1.2.Đặc điểm của giao dịch dân sự Với việc tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc trên, giao dịch dân sự luôn mang một số đặc điểm đặc thù như sau: - Giao dịch dân sự phải thể hiện được ý
Trang 1Mục lục
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình độ phát triển của con người Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu dân sự; trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch
vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội Trong nền sản xuất hàng hóa theo cớ chế thị trường, thông qua giao dịch dân sự, các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, thực tế đời sống rất phức tạp, cho nên không thể tránh khỏi tình trạng giao dịch dân sự bị vô hiệu, mà trong đó giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức chiếm tỷ lệ không nhỏ Để hiểu hơn về vấn đề này, em xin phân tích đề tài:
“Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức” Tuy nhiên, do
trình độ nhận thức cũng như vốn hiểu biết còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót,
em rất mong được sự góp ý của thầy cô giúp bài làm của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn !
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.GIAO DỊCH DÂN SỰ-GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
1.GIAO DỊCH DÂN SỰ
1.1.Khái niệm giao dịch dân sự
Điều 121 BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi
pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, từ khái niệm trên ta có thể xác định được hậu quả của việc xác lập giao dịch
dân sự là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ trong quan hệ pháp luật dân sự Dưới góc độ khoa học pháp lí thì “Giao dịch dân sự là hành vi được thực hiện nhằm thu được kết quả nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho
Trang 3kết quả trở thành hiện thực” Do đó, giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí cuả
chủ thể tham gia giao dịch nhằm đạt được những mục đích, động cơ nhất định
1.2.Đặc điểm của giao dịch dân sự
Với việc tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc trên, giao dịch dân sự luôn mang một số đặc điểm đặc thù như sau:
- Giao dịch dân sự phải thể hiện được ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch
- Các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện
- Chế tài trong giao dịch dân sự mang tích chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt
- Nội dung của giao dịch không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội
1.3.Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
* Đối các giao dịch dân sự mà pháp luật không bắt buộc phải được thiết lập theo một hình thức nhất định thì giao dịch đó sẽ được coi là có hiệu khi có đủ ba điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 :
- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự:
Đối với cá nhân
+Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp họ bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác lập mọi giao dịch dân sự
+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại dieenjtheo pháp luật trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi + Người từ đủ 15 tuổi chưa đủ 18 tuổi được xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm
vi tài sản riêng mà họ có, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
+ Những người chưa đủ 6 tuổi, người mất năng lực hành vi không được phép xác lập giao dịch Mọi giao dịch dân sự của những người này đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Đối với các chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác)
Các chủ thể này tham gia vào giao dịch dân sự thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp luật, theo ủy quyền) Người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh người được đại diện Tuy nhiên, pháp nhân chỉ tham gia các giao dịch dân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân Hộ gia đình chỉ được tham gia các giao dịch dân sự có lien quan đến quyền sử dụng đất, đấn hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác theo quy định của pháp luật
Trang 4Tổ hợp tác chỉ được tham gia các giao dịch dân sự lien quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức được xác định trong hợp đồng hợp tác
- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch Để giao dịch có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội Chỉ những tài sản được phép giao dịch, những công việc được phép thực hiện không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của giao dịch dân sự
-Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện :
Giao dịch dân sự phải được thiết lập trên cơ sở tự do, tự nguyện của các bên chủ thể Vì vậy, giao dịch dân sự sẽ bị coi là không có tính tự nguyện của người khi tham gia giao dịch đó được thiết lập do bị đe dọa, bị lừa dối, bị nhầm lẫn
* Đối với những giao dịch dân sự mà pháp luật đã quy định phải được thiết lập theo một hình thức nhất định thì ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện trên, hình thúc của giao dịch này còn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật mới được coi là có hiệu lực pháp luật
2.GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
2.1.Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ các bên và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Mỗi giao dịch hợp pháp phải tuân thủ ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (trong một số trường hợp cụ thể phải tuân thủ thêm điều kiện về hình thức) Vì vậy, về nguyên tắc giao dịch không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì sẽ bị vô hiệu
