1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự

11 259 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 78,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó thì đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, quyết định quyền, lợi ích củ

Trang 1

MỤC LỤC

NỘI DUNG ………1

I Định nghĩa nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

1

II Nội dung của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự 2

1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc đưa ra yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự 2

2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự 4

3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình 5

4 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo bản án, quyết định của tòa án 6

5 Một số quyền khác thể hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong

tố tụng dân sự 6

6 Trách nhiệm của tòa án trong việc đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 7

III Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 7

1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quá trình tố tụng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Nó được đảm bảo thực hiện trong toàn bộ quá trình tố tụng Đây là vấn đề đã được

đề cập đến nhiều trong các văn bản pháp luật khác nhau cho đến nay nó tiếp tục được khẳng định trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành Để có cơ hội hiểu rõ hơn về vấn đề này nên em đã chọn

chủ đề “ Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm

đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự” làm chủ đề cho bài tập cuối kì của mình

Bài làm của em còn nhiều thiếu xót, em mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn

NỘI DUNG

I Định nghĩa nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

1 Khái niệm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự

Nguyên tắc quyền tự định đoạt (NTQTĐĐ) của đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS) là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS Việt Nam Theo đó thì đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, quyết định quyền, lợi ích của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và trách nhiệm của Tòa án trong việc bào đảm cho đương sự thực hiện được quyền tự định đoạt của mình Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có cội nguồn

từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự Trong đó, các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể

2 Ý nghĩa của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

Như đã khẳng định ở trên thì nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự Vì vậy, nó cũng có những ý nghĩa chung như các nguyên tắc cơ bản khác: đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa; là cơ sở xây sựng và thực hiện các quy phạm pháp luật TTDS Ngoài ra, nguyên tắc này còn có một số ý nghĩa riêng như sau:

Thứ nhất, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự trong việc yêu cầu tòa án có thẩm

quyền giải quyết vụ việc dân sự và quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình trong quá trình tố tụng

Thứ hai, nguyên tắc này có ý nghĩa xác định trách nhiệm của tòa án trong việc đảm bảo

quyền tự định đoạt của đương sự với quy định tại Điều 5 BLTTDS “ tòa án chỉ giải quyết vụ

việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự, chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu…”

Trang 3

Thứ ba, việc quy định nguyên tắc này còn có ý nghĩa làm cơ sở phát huy năng lực xét xử của

tòa án theo hướng bảo vệ quyền của các bên đương sự, tăng niềm tin của nhân dân với tòa án nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung

Từ phân tích trên ta thấy việc tìm hiểu nội dung của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương

sự không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tòa án trong việc thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình trong quá trình tố tụng

3 Cơ sở nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

Đầu tiên, nguyên tắc QTĐĐcủa đương sự có cội nguồn từ các nguyên tắc trong giao lưu dân

sự Nói cách khác, quyền được quy định trong các quy phạm pháp luật hình thức, được phái sinh bởi các nguyên tắc trong giao lưu dân sự do pháp luật nội dung quy định

Thứ hai, nguyên tắc QTĐĐ của đương sự được đặt ra do yêu cầu để thực hiện tốt nguyên

tắc tại Điều 9 BLTTDS đó là “bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự” Và để đảm bảo cho

đương sự thực hiện được quyền đó thì pháp luật phải có những quy định giúp cho đương sự thực hiện tốt điều này Vì vậy, việc ghi nhận nguyên tắc QTĐĐ của đương sự trong tố tụng dân

sự là một vấn đề tất yếu

nào thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm thì có thể khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình Tuy nhiên tòa án lại không được tự mình giải quyết vụ án nếu không có yêu cầu của đương sự Vì vậy, đương sự hoàn toàn có thẩm quyền thay đổi, chấm dứt hoặc bổ yêu cầu tố tụng Việc quy định QTĐĐ của đương sự là phù hợp với thực tiễn khách quan góp phần đảm bảo được quyền và lợi ích tối đa cho đương sự

II Nội dung của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự

1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc đưa ra yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự

1.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết

việc dân sự

Thứ nhất, đương sự có quyền tự mình quyết định có đơn yêu cầu hay đơn khởi kiện yêu cầu

tòa án bảo vệ mình không Điều 5 BLTTDS (năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 sau đây gọi chung là BLTTDS) quy định:

“1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”

Với quy định trên thì đương sự có toàn quyền trong việc quyết định có đưa ra yêu cầu, đơn khởi kiện đề nghị tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích pháp của mình hay không

Thứ hai, pháp luật ghi nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự của cá nhân, tổ chức, cơ quan

trong việc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cơ quan, tổ chức khác

Trang 4

trong việc bảo vệ quyền và lợi ích công cộng, lợi ích của người khác Cụ thể được quy định tại Điều 161 cụ thể như sau:

“Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Theo đó, đương sự được quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện vụ án dân sự hay nộp đơn yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của mình cũng như của người khác

Thứ ba, quyền tự định đoạt trong yêu cầu giải quyết việc dân sự Trong các việc dân sự

thì không có sự tranh chấp giữa các bên mà một bên yêu cầu tòa án công nhân, bác bỏ một quyền lợi một trách nhiệm dân sự nào đó giữa người yêu cầu và người bị yêu cầu Việc tham gia tố tụng của người yêu cầu việc dân sựu cũng chủ động như nguyên đơn trong vụ án dân sự Người yêu cầu trong vụ việc dân sự có lợi ích pháp lý độc lập nên được đưa ra yêu cầu cho tòa án giải quyết như nguyên đơn trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự là một trong những quyền cơ bản của đương sự trong TTDS Việc BLTTDS ghi nhận quyền này của đương sự đã góp phần thể hiện việc thực thi nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS

Từ các phân tích trên cho thấy quyền khởi kiện vụ án dân sự và quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS, không có hành vi khởi kiện, hành vi yêu cầu giải quyết vụ việc DS thì cũng không có quá trình TTDS Đây là phương thức đặc trưng, biểu hiện quan trọng nhất trong việc thực hiện quyền tự định đoạt trong TTDS

1.2 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn

Trong tố tụng dân sự, phản tố được hiểu là việc bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn, nhưng có liên quan đến quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện Điểm c khoản 1 Điều 60 BLTTDS quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn như sau:

“Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc

đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn.”

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định cho bị đơn có quyền bác bỏ yêu cầu Sự bác bỏ yêu cầu theo luật nội dung là quá trình giải thích và lập luận của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có căn cứ về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tế mà nguyên đơn đưa ra Sự bác bỏ yêu cầu về mặt tố tụng là bằng lý giải và chứng cứ của bị đơn về việc giải quyết vụ án hoặc là

về sự vi phạm thủ tục tố tụng trong việc thụ lý và giải quyết vụ án là không hợp pháp Với việc quy định quyền phản tố, quyền bác bỏ của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn là thể hiện sự ghi nhận của pháp luật đối với QTĐĐCĐS

1.3 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan

Trang 5

Trong BLTTDS chưa có khái niệm cụ thể về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chúng ta có thể hiểu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Và họ chỉ được xác định là người có quyền và nghĩa vị liên quan nếu giải quyết

vụ án họ được hưởng quyền lợi hoặc họ phải thực hiện nghĩa vụ

Trong vụ án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại là người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn Điều 177 BLTTDS quy định thì trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:

a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”

Như vậy thì trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có ba điều kiện được đề cập như trên

Còn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn, lợi ích pháp

lý của họ bị phụ thuộc vào nguyên đơn, bị đơn nên việc tham gia tố tụng của họ bị phụ thuộc vào nguyên đơn và họ không có các quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, bị đơn được Trong trường hợp này họ có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 58 BLTTDS

Trong việc dân sự, người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tham

gia tố tụng vào việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả lời về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Việc tham gia tố tụng của họ cũng giống như việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của TA

2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự

2.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu khởi kiện

Điều 5 BLTTDS quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có

thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự.” Đương sự có thể tự mình quyết định yêu cầu tòa án giải

quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ hoàn toàn có quyền quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo của mình (quyền chấm dứt, thay đổi hoặc bổ sung yêu

cầu) Quyền này được cụ thể tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTDS “a) Giữ nguyên, thay đổi, bổ

sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này;” Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn

Trang 6

tố tụng mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu có thể được Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận Điều 218 BLTTDS quy định:

“1 Hội đồng Xét Xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi,

……….

rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng Xét Xử chấp nhận và đình chỉ Xét Xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”

Theo đó thì, trước khi mở phiên toà thì quyền này là quyền bổ sung, thay đổi yêu cầu là quyền tuyệt đối của đương sự, có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu tuỳ ý Tuy nhiên, tại phiên toà việc thay đổi yêu cầu chỉ được chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện (được hướng dẫn chi tiết tại Điều 32 Nghị quyết 05/2012/NQ – HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung) Đối với việc rút đơn khởi kiện, rút đơn yêu cầu trong mọi giai đoạn tố tụng đều có thể được

TA chấp nhận Khoản 2 Điều 59 BLTTDS quy định nguyên đơn có quyền “Rút một phần hoặc

toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện” Việc rút đơn yêu cầu, khởi kiện

của nguyên đơn không hạn chế quyền khởi kiện, quyền yêu cầu lại vụ án của đương sự Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung hay rút đơn yêu cầu, đơn khởi kiện phải dựa vào ý chí tự nguyện của đương sự

