhà nước quy định và ngườilao động phải cam kết tuân theo Những nghĩa vụ đó mang tính pháp lý vàkhông phải là một sự thoả thuận giữa nhà nước và người làm việc cho nhànước Nếu như với các tổ chức ngoài nhà nước, bên cạnh những quy địnhmang tính chất chung của pháp luật, người sử dụng lao động và người laođộng có thể đi đến thoả thuận một số nội dung mang tính quy chế lao động,thì đối với cơ quan nhà nước những quy chế đó đã hình thành từ trước vàngười lao động muốn tham gia làm việc buộc phải cam kết thực hịên
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã xác định rõ nghĩa vụ của cán bộcông chức bao gồm các nhóm nghĩa vụ: trung thành với Đảng, với nhà nướcvới nhân dân; nghĩa vụ trong thực thi công vụ; nghĩa vụ của người đứng đầu
cơ quan tổ chức Ngoài ra công chức còn phải thực hiện nghiêm những điềukhông được làm (tham khảo Luật)
4.2 Quyền và quyền lợi của công chức
a) Quyền của công chức
Quyền của công chức bao gồm quyền lực pháp lý được Nhà nước traocho để thực thi công vụ và quyền lợi của công chức được hưởng khi làm việccho Nhà nước.Bản chất quyền lực pháp lý của công chức có được khi thực thicông vụ là:
- Được trao tương xứng với nhiệm vụ
- Không gắn liền với công chức mà gắn liền với vị trí công chức đảmnhiệm
- Không phục vụ công chức mà nhằm thực hiện công vụ mà công chứcđảm nhận
Trang 30b) Quyền lợi của công chức
Quyền lợi của người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước nóichung và công chức nói riêng thường được xác định trong các văn bản phápluật của các quốc gia thể hiện thái độ, sự quan tâm đến việc xây dựng đượcmột nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính nhà nước vàxây dựng phát triển đất nước Quyền lợi là cơ sở bảo đảm, là điều kiện vàphương tiện để cán bộ, công chức thực thi công việc có hiệu quả Nhìn chung,các nước đều cố gắng để đảm bảo được quyền lợi và chế độ đãi ngộ đối vớicán bộ, công chức sao cho họ có thể yên tâm thực hiện được công việc đượcgiao, tận tâm với công việc mà không bị chi phối bởi cuộc sống thường nhật.Quyền lợi của cán bộ, công chức còn là cơ sở để đảm bảo cho người cán bộ,công chức có cơ hội và điều kiện thăng tiến, tạo ra sự yên tâm, tận tình làmviệc và ý chí phấn đấu vươn lên trong công việc
Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước lànhững gì mà người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước được hưởng
từ Nhà nước Do người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước trước hết,
là người lao động theo quy định của pháp luật lao động nên họ cũng đượchưởng những quyền lợi của người lao động do pháp luật quy định Ngoài Bộluật Lao động, quyền lợi cụ thể của người làm việc cho tổ chức hành chínhnhà nước được quy định cụ thể trong Luật Cán bộ, công chức
Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước đượchưởng không chỉ bao gồm các quyền lợi về vật chất (tiền lương, phụ cấp )
mà còn bao gồm các quyền lợi về tinh thần (quyền nghỉ ngơi, nghiên cứukhoa học, tham gia các tổ chức công đoàn ) Trong thời gian qua Đảng vàNhà nước đã luôn quan tâm đến cải cách tiền lương, cải thiện chế độ và điềukiện làm việc, thực hiện chế độ nhà ở công vụ, hoàn thiện các quy định vềquản lý cán bộ công chức cũng chính là nhằm đảm bảo cho quyền lợi củacán bộ, công chức được đảm bảo và được thực hiện trong thực tiễn TheoLuật Cán bộ, công chức, quyền của cán bộ, công chức được tiếp cận chungtheo 4 nhóm: Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thihành công vụ; quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liênquan đến tiền lương; quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi; các quyềnkhác của cán bộ, công chức (tham khảo Luật)
