1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập học kì luật hôn nhân và gia đình (8 điểm)

15 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đối với vấn đề điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi, Luật Nuôi con nuôi cũng như Luật Hôn nhân và gia đình đều thống nhất các điều kiện của người được nhận làm con n

Trang 1

BÀI LÀM

A LỜI MỞ ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội Bởi vậy sự tồn tại, phát triển của xã hội phụ thuộc vào mỗi gia đình trong xã hội đó Trong cuộc sống, mỗi người đếu muốn có một gia đình ấm no, hạnh phúc – đó là một gia đình có đầy đủ ông bà, cha mẹ và con cái cùng chung sống vui vẻ Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thì còn tồn tại nhiều trường hợp không may mắn, nhiều vợ chồng vì những bệnh tật hoặc điều kiện sức khỏe không đảm bảo mà không thế sinh con Từ thực tiễn này, nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Trải qua nhiều thời kì khác nhau thì chế định nuôi con nuôi được quy định trong Luật Hôn nhân gia đình ngày càng được hoàn thiện hơn Gần đây nhất phải kể đến chính là chế định nuôi con nuôi quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 Trên sự thừa kế và phát triển chế định này Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã ra đời

Nhằm nghiên cứu sâu về vấn đề điều kiện nuôi con nuôi, thấy rõ được sự thừa kế

và phát triển của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với chế định nuôi con nuôi quy định trong Luật hôn nhân gia đình năm 2000, em xin được chọn đề tài sau cho bài

luận cuối kì của mình: “Điều kiện nuôi con theo Luật nuôi con nuôi năm 2010 trong mối liên hệ về điều kiện nuôi con nuôi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”.

B NỘI DUNG

I Cơ sở pháp lý

1 Khái niệm nuôi con nuôi

Trong Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Khoản 1 Điều 67 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2000 đều định nghĩa như sau về con nuôi: “Nuôi con nuôi

Trang 2

là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi”.

Như vậy, nếu như xác định cha mẹ đẻ và con đẻ ta dựa trên cơ sở huyết thống thì xác định cha mẹ và con nuôi ta không dựa trên cơ sở quan hệ về mặt sinh học và huyết thống Tuy vậy, khi xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi, các bên đối xử với nhau như cha mẹ đẻ và con đẻ Đồng thời,

họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình giống như quan hệ cha mẹ đẻ với con đẻ Trên thực tế, chúng ta thấy tồn tại nhiều hình thức nuôi con nuôi khác nhau như nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi trên thực tế, nuôi con nuôi theo phong tục tập quán,…Có thể lấy một ví dụ thực tế như sau: Theo phong tục tập quán đã có

từ lâu đời của người dân tộc Tày (thuộc tỉnh Lạng Sơn), thông thường nếu đứa trẻ nào sinh ra mà ốm yếu, bệnh tật thì sẽ được cha mẹ chúng cho đi nhận cha hoặc mẹ nuôi Người nhận nuôi sẽ là những người làm nghề cúng bái Khi một đứa tre được thầy cúng nhận làm con nuôi thì sẽ thực hiện đầy đủ những nghi thức đã có từ lâu đời Như vậy, trên danh nghĩa họ là cha (mẹ) nuôi và con nuôi Những quan hệ nuôi con nuôi như đã kể trên không đòi hỏi các điều kiện chặt chẽ mà chủ yếu đáp ứng những lợi ích về vật chất và tinh thần Quan hệ nuôi con nuôi không phải bao giờ cũng có sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong các trường hợp này, vẫn xác lập quan hệ con nuôi nhưng hầu như những quan hệ này không được pháp luật điều chỉnh

Xét dưới góc độ pháp lý, chỉ khi quan hệ nuôi con nuôi được pháp luật công nhận thì mới phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và con giữa các bên Nuôi con nuôi là việc dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi và được sự công nhận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

2 Khái niệm chế định nuôi con nuôi

Chế định nuôi con nuôi là chế định pháp lý bao gồm các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh những vấn đề về nuôi con nuôi như điều kiện nuôi con nuôi, thực hiện, chấm dứt việc nuôi con nuôi,

Trang 3

quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi, bao gổm cả các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