2.2.Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu
Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu là không đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên tham gia phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định có thể gây bất lợi về vật chất và tinh thần Giao dịch dân sự vô hiệu thường có đặc điểm sau:
- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định của pháp luật đối với giao dịch có hiệu lực theo Điều 122 Bộ luật dân sự 2005
Trang 5- Các bên tham gia giao dịch dân sự phải chịu hậu quả pháp lý nhất định như khi giao dịch dân sự vô hiệu quay lại trạng thái ban đầu, các bên tham gia giao dịch hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận Về mặt lý thuyết thì đó là sự tổn thất của các bên vì họ đã không đạt được mục đích như đã mong muốn Tuy nhiên về mặt thực tế có trường hợp tuyên bố giao dịch vô hiệu có bên được hưởng lợi, có bên bị thiệt hại Đây là vấn đề
phức tạp khi giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trên thực tế
2.3.Có nhiều tiêu chí để phân loại giao dịch dân sự vô hiệu
- Nếu căn cứ vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không, ý chí nhà nước, ý chí chủ thể thì có giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
- Nếu căn cứ vào mức độ vi phạm đối với từng giao dịch cụ thể có giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịch dân sự vô hiệu một phần
- Nếu căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì có thể phân chia giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm từng trường hợp cụ thể khi vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Vì thế, trong trường hợp một giao dịch dân sự được pháp luật quy định về mặt hình thức mà không đáp ứng được điều kiện như pháp luật quy định thì giao dịch đó có thể bị tòa tuyên vô hiệu
II.GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC
1.Hình thức của giao dịch dân sự
Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện để thể hiện nội dung bên trong của giao dịch” Như vậy, hình thức của giao dịch là căn cứ, cơ sở đề bên đối tác cũng như
người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã được xác lập Vì thế, nó có ý nghĩa rất quan trọng trong tố tụng dân sự
Giao dịch dân sự có ba hình thức phù hợp với quy định của pháp lụât, do đó, người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức phù hợp với kiểu giao dịch mà mình muốn xác lập; trừ trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật quy định về hình thức của giao dịch Cụ thể:
a. Hình thức bằng miệng (lời nói)
Có thể nói đây là hình thức phổ biến nhất trong mọi giao dịch dân sự hiện nay Bởi lẽ trong thực tế cuộc sống thì chúng ta phải thực hiện rất nhiều giao dịch dân sự được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó như mua bán thức ăn, trao đổi trong khi hình thức
Trang 6bằng miệng lại khá nhanh gọn, không cần đáp ứng thủ tục cụ thể theo quy địng của pháp luật mà chỉ cần có sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia Ngòai ra, hình thức này còn được áp dụng đối với các chủ thể có quan hệ tin cậy, mật thiết với nhau Nên cũng vì thế mà hình thức này lại có mức độ xác thực thấp nhất
Tuy vậy, trường hợp giao dịch dân sự bằng miệng chỉ có hiệu lực, có giá trị khi đáp ứng được những điều kiện do luật quy định ( di chúc miệng – Điều 654 BLDS)
b. Hình thức văn bản
Khác với hình thức bằng mịêng, hình thức giao dịch này rõ ràng và có mức xác thực cao nhất Có hai loại hình thức văn bản: Văn bản thường và văn bản có công
chứng,chứng nhận, UBND cấp có thẩm quyền chứng thực Hai loại giao dịch này đều phải được lập thành văn bản Trong đó, hình thức văn bản thường đơn giản hơnvì các bên chỉ cần thể hiện nội dugn giao dịch trong văn bản rồi kí tên xác nhận vào đó để đảm bảo sự thống nhất ý trí các bên Loại hình văn bản có công chứng chứng nhận thì được
áp dụng trogn trường hợp pháp luật quy định giao dịch đó buộc bằng hình thức văn bản, hay các bên thỏa thuận phải có chứng nhận, đăng kí, xin phép (mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất )
c. Hình thức bằng hành vi
Đó là việc xác lập giao dịch dân sự thông qua những hành vi nhất định theo quy
ước định trước ( chụp ảnh bằng máy tự động, mua nước ngọt bằng máy tự động ) Đây
là hình thức đơn giản, tiện lợi nhất của giao dịch Giao dịch này có thể được xác lập mà không nhất thiết phải có mặt cả các bên chủ thể tại nơi giao kết
2.Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Cũng như pháp luật một số nước khác, pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên tắc tự
do hình thức giao kết hợp đồng Theo quy định tại khoản 1 Điều 401 BLDS năm 2005 thì hợp đồng dân sự có thể giao kết bằng các hình thức khác nhau như: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng các hành vi cụ thể Trong một sổtường hợp pháp luật quy định giao dịch phải được giao kết bằng một hình thức nhất định thì các bên phải tuân thủ Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, giao dịch dân sự được coi
là vô hiệu khi vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005
Theo khoản 2 Điều 122 thì “ hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định”, tại khoản 2 Điều 401 Bô luật này cũng xác
định: Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn
Trang 7bản có công chứng, chứng thực, phải đăng kí hoặc xin phép thì phải tuân theo những quy định đó Giao dịch không bị coi là vô hiệu trong trường hợp pháp luật có quy định khác
Điều 134 BLDS năm 2005 quy định: “ Trong trường hợp pháp luật quy định hình
thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.