5 Khen thưởng và kỷ luật công chức
Khen thưởng và kỷ luật là những công cụ, biện pháp quản lý trong quátrình xây dựng, phát triển và sử dụng công chức Thông qua khen thưởng và
kỷ luật để động viên, cổ vũ những điển hình, những gương tốt, phê phán uốnnăn và phòng ngừa những hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật của cán
bộ, công chức Sự kết hợp giữa khen thưởng và kỷ luật một cách chặt chẽ,công bằng, vô tư sẽ tạo ra động lực to lớn trong nền công vụ, là điều kiện đểxây dựng một đội ngũ công chức có phẩm chất và thực thi tốt công vụ
Trang 315.1 Khen thưởng
Khen thưởng người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước là hìnhthức công nhận sự đóng góp “vượt mức yêu cầu” của công chức đối với hoạtđộng công vụ; là sự ghi nhận và trao cho công chức có thành tích những giátrị tinh thần và vật chất để động viên, khích lệ sự cống hiến của họ Để côngtác khen thưởng được thực hiện tốt và phát huy tác dụng tích cực còn cần phảiphát huy dân chủ, có sự tham gia của cán bộ, công chức; phải phát huy được
sự nhìn nhận đánh giá công tâm của những người làm công tác khen thưởng,đánh giá
Trong pháp luật Việt Nam, cả hai hình thức khen thưởng vật chất vàkhen thưởng tinh thần đều được quy định, nhưng phổ biến vẫn là hình thứctôn vinh bằng các danh hiệu Một số danh hiệu chủ yếu sau:
5.2 Kỷ luật
Kỷ luật là việc xử lý, trừng phạt tùy theo tính chất và nội dung vi phạmcác chế độ quy định, vi phạm pháp luật của công chức.Xử lý vi phạm kỷ luậtđối với người làm việc trong cơ quan nhà nước là đề cập đến các khía cạnhcủa kỷ luật hành chính, các vi phạm quy tắc, quy chế hoạt động của cơ quan.Công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước là những người lao động đặcbiệt Do đó, việc xử lý vi phạm kỷ luật cũng theo những quy định riêng
Kỷ luật công chức được hiểu là các hình thức kỷ luật gắn liền với thựcthi công vụ do Luật Cán bộ, công chức và các văn bản có liên quan quy định.Luật Cán bộ, công chức quy định hình thức xử lý kỷ luật riêng cho cán bộ vàcông chức
Đối với nhóm cán bộ áp dụng các hình thức sau:
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Cách chức;
Trang 32- Buộc thôi việc
Hình thức giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữchức vụ lãnh đạo, quản lý
Buộc thôi việc là hình thức kỷ luật cao nhất đối với công chức và do đópháp luật yêu cầu xem xét cụ thể hình thức này Hiện nay, ngoài những viphạm kỷ luật bị xử lý buộc thôi việc theo quyđịnh của pháp luật, thì hình thứcbuộc thôi việc đối với công chức còn được áp dụng trong những trường hợpcông chức không hoàn thành nhiệm vụ được giao Theo quy định của LuậtCán bộ, công chức năm 2008, nếu hai năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụnhưng còn hạn chế về năng lực hoặc trong đó một năm hoàn thành nhiệm vụnhưng còn hạn chế về năng lực và một năm không hoàn thành nhiệm vụ thì
cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác Công chức hainăm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩmquyền giải quyết thôi việc
Kỷ luật công chức cần phải dựa trên các tiêu chuẩn quy định để xemxét, không tuỳ tiện, không cảm tính và phải đảm bảo các yêu cầu sau: côngkhai; dân chủ; bình đẳng; đúng người, đúng việc; đúng pháp luật; kỷ luật phải
có tác dụng giáo dục, rèn luyện cán bộ, công chức và người lao động
III ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
1 Khái niệm
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyêntắc, chuẩn mực xã hội, thông qua đó con người tự giác điều chỉnh hành vi củamình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xãhội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội
Đạo đức công vụ là một bộ phận cấu thành của đạo đức xã hội, là nhữngtiêu chuẩn đạo đức nhất định mà người cán bộ, công chức phải tuân thủ khithực hiện các hoạt động công vụ nằm trong phạm vi chức trách của mình, chi
Trang 33phối hành vi của cán bộ, công chức khi thực hiện hoạt động công vụ Như vậy,đạo đức công vụ cũng là một dạng của đạo đức nghề nghiệp hiểu theo nghĩarộng, mặc dù trong công vụ có thể gồm rất nhiều các nghề nghiệp khác nhau.Đạo đức công vụ bao hàm trong đạo đức cách mạng và được thể hiệntrong các hành vi cụ thể qua công việc của mỗi cán bộ, công chức Đạo đứccông vụ có những quy tắc, chuẩn mực nhất định bắt buộc mỗi cán bộ, côngchức phải tuân thủ Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức là yếu tố cốt lõibảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công của nhànước có hiệu quả Nâng cao đạo đức công vụ là nội dung đặc biệt quan trọng
để giúp người cán bộ, công chức trở thành “công bộc” của nhân dân trong quátrình thực thi công vụ
Điều 15 Luật Cán bộ, công chức quy định về đạo đức của cán bộ, côngchức như sau: Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô tư trong hoạt động công vụ Điều 3 Luật Viên chức quy định: Đạođức nghề nghiệp là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặcthù của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩmquyền quy định
2 Quá trình hình thành đạo đức công vụ
Quá trình hình thành đạo đức công vụ được phân chia thành các giaiđoạn sau:
- Giai đoạn tự phát, tiền công vụ
Quá trình hình thành đạo đức công vụ cũng giống như quá trình hìnhthành đạo đức nói chung Đó là một quá trình từ nhận thức, ý thức đến tư duyhành động và cuối cùng được chuẩn hóa thành quy tắc, quy chế và pháp luậtcủa nhà nước
Những giá trị của công vụ không chỉ được xem xét từ trong các tổ chứcnhà nước mà vai trò của nhân dân ngày càng gia tăng đòi hỏi phải thiết lập vàvươn đến những giá trị mới: Nhà nước càng ngày càng dân chủ trong tất cảphương diện; vai trò của nhân dân ngày càng trở nên quan trọng để giám sátcác hành vi ứng xử củacán bộ, công chức vươn đến giá trị cốt lõi mà công dânmong muốn
- Giai đoạn pháp luật hóa, bắt buộc tuân thủ
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, thuật ngữ công chức đã đượcquy định để chỉ một nhóm người cụ thể nhưng cũng thay đổi theo sự vậnđộng, cải cách hoạt động quản lý nhà nước Do đó, khi nói về đạo đức công
vụ là đề cập đến những khía cạnh đạo đức của công chức khi thực thi nhiệm
vụ của họ và rộng hơn là đạo đức thực thi công vụ cho tất cả nhóm người làmviệc cho nhà nước
Xu hướng chung của các nước trên thế giới là pháp luật hóa những giátrị cốt lõi của công vụ (pháp luật về công vụ) và pháp luật hóa những quy tắc,chuẩn mực giá trị đạo đức và hành vi ứng xử của công chức trong thực thi
Trang 34công vụ Từ các nước phát triển đến các nước đang và chậm phát triển đã dầndần từng bước đưa ra những giá trị chuẩn mực cho thực thi công vụ của côngchức Đây cũng là sự khác biệt giữa đạo đức nói chung và đạo đức mang tínhchuẩn mực pháp lý đối với những người thực thi công việc của nhà nước nóiriêng Ở nước ta hiện nay, đạo đức công vụ đã được luật hóa và cụ thể hóabằng các văn bản dưới luật.