3 Mục đích và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi

- Mục đích: Điều 2 Luật Nuôi con nuôi 2010 chỉ rõ: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

- ý nghĩa:

+ Về mặt xã hội, nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người Việc nhận nuôi con nuôi phản ánh phong tục tập quán, những giá trị nhân văn và truyền thống tốt đẹp của dân tộc

+ Đối với Nhà nước: việc nuôi con nuôi làm giảm ghánh nặng cho Nhà nước trước tình trạng trẻ em không nơi nương tựa, không nguồn nuôi dưỡng Hạn chế khả năng trẻ em mắc phải các tệ nạn xã hội do thiếu sự quan tâm, giáo dục

+ Về mặt pháp lý, nhận nuôi con nuôi là một quyền tự do nhân thân của các cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ Nuôi con nuôi không chỉ là biện pháp tốt nhất, phù hợp và có lợi ích với trẻ em mà còn là cách thực hiện hợp pháp quyền làm cha mẹ của cá nhân

Xuất phát từ những cơ sở trên, từ mục đích, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi, trước tiên chúng ta cần làm rõ vấn đề điều kiện nuôi con nuôi Những nội dung sau đây,

em xin đi sâu phân tích để làm rõ yêu cầu của đề bài, cụ thể là chỉ ra những điểm giống và khác nhau về điều kiện nuôi con nuôi giữa Luật Nuôi con nuôi 2010 với Luật Hôn nhân và gia đình 2000

II Điều kiện nuôi con theo Luật nuôi con nuôi năm 2010 trong mối liên hệ về điều kiện nuôi con nuôi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

Trang 4

Nuôi con nuôi được chia làm hai trường hợp đó là nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, đối với vấn đề điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi, Luật Nuôi con nuôi cũng như Luật Hôn nhân và gia đình đều thống nhất các điều kiện của người được nhận làm con nuôi trong nước và nước ngoài Vì vậy, điều kiện đối với hai đối tượng này là như nhau Theo quy định thì ngoài việc đáp ứng những điều kiện nuôi con nuôi trong nước, Điều 1 Nghị định 69/2006/ NĐ-CP còn quy định them các điều kiện cho trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài Luật Nuôi con nuôi đã quy định chung điều kiện của người được nhận làm con nuôi tại Điều 8, không phân biệt nuôi con nuôi trong nước hay có yếu

tố nước ngoài Điều này được quy định cụ thể về điều kiện của người được nhận làm con nuôi như sau:

“1 Trẻ em dưới 16 tuổi

2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau: a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi;

3 Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng

4 Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khác làm con nuôi.”

Trên đây là những quy định tại Luật Nuôi con nuôi, còn Luật Hôn nhân và gia đình quy định về điều kiện của người được nhận làm con nuôi tại Điều 68 như sau:

“1 Người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống

Người trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn

2 Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng.”

Như hai điều luật đã trích ở trên thì ta thấy được điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi quy định trong hai Luật này có điểm khác nhau cơ bản

Trang 5

Thứ nhất là quy định về độ tuổi Luật Hôn nhân và gia đình quy định người được

nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống nhưng Luật Nuôi con lại quy định đối tượng đó là trẻ em dưới 16 tuổi Giải thích như sau đối với việc tăng độ tuổi cho người được nhận làm con nuôi trong Luật Nuôi con nuôi Theo Điều 1 Luật Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em năm 2005 quy định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Vấn đề độ tuổi của người được nhận làm con nuôi, với mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi trong môi trường gia đình nên độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi trong Luật Nuôi con nuôi có quan hệ gắn bó mật thiết với độ tuổi được coi là trẻ em trong Luật Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em Vì vậy luật nuôi con nuôi tăng độ tuổi của người được làm con nuôi thành “dưới 16 tuổi” Quy định này đã thể hiện rõ ràng sự phù hợp, thống nhất giữa Luật Nuôi con nuôi với Luật Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em Theo quan điểm của em, nâng độ tuổi này lên như vậy là rất phù hợp Thứ nhất, Luật Hôn nhân và gia đình ban hành năm 2000 đã quy định độ tuổi này là dưới 15 tuổi Sau 5 năm thực hiện, Luật Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em