2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự

Hòa giải vừa là một nguyên tắc, vừa là thủ tục bắt buộc, là một nội dung của quyền tự định đoạt Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự các bên vẫn có quyền thương lượng với nhau giải quyết vụ việc bằng ý chí và sự tự nguyện của mình, Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận đó, không được đe dọa hay dùng vũ lực để ép buộc các đương sự phải thỏa thuận giải quyết vụ việc trái với ý chí của các đương sự

Hòa giải là thủ tục bắt buộc ở cấp sơ thẩm trừ các trường hợp được pháp luật quy định tại Điều 181 (trường hợp không được hòa giải) và những vụ án hòa giải không thành tại Điều 182 BLTTDS

Tại phiên tòa phúc thẩm pháp luật không quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc nhưng tại phiên tòa phúc thẩm nếu đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuân của các bên được quy định tại Điều 270 BLTTDS và được giải thích tại Điều 19 Nghị quyết số 06/2012/NQ – HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thức ba “Thủ tục giải quyết vụ án tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung

Như vậy, với ý nghĩa là một nội dung cơ bản của QTĐĐ của đương sự, quyền thỏa thuận giải quyết vụ án dân sựu là quyền tố tụng rất quan trọng của được sự được thể hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình tố tụng vừa đảm bảo được quyền lợi của đương sự đồng thời góp phần giải quyết vụ án một cách nhanh chóng và hữu hiệu nhất

Trang 7

3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Thứ nhất, để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của mình đương sự có thể ủy quyền cho người

khác thay mình tham gia vào quá trình tố tụng Người này gọi là người đại diện theo ủy quyền Việc chọn người người đại diện hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí của đương sự Tuy nhiên, người đại diện cũng phải có những điều kiện nhất định thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều

73 và Điều 75 BLTTDS

Thứ hai, đương sự còn có quyền nhờ người khác bảo vệ cho mình khi tham gia vào quá trình

tố tụng Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia vào quá trình tố tụng theo yêu cầu của đương sự vì vậy việc thay đổi, chấm dứt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ do hai bên tự quyết định Đồng thời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng phải tuân theo quy định tại Điều 63 BLTTDS

Đây cũng là hai phương diện thể hiện rất rõ nguyên tắc QTĐĐ của đương sự trong quá trình

tố tụng

4 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo bản án, quyết định của tòa án

Quyền kháng cáo là một quyền tố tụng cơ bản của đương sự được quy định tại Điểm s khoản

2 Điều 58 BLTTDS như sau: “s) Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án theo quy

định của Bộ luật này;” Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì đương sự được tự quyết định

việc thực hiện quyền này Vì vậy, nó cũng là một biểu hiện của QTĐĐCĐS Cùng với quy định đương sự có quyền kháng cáo thì pháp luật cũng quy định đương sự có quyền thay đổi, bổ sung,

rút kháng cáo Theo quy định tại khoản 1 Điều 256 BLTTDS thì “Trước khi bắt đầu phiên tòa

hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo,… ” Có

thể thấy rằng, quyền kháng cáo là một phương tiện pháp lý để đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thông qua việc kháng cáo hay không kháng cáo ĐS thể hiện ý chí của mình đối với bản án, quyết định của Tòa án một cách công khai, độc lập Trong kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án đương sự được quyền tự định đoạt nội dung kháng cáo Với những nội dung như trên thì kháng cáo cũng là một trong những nội dung của QTĐĐCĐS khi tham gia vào quá trình tố tụng

5 Một số quyền khác thể hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

Thứ nhất, quyền yêu cầu tóa án áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời Về nguyên tắc TA chỉ

được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có đơn yêu cầu của đương sự và người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện (Quy định tại Điều 99 BLTTDS) Quy định này thể hiện việc tôn trọng nguyên tắc QTĐĐCĐS

Thứ hai, Quyền tham gia phiên toà, tham gia phiên họp của đương sự Việc tham gia phiên

toà, tham gia phiên họp giải quyết các vụ việc dân sự có ý nghĩa rất quan trọng để các đương sự

Trang 8

có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình tại phiên toà, phiên họp Được ghi nhận tại các Điều 199, 200, 201, 202, 221, 222, 295, ….BLTTDS Quyền tham gia phiên toà, tham gia phiên họp giải quyết vụ việc dân sự nhằm bảo đảm cho đương sự có cơ hội và điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Quy định này thể hiện rõ và tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình

Thứ ba, quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật Pháp luật TTDS

hiện hành quy định đương sự có quyền khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật Theo đó, đương sự có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp thực hiện việc khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành

vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Quy định từ Điều 397, Điều 402, Điều 403 BLTTDS là cơ sở pháp lý để đương sự có thể thực hiện được quyền khiếu nại trong tố tụng nhằm giúp đương sự có thể bảo vệ được tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời hạn chế, khắc phục những vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong TTDS