- Giai đoạn tự giác
Quá trình hình thành đạo đức công vụ là một quá trình phát triển nhậnthức từ tự phát đến thể chế hóa thành pháp luật của nhà nước và cuối cùngphải nâng lên thành chuẩn mực đạo đức mang tính tự giác thực hiện trongthực thi công vụ của công chức Ba giai đoạn phát triển của hình thành đạođức công vụ có ý nghĩa và vai trò khác nhau, nhưng đều hướng đến đích cuốicùng là tự giác trong thực thi công vụ của công chức Trong thực tế, có nhiềutrường hợp khó, thậm chí không thể kiểm soát được hoạt động của công chứcbằng pháp luật, vì tính đa dạng, đa diện của hoạt động công vụ Khi ấy, lươngtâm nghề nghiệp, đạo đức công vụ sẽ điều chỉnh họ từ bên trong, thúc đẩycông chức thực thi công vụ bằng cái tâm của họ
3 Các yếu tố cấu thành đạo đức công vụ
3.1 Đạo đức xã hội
Đạo đức công vụ được hình thành từ đạo đức xã hội của công chức:Đạo đức xã hội là chuẩn mực, những giá trị được xã hội thừa nhận trong từnggiai đoạn phát triển nhất định Đạo đức xã hội và các cam kết thực hiện nhữnggiá trị chuẩn mực của đạo đức xã hội tạo ra tiền đề cho xã hội phát triển Vềphương diện này, công chức bị ảnh hưởng bởi đạo đức xã hội và phải thựchành những giá trị chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp được pháp luật hóa phùhợp với lẽ phải thông thường của xã hội (cơ bản là chống lại cái ác, cái xấu)
Đạo đức xã hội của công chức thể hiện tính dân chủ của công vụ màcông chức phải thực thi để phục vụ nhân dân Sự không thiên vị, vô tư và liêmkhiết có thể làm cho người dân cảm thấy tin tưởng hơn ở nhà nước, mà côngchức là người truyền tải thông điệp đó; ngược lại sẽ làm giảm niềm tin củangười dân đối với nhà nước
Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, nhiều người cùnglàm việc, nhưng nắm giữ các vị trí khác nhau Do đó cần có những quy định
về tiêu chuẩn đạo đức cho từng nhóm công chức: nhóm công chức nắm giữcác vị trí quản lý; nhóm công chức làm việc chuyên môn nghiệp vụ; nhómlàm việc trong các vị trí bầu cử (cán bộ)
3.2 Đạo đức cá nhân
Trang 35Đạo đức người công chức nói chung và đạo đức công chức khi thực thicông vụ (đạo đức công vụ) có thể có nhiều yếu tố khác nhau cấu thành, vớinhiều cấp độ, mức độ khác nhau Đạo đức công vụ trước hết được hình thành
từ đạo đức cá nhân của người công chức: Công việc của nhà nước do công
chức thực hiện, do đó, muốn xem xét khía cạnh đạo đức nghề nghiệp củacông việc này, đòi hỏi phải xem xét từ khía cạnh đạo đức cá nhân công chức
Công chức thực thi công việc của nhà nước cũng là một con người Họ
có trong họ tất cả các yếu tố của một con người - cá nhân Từ giác độ đạo đức
cá nhân, đạo đức công chức cũng như mọi công dân Từ giác độ là công chức
- người đại diện cho nhà nước thì bản thân công chức lại chịu những đòi hỏikhác từ phía dư luận xã hội, đó là đạo đức nghề nghiệp công chức
Trước hết, công chức xét theo nghĩa chung nhất là người tạo ra pháp
luật Vô hình chung họ là người am hiểu nhất những giá trị cốt lõi của phápluật Nếu họ vi phạm chuẩn mực đạo đức trong thực thi công vụ, thực thipháp luật thì tác động rất lớn đến xã hội
Hai là, công chức cũng là người triển khai tổ chức thực hiện, đưa
những giá trị cốt lõi của pháp luật vào đời sống (với nghĩa họ là người triểnkhai tổ chức thực hiện pháp luật) nên sự tuân thủ pháp luật cũng chính là tấmgương cho người khác tuân theo
Ba là, công chức là công dân và do đó cũng phải tuân thủ các quy định
chung của pháp luật Đây là một trong những thách thức về khía cạnh đạo đức
cá nhân công chức trong thực thi công vụ nếu họ không khách quan, liêmchính
Tóm lại, đạo đức công vụ là sự tổng hòa của hai nhóm đạo đức xã hội
và đạo đức cá nhân người công chức Công chức thực thi công vụ của nhànước giao cho, đòi hỏi phải có cả đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội theohướng tích cực, được xã hội chấp nhận Pháp luật là chuẩn mực, thước đo đểđánh giá mức độ tuân thủ đạo đức của người công chức nhưng pháp luậtkhông thể hình thành đạo đức công vụ một cách tự giác Để thực hành đạođức công vụ một cách tự giác,tự mỗi một công chức phải thấm nhuần các yếu
tố đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp và những quy địnhpháp luật
4 Những nội dung cơ bản của đạo đức công vụ
Bất kỳ nhà nước nào cũng phải định ra những chuẩn mực đạo đức trongnền công vụ của mình và mỗi xã hội có những tiêu chuẩn đạo đức công vụriêng, phù hợp với định hướng chính trị cũng như điều kiện, đặc điểm củamình Bên cạnh những nội dung được thừa nhận chung ở nhiều quốc gia nhưtuân thủ pháp luật, công bằng, chính trực, tùy theo đặc điểm chính trị, vănhóa, xã hội của mình mà mỗi quốc gia có những quy định về chuẩn mực đạođức đặc thù riêng đối với những người làm việc trong bộ máy nhà nước
Trang 36Những chuẩn mực giá trị đạo đức công vụ ngày nay ở nước ta gắn liềnvới đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện trên các khía cạnhchủ yếu sau đây:
Thứ nhất,“trung với nước, hiếu với dân”.