đã ra đời và quy định độ tuổi được coi là trẻ em Dựa trên căn cứ của luật này, Luật Nuôi con nuôi đưa ra quy định mới như vậy là hoàn toàn phù hợp Thứ hai, điều này còn phù hợp với đạo đức truyền thống của người Việt Nam ta Dân ta có tinh thần tương thân tương ái, đồng thời ta vẫn thường nói “trẻ em như búp trên cành” Với độ tuổi còn nhỏ, chưa có sự trưởng thành thì trẻ em rất dễ mắc phải những tệ nạn xã hội, chưa kể đến là sẽ dẫn đến hiện tượng đói ăn, mặc rách,…Do đó, quy định về độ tuổi như vậy trong luật Nuôi con nuôi sẽ đảm bảo cho mọi trẻ em trong xã hội được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

Thứ hai, theo khoản 1 Điều 68 Luật HN và GĐ quy định: “Người trên 15 tuổi có

thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn” Còn tại khoản 2 Điều 8 Luật NCN lại quy định trường hợp ngoại lệ về độ tuổi người được nhận làm con nuôi

là từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi Điếm khác nhau thứ nhất ở đây đó là Luật NCN không quy

Trang 6

định vấn đề “được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn” Quy định như vậy bởi trường hợp này chỉ là quan hệ nhằm mục đích chăm sóc, phụng dưỡng Việc loại bỏ trường hợp này phù hợp với mục đích và nguyên tắc nuôi con nuôi là để tìm mái ấm cho trẻ em, bảo đảm cho trẻ em được chăm soc, nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường gia đình Còn công tác đảm bảo cuộc sống cho thương binh, người tàn tật, người già yếu cô đơn sẽ do pháp luật về an sinh xã hội điều chỉnh Điểm khác nhau thứ hai, nếu như quy định về trường hợp ngoại lệ về độ tuổi trong Luật HN và

GĐ không giới hạn độ tuổi đối với một số đối tượng thì Luật NCN đã quy định về trường hợp ngoại lệ này như sau: “người được nhận làm con nuôi là từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi” Ta thấy, phần lớn những người ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi chưa thể tự nuôi sống bản thân, tâm sinh lý cũng chưa phát triển toàn diện Vì vậy Luật NCN quy định như trên là để đảm bảo tính nhân đạo của việc nuôi con nuôi Việc gải quyết cho trẻ em làm con nuôi của người cha dượng hoặc mẹ kế nhằm đảm bảo cho trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ với con cái khi trẻ em

có cha mẹ kết hôn với người nước ngoài và người cha, người mẹ kế của trẻ em muốn nhận đứa trẻ đó làm con nuôi

Thứ ba, theo khoản 2 Điều 68 Luật HN và GĐ 2000: “Một người chỉ có thể làm

con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng” Còn tại khoản 3 Điều 8 Luật NCN 2010 quy định: “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.” Quy định của Luật HN và GĐ chưa làm rõ vấn đề một người đã có vợ hoặc có chồng có được phép nhận con nuôi riêng hay không Luật NCN đã có sự thay đổi, hiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 8, luật chỉ cho phép một người độc thân hoặc cả hai vợ chồng nhận con nuôi Như vậy, Luật NCN không cho phép người đã có vợ hoặc chồng nhận nuôi con riêng mà cần phả cs

sự thống nhất của cả hai vợ chồng Điều này nhằm đảm bảo cho trẻ em được làm con nuôi trong một gia đình trọn vẹn, có sự yêu thương, chăm sóc của tất cả các thành viên trong gia đình

Trang 7

2 Điều kiện đối với người nhận con nuôi

2.1 Trường hợp nuôi con nuôi trong nước

Luật NCN ra đời và đã kế thừa một số quy định về điều kiện người nhận con nuôi của Luật HN và GĐ như: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt Sự khác nhau được thể hiện như sau:

Thứ nhất là điều kiện thực tế để đảm bảo cho việc nuôi con nuôi Tại khoản 4

Điều 69 Luật HN và GĐ quy định về điều kiện này như sau: “Có điều kiện thực tế để đảo bảo việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi” Thừa kế và phát triển điều luật này, Luật NCN đã quy định về điều kiện này tại điểm c khoản 1 Điều