6 Trách nhiệm của tòa án trong việc đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương

sự trong tố tụng dân sự

Bên cạnh quy định quyền tự định đoạt của đương sự trong việc tham gia tố tụng, quyết định quyền và lợi ích của mình trong TTDS thì BLTTDS cũng quy định rõ về trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS Điều

5 BLTTDS quy định “Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu

cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, yêu cầu đó” Đây là quy định

xác định cụ thể về trách nhiệm của TA trong việc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự TA chỉ giải quyết vụ việc trong phạm vi yêu cầu của đương sự, không được giải quyết thiếu hay vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự Trách nhiệm của TA là đảm bảo việc giải quyết đúng

và đầy đủ yêu cầu của đương sự

III Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng

dân sự

1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

Trong thời gian gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước đặc biệt bằng việc thể hiện trong các quy định tại BLTTDS thì nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS ngày càng được quan tâm và được tạo điều kiện thuận lợi bảo đảm thực hiện trong thực tế Qua đó, có thể thấy Tòa án đã thực sự phát huy được vai trò của mình đối với việc thực hiện nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS Các vấn đề về nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS được quy định ngày càng cụ thể, rõ ràng để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình được thực hiện và phát triển

Bên cạnh những gì đã làm được thì việc thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về nguyên tắc QTĐĐCĐS trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định cả trong hoạt động TTDS của các đương sự cũng như cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 9

Thứ nhất, về các quy định của pháp luật còn một số thiếu xót Khoản 1 Điều 56 quy định

về đương sự thì mới chỉ có các đương sự trong vụ án dân sự nhưng chưa hề có quy định về các đương sự trong việc dân sự Bên cạnh đó chúng ta thấy tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ có yêu cầu độc lập và không có yêu cầu độc lập là khác nhau nhưng hiện nay Luật lại chưa quy định rõ sự khác biệt này Hay trong Luật chỉ mới quy định quyền phản

tố cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ có yêu cầu độc lập nhưng lại không quy định thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố Điều 269 BLTTDS quy định việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước hoặc tại phiên tòa phúc thẩm phải có sự đồng ý của bị đơn là không hợp lí, vi phạm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự Việc quy định pháp luật cò những lỗ hổng như vậy gây ra khá nhiều trở ngại trong quá trình tố tụng

Thứ hai, về việc áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật.

Về phía ĐS, do không hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật nên không thực hiện đúng

được các quyền của mình

Cơ quan tiến hành tố tụng, Thẩm phán nói riêng và cán bộ Tòa án nói chung còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn cũng như phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp điều này làm cho việc thực hiện QTĐĐCĐS trong TTDS của các đương sự không được đảm bảo

2 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung các quy định còn thiết xót trong bộ Luật về khái niệm đương sự

trong vụ việc dân sự Bộ luật TTDS mới chỉ quy định đương sự trong vụ án dân sự, chưa có quy định về đương sự trong việc dân sự

Hai là, quy định rõ sự khác biệt về địa vị tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập so với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập bởi khi tham gia tố tụng với những quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau thì vai trò của các chủ thể sẽ khác nhau

Ba là, không nên quy định về trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên

toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm phải được sự đồng ý của bị đơn Theo quy định tại khoản

1 Điều 269 BLTTDS hiện nay đã vi phạm quyền tự định đoạt của đương sự bởi lẽ trong các tranh chấp dân sự các đương sự được quyền tự mình quyết định tranh chấp hay không tranh chấp

để yêu cầu Tòa án giải quyết và như vậy thì họ cũng có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của mình ở các giai đoạn tố tụng Do vậy, cần sửa đổi Điều 269 theo hướng cho đương sự thực hiện tốt nhất quyền tự định đoạt của mình trong TTDS

Bốn là, nâng cao năng lực xét xử của cán bộ Tòa án đặc biệt là đội ngũ thẩm phán và đẩy mạnh

công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật Một yếu tố quan trọng để đảm bảo nguyên tắc QTĐĐ của đương sự được đảm bảo thực hiện là việc nâng cao năng lực của cán bộ Tòa án là một vấn

đề cấp thiết và cần được đặc biệt chú trọng

Để đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình một cách triệt để đòi hỏi

Trang 10

phải có các giải pháp đồng bộ về xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật TTDS và việc thực hiện chúng đúng các quy định ấy trên thực tế

KẾT LUẬN

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một nguyên tắc quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nhưng để bảo đảm thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam trên thực tế một cách tốt nhất thì phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, thực hiện đồng bộ các giải pháp kiện toàn hệ thống Toà án, nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ cán

bộ

Ngày đăng: 20/03/2019, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w