Để có thể trở thành “công bộc của dân”, người công chức, viên chức cầntôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân,lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân Đây là tiêu chuẩn chủ yếuthể hiện nội dung của nền công vụ mang bản chất nhà nước “của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân” Trung với nước là trung thành với lợi ích của quốcgia, dân tộc, với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Ðảng, với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nước ở đâyvới ý nghĩa “Dân là con nước, nước là mẹ chung”, là nước của dân, của toàndân tộc chứ không phải của riêng ai Mối quan hệ nước-dân, dân-nước mang
ý nghĩa nhân văn sâu sắc, hòa quyện với nhau trong một thể thống nhất vềtrách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi công dân với cộng đồng, quốc gia, dântộc Hiếu với dân không phải chỉ là hiếu với cha mẹ mình như người xưa vẫnnói, mà là hiếu với nhân dân, với toàn dân tộc, vì “nước lấy dân làm gốc”, dân
là “gốc” của nước Bác Hồ từng chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằngnhân dân Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợiích của nhân dân” và Người chỉ có “một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, làlàm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
Thứ hai, ý thức tôn trọng pháp luật, tuân thủ pháp luật.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Cán bộ, công chức, viên chức lànhững người thực thi pháp luật Vì vậy, tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá đạođức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức là mức độ tuân thủ pháp luậtcủa họ Giá trị này đòi hỏi người cán bộ, công chức, viên chức phải gươngmẫu, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách,pháp luật của Nhà nước, áp dụng pháp luật một cách chính xác, vô tư trong xử
lý các vấn đề công vụ Mục đích cao nhất của thực thi pháp luật là duy trì trật
tự và đảm bảo công bằng trong xã hội Để đạt được mục đích đó đòi hỏingười thực thi pháp luật phải tuyện đối tuân thủ pháp luật, mọi hành vi khôngtôn trọng pháp luật, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để vụ lợi đều không đượcchấp nhận
Thứ ba, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Để phụng sự nhân dân và Tổ quốc ngày càng tốt hơn thì mọi cán bộ,công chức, viên chức phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Thực hiện
“cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, người cán bộ, công chức, viên chứckhông những nâng cao được chất lượng hoạt động công vụ của mình mà cònphòng tránh được tham nhũng, lãng phí
Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo,
Trang 37không ỷ lại, không dựa dẫm Theo Bác, con người có đức Cần thì việc gì, dùkhó khăn đến mấy, cũng làm được Bác lưu ý, kẻ địch của chữ Cần là lườibiếng Bác cho rằng nếu có một người, một địa phương, hoặc một ngành màlười biếng thì khác nào toàn chuyến xe đang chạy, mà có một bánh trật rangoài đường ray Họ sẽ làm chậm trễ cả một chuyến xe Vì vậy, người lườibiếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền củacủa dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ,nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; “không xa xỉ, không hoang phí, khôngbừa bãi”, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù Cần
và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người Bác chỉ rõ tiếtkiệm không phải là bủn xỉn Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, mộtđồng xu cũng không nên tiêu, nhưng khi có việc cần làm lợi cho dân, chonước thì hao bao nhiêu của, tốn bao nhiêu công cũng vui lòng, như thế mới làkiệm
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "khôngxâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân" Phải "trongsạch, không tham lam" "Không tham địa vị Không tham tiền tài Khôngtham sung sướng Không ham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minhchính đại, không bao giờ hủ hoá" Bác đã nhắc lại một số ý kiến của các bậc