14 như sau: “Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở, bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi” Như vậy, so với Luật HN và GĐ, Luật NCN đã có quy định cụ thể, rõ rang hơn về vấn đề này Quy định cụ thể tại Luật NCN (Có điều kiện

về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở) đã giả thích rõ cho cụm từ “điều kiện thực tế” tại Luật

HN và GĐ Quy định này tạo sự thuận lợi cho những người có thẩm quyền trong việc xem xét điều kiện của người nhận nuôi, từ đó đưa ra các quyết định hợp lí để công nhận hay không công nhận việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi

Thứ hai, khoản 3 Điều 14 Luật HN và GĐ quy định: “trường hợp cha dượng

nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu,

dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c tại khoản 1 Điều này” Đó là hai điều kiện “hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”

và “có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi” Sự điều chỉnh này của pháp luật là hợp lí, bởi nếu cha dượng, mẹ

kế muốn nhận con riêng của vợ hoặc chồng mà không đáp ứng đủ điều kiện trên thì

sẽ ngăn cản việc trẻ em có một gia đình trọn vẹn Như vậy, quy định này nhằm bảo đảm cho con nuôi được sống trong môi trường gia đình với những người thân thuộc

dù người nhận nuôi là cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột không có đủ điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở hoặc điều kiện về khoảng cách độ tuổi Tuy nhiên, theo quan điểm của bản thân, em cho rằng cũng sẽ không tránh khỏi những mặt hạn chế của điều luật này Chúng ta cần phải đặt ra câu hỏi rằng: mục đích của nuôi con nuôi

Trang 8

chính là vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, học tập, thế nhưng nếu như người nhận nuôi con không

có đủ điều kiện như điểm c khoản 1 Điều 14 đã nêu thì những lợi ích của đứa con có được đảm bảo hay không? Cũng không thể loại trừ những trường hợp lợi dụng việc nhận nuôi con nuôi nhằm mục đích trục lợi, bóc lột sức lao động trẻ em Do vậy, khi điều luật được thức hiện trên thực tiễn chúng ta cần xem xét những mặt hạn chế để điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp

Thứ ba, Luật NCN 2010 quy định rõ hành vi cấm ông, bà nhận cháu làm con

nuôi hoặc anh, chị em nhận nhau làm con nuôi (khoản 3 Điều 13) Ở đây, cần phân biệt rõ giữa việc nuôi con nuôi và nuôi dưỡng Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ và con, còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình Trong trường hợp cha mẹ chết hoặc không có khả năng thì ông bà (nội, ngoại) có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh chị em có nghĩa vụ chăm sóc em, đó là nghĩa vị nuôi dưỡng cũng như cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập mối quan hệ nuôi con nuôi thì mới rang buộc được trách nhiệm của các bên Những trường hợp nhận nuôi con nuôi như vậy đã làm đảo lộn các thứ bậc trong gia đình Ví dụ như việc ông bà nhận cháu làm con nuôi thì cháu sẽ trở thành con của ông bà và ngược lại ông bà lại là bố mẹ của cháu Tương tự, anh chị nhận em làm con nuôi thì sẽ trở thành cha mẹ của em Điều này ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục, không phù hợp với truyền thống của dân tộc ta Quy định này cũng góp phần ngăn chặn việc thực hiện quan hệ nuôi con nuôi vì các mục đích không đúng đắn, không hợp pháp

2.2 Trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trước hết, chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ 2000 đã có sự mâu thuẫn khi quy định về vấn đề này Khoản 1 Điều 105 Luật HN và GĐ xác định điều kiện của người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt nam làm con nuôi dựa trên quy định của pháp luật nơi người đó mang quốc tịch Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 37 Nghị đinh 68/2002/NĐ-CP thì việc xác định điều kiện của người xin nhận con nuôi lại dựa trên pháp luật Việt nam và pháp luật nơi người đó thường trú Quy định này nhằm đảm

Trang 9

bảo sự phù hợp giữa pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế Theo khoản 1 Điều

29 Luật NCN 2010: “Người Việt nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này” Với điều kiện này, một mặt Luật NCN đã giải quyết tình trạng mâu thuẫn giữa các quy định trước đây, mặt khác Luật NCN đã thể hiện sự thừa kế hợp lí trong Nghị định 68/2002/NĐ-CP và nghị định 69/2006/NĐ-CP, từ đó tạo ra khuôn khổ pháp lí thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập công ước quốc tế

Vấn đề điều kiện của người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được quy định tại Điều 28 Luật NCN 2010 Điều Luật này đưa ra bốn trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Theo khoản 1 Điều 28: “Người Việt nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế

về nuôi con nuôi với Việt nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi”

Khoản 2 Điều 28 quy định về vấn đề người Việt nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận nuôi con nuôi đích danh Vấn đề được đặt ra từ các quy định này là:

Thứ nhất, những người nhận nuôi con nuôi đích danh theo quy định khoản 2

Điều 28 Luật NCN 2010 có nhất thiết phải là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài thường trú tại quốc gia có kí kết điều ước quốc tế về nuôi con nuôi vớ Việt Nam hay không Đối với vấn đề này, có thể nhận thấy, người nhận nuôi con nuôi con nuôi không nhất thiết phải đáp ứng các điều kiện định cư hoặc thường trú tại quốc gia kí kết hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam Chỉ cần việc nuôi con nuôi thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 28 thì người nhận nuôi con nuôi có thể nhận nuôi đích danh

Thứ hai, có phải tất cả các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 28 đều không

được nhận con nuôi đích danh không? Khaonr 2 Điều 28 nêu ra các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận nuôi con nuôi đích danh nhưng không quy định rõ là người này có được nhận nuôi không đích danh hay không Các quy định tại khoản 2 Điều 28 là chưa

Trang 10

thực sự rõ ràng, có trường hợp quy định về người được nhận làm con nuôi tạ điểm d,

có trường hợp quy định về người nhận nuôi con nuôi như điểm đ Từ đó có thể gây

ra những cách hiểu khác nhau đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi được quy định tại điều khoản này

Qua các vấn đề trên, có thể thấy về cơ bản điều kiện của người xin nhận con nuôi

có yếu tố nước ngoài chủ yếu vẫn thừa kế các quy định trước đây Về nguyên tắc, người nhận nuôi con nuôi phải thường trú ở những nước là thành viên của điều ước quốc tế hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam và phải đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi theo Luật NCN cũng như pháp luật của nước hữu quan Ngoài ra, Luật NCN có sự điều chỉnh trong một số trường hợp nuôi con nuôi đích danh, cụ thể:

- Điểm đ khoản 2 Điều 28 Luật NCN quy định về điều kiện người được nhận nuôi con nuôi đích danh: “Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm” So với quy định trước đây thì thời gian này được tăng thêm Theo mục 8, Nghị định 69/2006/NĐ-CP thì khoảng thời gian này chỉ là 6 tháng Sự thay đổi này theo hướng chặt chẽ thêm các điều kiện đối với người nước ngoài nhận nuôi con nuôi là công dân Việt Nam

- Mục 8 Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP có quy định về người nhận con nuôi

có “quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được nhận làm con nuôi” Luật NCN quy định rõ ràng hơn về mối quan hệ này trong hai trường hợp tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 28: người nước ngoài nhận nuôi con nuôi là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; hoặc cô, dì, chú , bác của người được nhận làm con nuôi Quy định này nhằm đáp ứng tình hình thực tế, tạo điều kiện cho người con được sống với cha, mẹ đẻ ở nước ngoài và tạo điều kiện để người đó được hưởng trọn vẹn quyền lợi của người con trong quan hệ với cha dượng, mẹ kế theo pháp luật nước ngoài Quy định này cũng phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, được sự chăm sóc, yêu thương của cha mẹ đẻ hoặc những người thân thích khác Sự điều chỉnh này cũng phù hợp với Điều 5 Luật NCN, khi lừa chọn gia đình thay thế cho trẻ thì sẽ có sự ưu tiên đối với người nhận

Ngày đăng: 20/03/2019, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w