Như vậy, theo các quy định đó có thể thấy về nguyên tắc hình thức không phải là điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực pháp lý Tức là giao dịch chỉ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức nếu trong BLDS hoặc một văn bản pháp luật nào đó quy định một cách cụ thể: Giao dịch vi phạm điều kiện về hình thức luật định sẽ
vô hiệu Các giao dịch pháp luật quy định phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực đăng kí hoặc xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quền thì các bên phải tuân theo quy định đó Khi các bên không tuân thủ quy định về hình thức, khi có tranh chấp xảy
ra và có yêu cầu một trong các bên yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong thời hạn, việc ấn định thời hạn để thực hiện quy định về hình thức của giao dịch thuộc thẩm quền của tòa án Tòa án không mặc nhiên tuyên bố giao dịch vô hiệu, chỉ khi nào tòa án đủ căn cứ các bên không hoàn tất quy định về hình thức của giao dịch trong thời hạn ấn định thì giao dịch mới vô hiệu
Nếu như BLDS năm 1995 coi vi phạm điều kiện về hình thức là rất nghiêm trọng
Tại khoản 2 Điều 145 BLDS năm 1995 quy định: “đối với các giao dịch dân sự được
quy định tại Điều 137, Điều 138, và Điều 139 của Bộ luật này thì thời gian yêu cầu tòa
án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế” theo quy định này thì kể từ khi các bên
xác lập giao dịch các bên đương sự cũng có thể yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô
Trang 8hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, còn theo quy định của BLDS năm 2005 thì giao dịch vi phạm điều kiện về hình thức không phải đương nhiên vô hiệu ( khoản 2 Điều 401) Dù giao dịch có vi phạm điều kiện về hình thức mà các bên phải khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu về hình thức thì tòa án không xem xét khi đó giao dịch vẫn có hiệu lực
Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 BLDS năm 2005 quy định: “ Thời điểm yêu
cầu tòa án tuyên bố dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều 130, Điều 134 Bộ luật này là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập” Trong khi đó giao dịch
dân sự vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức quy định tại điều 134 BLDS năm
2005 cũng thuộc vào trường hợp điều chỉnh quy định tại Điều 136 Bộ luật này
Do đó có thể thấy rằng giao dịch dân sự chỉ bị vô hiệu về hình thức khi trong thời hạn hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập mà 1 trong các bên hoặc người thứ ba yêu cầu tòa án tuyên bố thì giao dịch đó vô hiệu quá thời hạn trên, không ai có quền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức nữa
3.Hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Hậu quả pháp lí được hiểu là những hệ quả pháp lí phát sinh theo quy định của pháp luật trong trường hợp giao dịch vô hiệu Hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu
do không tuân thủ quy định về hình thức được xác định
Các bên chấm dứt việc thực hiện giao dịch: khi giao dịch bị vô hiệu thì giao dịch đó không còn có giá trị pháp lí ngay từ thời điểm giao kết Hợp đồng bị vô hiệu không có giá trị bắt buộc, các bên giao kết không còn bị ràng buộc về quền và nghĩa vụ với nhau
Do vậy, khi giao dịch vô hiệu thì các bên phải chấm dứt việc thực hiện giao dịch đó Nếu các bên mới chỉ giao kết giao dịch chưa thực hiện nghĩa vụ thì không được thực hiện nữa, nếu đã thực hiện được một phần thì không được tiếp tục thực hiện nữa và phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Trang 9Về hình thức hoàn trả trước tiên được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên vì trong dân sự yếu tố thỏa thuận luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Nếu các bên không thỏa thuận được thì tiến hành hoàn trả theo quy định taih khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2005 hoàn trả bằng hiện vật hoặc hoàn trả bằng tiền
Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Việc xác định trách nhiệm bồi thường hiệt hại đối với các bên rất phức tạp Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt
ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại, mỗi người phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi Vì vậy việc xác định trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ khi có:
- Hành vi trái pháp luật đối với giao dịch vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Theo quy định của pháp luật, thì đối với người có tài sản giao dịch phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tài sản của mình, chẳng hạn thực hiện mua bán tài sản thì bên bán tài sản phải có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn, đúng hình thức, mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ này được coi là trái pháp luật Do đó, đối với giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức nếu các bên cùng vi phạm thì các bên cùng chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại xảy ra Còn nếu việc vi phạm do một bên chủ thể cố tình vi phạm thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
- Có thiệt hại xảy ra trong thực tế: nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
là việc người có nghĩa vụ phải bồi thường cho bên kia tổn thất vật chất mà mình đã gây
ra do vi phạm nghĩa vụ dân sự Hay chính hành vi vi phạm của người có nghĩa vụ dẫn đến người bị vi phạm phải bỏ ra nhưng chi phí cần thiết để khắc phục hậu quả do giao dịch vô hiệu
- Lỗi của người vi phạm: theo phân tích ở trên thì người vi phạm giao dịch là người thực hiện hành vi trái pháp luật cho nên người thực hiện hành vi đó bị coi là có lỗi
Trang 104.Trường hợp cụ thể về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
4.1.Vụ việc 1: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và mua bán nhà giữa nguyên đơn là bà Trần Thị Lượt với bị đơn là anh Vũ Diễm Sơn và chị ĐÒan Thị Phượng.
- Tóm tắt vụ việc:
Vụ việc xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội Cuối tháng 10/2006, bà Lượt đọc báo thấy anh Sơn có nhu cầu bán nhà, thống nhất giá cả là 570 triệu đồng Nguồn gốc nhà đất tại 492 Bạch Mai là của bố mẹ cho hai anh em Phượng (vợ anh sơn), Sau đó, anh trai chị không ở đấy nữa nên cho hai vợ chồng chị Phượng tòan quyền sử dụng sở hữu Anh Sơn hứa sẽ làm đầy đủ giấy tờ hợp pháp cho căn nhà đồng thời có sự ra mặt của anh trai chị Phượng – là anh Huấn, người chứng thực nguồn gốc căn nhà nên bà Lượt yên tâm mua nhà
Ngày 14/11/2006, Bà Lượt và vợ chồng anh Sơn tiến hành làm hợp đồng mua bán trên ngôi nhà trên, với người chứng thực là bà Nguyễn Thị Cúc
Ngày 14/11/2006 Bà lượt trả số tiền lần một là 100 triệu đồng
Ngày 15/11/2006 bà trả số tiền lần hai là 230 triệu đồng
Hai bên cam kết miệng: sau khi vợ chồng anh Sơn làm giấy tờ xác nhận nhà đất hợp pháp, bà Lượt hòan trả nốt số tiền là 240 triệu đồng Anh Sơn hẹn với bà Lượt đến ngày 1/12/2006 cùng ra UBND phường Trương Định để cùng hòan tất thủ tục mua bán
Đến hẹn, anh Sơn không đến bà Lượt biết được việc làm giấy tờ nhà đất hợp pháp
đã không thành đã ầm ĩ đòi lại tiền mua nhà Anh Sơn đã viết cam kết trả lại số tiền 330 triệu cho bà Lượt với lý do không hoàn thành được thủ tục bán nhà và sẽ trả tiền vào ngày 4/12/2006