hiền triết ngày trước: Khổng Tử nói: "Người mà không Liêm thì không bằng súc vật"; Mạnh Tử cho rằng: "Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy" Do vậy, Bác
yêu cầu mỗi người, nhất là cán bộ lãnh đạo phải thực hiện tốt chữ Liêm ChữLiêm và chữ Kiệm phải đi đôi với nhau Có Kiệm thì mới Liêm được, bởi xa
xỉ ắt sinh tham lam, không giữ được Liêm Bác cũng chỉ rõ ngược lại với chữLiêm là tham ô, là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét nhân dân, tiêu ít màkhai nhiều, lợi dụng của chung của nhà nước làm quỹ riêng cho địa phươngmình Tham ô là trộm cướp, là kẻ thù của nhân dân Muốn Liêm thật sự thìphải chống tham ô
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn" Đối với mình: không
tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để pháttriển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình Đối với người: không nịnhhót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành,khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc Đối với việc: để việc cônglên trên, lên trước việc tư, việc nhà Theo Bác, trên trái đất có hàng muôntriệu người, trong số người đó chỉ có thể chia làm hai hạng là người thiện vàngười ác Trong xã hội, tuy có trăm nghìn công việc song những công việc ấy
có thể chia làm hai thứ là việc chính việc tà Làm việc chính là người thiện,làm việc tà là người ác Bác khẳng định: Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ củaChính, như một cái cây cần có cành lá, hoa quả mới là một cây hoàn toàn.Con người có Cần, Kiệm, Liêm nhưng cần phải Chính thì mới hoàn chỉnh
Trang 38Chí công vô tư, Bác nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người,với việc" "Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởngthụ thì mình nên đi sau"; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ" Nhưvậy, thực chất của chí công vô tư ở đây chính là thể hiện mối quan hệ giữa lợiích cá nhân với lợi ích tập thể, thể hiện thái độ, trách nhiệm của mỗi người đốivới công việc được giao Chí công vô tư còn là ham làm những gì có lợi chodân, cho nước, không ham địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý.Đối lập với Chí công vô tư là chủ nghĩa cá nhân Bác coi Chủ nghĩa cá nhân
là thứ giặc ở trong lòng, tội cũng nặng như tội việt gian, mật thám vậy Thựchành Chí công vô tư là kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạođức cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính sẽ dẫn đếnChí công vô tư; ngược lại, đã Chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vìĐảng thì nhất định sẽ thực hiện được Cần, Kiệm, Liêm, Chính và có đượcnhiều tính tốt khác Tư tưởng của Người về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chícông vô tư là sự kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, là sựvận dụng sáng tạo tư tưởng đạo đức của Chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễncách mạng ở nước ta Người coi đó không phải chỉ là phẩm chất của cá nhân
mà còn của cả tập thể, của cả dân tộc Người yêu cầu mỗi người dânViệt Nam đều phải rèn luyện, tu dưỡng theo các phẩm chất trên, đặc biệt là
cán bộ, đảng viên có chức, có quyền Trong Di chúc, Người căn dặn: "Đảng
ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"
Thứ tư, có tinh thần phục vụ nhân dân và xã hội.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Cán bộ, công chức là những người thay mặt nhà nước sử dụng quyền lực củanhân dân trao cho để quản lý xã hội, do đó cần phải trở thành những ngườiphục vụ cho lợi ích của nhân nhân, của Tổ quốc Bên cạnh đó, chuẩn mực đạođức của cán bộ, công chức, viên chức cũng được quy định trong thực hiện dânchủ trong hoạt động của cơ quan khi thực thi công vụ Trong quan hệ giảiquyết công việc với công dân, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức phải làmviệc đúng thẩm quyền, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây khókhăn, phiền hà, có trách nhiệm bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật công tác và bímật nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức theo quy địnhcủa pháp luật
Thứ năm, tinh thần chấp hành kỷ luật và tinh thần sáng tạo trong thi hành công vụ.
Mỗi cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ cần phải chấphành nghiêm những quy định của cơ quan, của tổ chức, phải gương mẫu về
Trang 39trong công việc cũng là một chuẩn mực đạo đức mà người cán bộ, công chức,viên chức phải tôn trọng và phát huy Sáng tạo là không máy móc, rập khuôn,tùy thuộc vào đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà thực hiện hoạt độngsao cho đạt hiệu lực và hiệu quả cao nhất Tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dámlàm cần phải được phân biệt rõ với vô kỷ luật.
Thứ sáu, có ý chí cầu tiến bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tinh thần cầu tiến bộ, học tập không ngừng là một yêu cầu cao đối vớimỗi cán bộ, công chức, viên chức Để có thể thực hiện tốt các công việc đượcgiao phục vụ xã hội và cộng đồng, họ cần có đủ năng lực chuyên môn vàphẩm chất đạo đức cần thiết Những yếu tố này chỉ có thể đạt được thông quaquá trình đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo, bồi dưỡng của mỗi cá nhân, đồngthời phải luôn phấn đấu để đạt kết quả công việc cao nhất
Thứ bảy, tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong thực hiện công việc, thực hiện phê bình và tự phê bình.
Hợp tác trong công việc là một trong những yếu tố quan trọng để đảmbảo thực hiện công việc một cách hiệu quả Tuy nhiên, thân ái, hợp tác khôngphải là bao che khuyết điểm cho đồng nghiệp, mà để giúp đỡ nhau cùng tiến
bộ và phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luậttrong thi hành công vụ và trong cuộc sống Bên cạnh đó, chuẩn mực đạo đứccông vụ còn được xác định qua việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơquan, trong quan hệ giải quyết công việc với công dân, tổ chức đúng thầmquyền, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hàcho công dân và tổ chức khi họ đến làm việc với cơ quan nhà nước
IV VĂN HÓA CÔNG VỤ
1 Khái niệm và đặc điểm
- Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá”, UNESCO (1982)xác định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thểnhững nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tínhcách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Vănhoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làmcho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phêphán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoánđược những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hoá mà conngười tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương ánchưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòikhông biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượttrội lên bản thân”
Trang 40-Văn hóa công vụ là văn hóa tổ chức đặc thù, bao gồm hệ thống biểutượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong nhận thức tạo nên tầmnhìn, tác động đến lối sống, hành vi và lề lối làm việc của người thực thi công
vụ, tạo ra môi trường tổ chức có khả năng lưu truyền và ảnh hưởng tới chấtlượng công vụ
Văn hóa công vụ có những đặc đểm sau:
+ Văn hóa công vụ bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể;+ Là sản phẩm của con người trong hoạt động công vụ nhằm đáp ứngnhu cầu của cá nhân, tổ chức và xã hội;
2 Những nội dung của văn hóa công vụ
Văn hóa công vụ cũng như văn hóa nói chung đều chứa đựng nhữngnội dung nhất định, phản ánh những yếu tố bên trong của nó Nội dung củaVăn hóa công vụ được xem xét ở các khía cạnh như sau:
- Những sản phẩm do những người thực thi công vụ tạo ra;
- Ngôn ngữ dưới hình thức những chuyện vui, ẩn dụ, câu chuyệnhuyền thoại;
- Những tiêu chuẩn hành vi, các mẫu hành vi dưới hình thức lễ nghi, lễ
kỷ niệm;
- Những cá nhân điển hình;
- Những biểu tượng, khẩu hiệu;
- Những niềm tin, giá trị, thái độ, các nguyên tắc đạo đức;
- Lịch sử, truyền thống
Tất cả những khía cạnh trên tạo nên nội dung phong phú và đa dạngcủa văn hóa công vụ Nó vừa cho biết lịch sử, truyền thống của nền công vụ,lại vừa cho biết những vấn đề hiện tại mang giá trị vật chất và tinh thần củanền công vụ
3 Những biểu hiện của văn hóa công vụ
Những biểu hiện của văn hóa công vụ là hình thức bên ngoài, nhữngthứ mà có thể quan sát, nhận biết được Biểu hiện của văn hóa công vụthường được nhận biết ở những khía cạnh như sau: