Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộcmình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ
DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI LỚP MẪU GIÁO A2 (5-6 TUỔI), TRƯỜNG MẦM NON KỲ TÂN, BÁ THƯỚC
Trang 22.3.1 Biện pháp 1: Biện pháp xây dựng môi trường tiếng việt
phong phú giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt 6
2.3.2 Biện pháp 2: Rèn kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng
việt cho trẻ ở mọi hoạt động, mọi lúc mọi nơi 8
2.3.3
Biện pháp 3: Dùng phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng
thái ) để dạy tiếng việt cho trẻ giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn
ngữ tiếng việt tốt hơn
11
2.3.4 Biện pháp 4: Sử dụng các trò chơi để giúp trẻ hứng thú giao
2.3.5
Biện pháp 5: Sử dụng biện pháp luyện tập theo mẫu và
luyện từ khó giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ
thông
14
2.3.6
Biện Pháp 6: Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội để giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ
Trang 31.1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loàingười, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ bao gồmngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổivăn hoá giữa các dân tộc Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗidân tộc Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộcmình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt
để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấpgiáo dục, y tế, giải trí, thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúngbằng chữ Quốc ngữ Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm chonền văn hoá của người thiểu số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế
và vị thế của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việtanh em Có thể nói rằng “cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự làmột cộng đồng song ngữ”, tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt củangười Kinh
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, làngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm nonđến đại học Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu sốphụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh Phần lớn trẻ dân tộcthiểu số khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếngViệt
Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đihọc phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chungcủa trẻ V.I Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọngnhất của loài người Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đờisống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành ngườimột cách thực thụ Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xungquanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngônngữ trong môi trường nhất định
Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùngquan trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tưtưởng, tình cảm ; công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội
Thực tế cho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giaotiếp và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất
dễ dàng song đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòihỏi nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp.[1]
Đặc biệt ở trường mầm non Kỳ Tân chúng tôi các cháu 100% là dân tộcThái nghe và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến
Trang 4đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải làmột phương tiện sử dụng thường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số Ở đâyhọc sinh chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ratrẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình Chính vì vậydẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mongmuốn.
Bởi trong quá trình học ở các lớp dưới trẻ chưa thành thạo tiếng việt nênviệc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa hiểu hết những yêu cầu hay nhữngcuộc trò chuyện của cô nên chưa phát huy hết tính tích cực, chủ động của trẻ.Trẻ nói không rõ ràng về ngôn ngữ và kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ tiếng Việt củatrẻ còn khó khăn
Với tình hình thực tế của trẻ lớp tôi như vậy, bản thân tôi luôn trăn trở, suynghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm gì và làm như thế nào? bằngphương pháp gì? để giúp trẻ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy,chính vì điều băn khoăn trăn trở ấy bản thân tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài
“Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo A2 (5-6 tuổi) Trường mầm non Kỳ Tân, Huyện Bá Thước” để làm đề tài
nghiên cứu Nhằm giúp trẻ dân tộc thích được đến lớp và giao tiếp bằng tiếngViệt rõ ràng mạch lạc, để trẻ tự tin trong cuộc sống và hứng thú học tập, thamgia vào các hoạt động trong trường mầm non đạt kết quả tốt hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dântộc thiểu số lớp mẫu giáo A2 (trẻ 5-6 tuổi) Trường mầm non Kỳ Tân
Từ đó giúp trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ ràng và đầy đủ nhất và đó sẽ
là một lý do để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục đây cũng là một nềnmóng tốt cho trẻ phát triển một cách toàn diện
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫugiáo A2( 5-6 tuổi) Trường mầm non Kỳ Tân, Huyện Bá Thước, Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: trò chuyện với đồng nghiệp, nghiên cứu
sử dụng tài liệu, tham khảo sách báo, tạp chí, tập san, mạng internet
-Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Khảo sát trên trẻ quan sát thái độ,khả năng nhận biết của trẻ
-Phương pháp phân tích giảng giải dạy trẻ cung cấp kiến thức,kỹ năng chotrẻ…
Phương pháp thực hành trải nghiệm
Trang 5-Phương pháp thống kế, xử lý số liệu.
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
- Phương pháp tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Đối với sự phát triển nhân cách của trẻ mầm non nói riêng, của con người
và xã hội nói chung thì ngôn ngữ và giao tiếp có một ý nghĩa đặc biệt quantrọng Ngôn ngữ chỉ có ở con người và cũng chính từ lao động con người tiếnhóa từ vượn thành người và phát triển V.I.Lênin nói: “Ngôn ngữ là phương tiệngiao tiếp quan trọng nhất của con người” [ 2 ]
Ở lứa tuổi mầm non là thời kì phát cảm ngôn ngữ và giao tiếp, đây là giaiđoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ và các kĩ năngđọc viết ban đầu của trẻ Ở lĩnh vực này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà
ở các giai đoạn sớm hay muộn hơn không thể có được, Trẻ học nghĩa và cấu trúccủa từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân,hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết Cùng với quá trình lĩnhhội ngôn ngữ, trẻ còn lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng vàbiểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin với người khác và tiếp nhận, đáplại ý tưởng,thông tin của người khác
Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực pháttriển khác của trẻ Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩaquan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tuduy kí hiệu tượng trưng ở trẻ Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp vì thế ngônngữ cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực và kĩ năng xãhội của trẻ Trẻ không chỉ sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ thái độ, suy nghĩ, tìnhcảm của bản thân đối với mọi người xung quanh mà còn để tiếp nhận, hiểu thái
độ, suy nghĩ, tình cảm và giao tiếp của người khác Trình độ phát triển ngôn ngữ
và làm quen với đọc viết ban đầu còn góp phần quan trọng vào việc chuẩn bịcho trẻ học tập ở trường phổ thông cũng như sự thành đạt trong cuộc sống saunày của trẻ
Việc phát triển ngôn ngữ và giao tiếp phải được tiến hành một cách tíchhợp và tự nhiên bắt đầu từ những ý tưởng, kinh nghiệm gần gũi và có ý nghĩađối với trẻ Những kinh nghiệm của trẻ được biểu đạt trong một ngữ cảnh có nộidung Trẻ cần được làm quen với ngôn ngữ nói chữ viết trong ngữ cảnh cụ thể
và thông qua các loại hình hoạt động phong phú như nghe, đọc, kể chuyện, đọcthơ, tham quan, dạo chơi, quan sát các kí hiệu chữ viết, bảng biểu trong phòngnhóm, vui chơi, giao tiếp và các hoạt động khác trong học tập và sinh hoạt hàngngày Cha mẹ, giáo viên mầm non và người lớn xung quanh trẻ đóng vai trò
Trang 6quan trọng trong việc tạo dựng môi trường ngôn ngữ phong phú, tương tác vagiao tiếp cũng như các cơ hội cho sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ.
Đối với trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số thì về căn bản, học tiếng việtđối với các cháu là học ngôn ngữ thứ hai (tiếng việt phổ thông) Khi đi học mẫugiáo, trẻ em nói chung đã có vốn hiểu biết và kĩ năng ban đầu về hoạt động ngônngữ nói, biết sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng Thái) để giao tiếp hàng ngày Kinhnghiệm tiếng Thái (ngôn ngữ thứ nhất) có thể coi là nhân tố thuận lợi giúp trẻhọc tiếng việt (ngôn ngữ thứ hai) nếu có điều kiện thích hợp Trẻ mẫu giáo dântộc thiểu số khi học tiếng việt có những khó khăn như: Trẻ em bắt đầu học tiếngviệt trên cơ sở kinh nghiệm Thái Môi trường giao tiếp tiếng việt của trẻ em thuhẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trường mầm non) Trẻhọc tiếng việt chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ tiếng Thái và sự giao thoa ngôn ngữgiữa tiếng mường và tiếng việt Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc và sựkhác biệt về điều kiện sống của các nhóm dân tộc thiểu số có tác động nhất địnhđối với việc học tiếng việt của trẻ em mẫu giáo vùng dân tộc thiếu số
Vì thế việc giúp trẻ vùng dân tộc thiểu số phát triển ngôn ngữ tiếng việttrong giao tiếp là hết sức quan trọng và chúng ta là những người giáo viên mầmnon hàng ngày trực tiếp chăm sóc giáo dục các cháu phải làm tốt việc cho trẻđược giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ thông nhằm giúp trẻ không ngừngphát triển tư duy, trí tuệ, thể chất lẫn tinh thần hay nói một cách chung nhất đóchính là phát triển một cách toàn diện Như vậy giáo dục trẻ sẽ đạt được kết quảnhư mong muốn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: 2.2.1 Thuận lợi:
Lớp mẫu giáo A2 (5- 6 tuổi) bản thân phụ trách được đặt ở khu trung tâmnên phạm vi giao tiếp của trẻ được mở rộng có nhiều thuận lợi trong việc pháttriển ngôn ngữ cho trẻ
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường, nhiệt tình tâmhuyết bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để từng bước nâng cao chất lượngđội ngũ giáo viên trong toàn trường
Bản thân tôi là người dân tộc Thái nên khi giao tiếp với trẻ rất thuận lợi,
dễ gần gũi và trao đổi với phụ huynh người dân tộc
Tổng số cháu là 26 cháu, phần lớn các cháu ở khu dân cư, thôn bản lâncận
Bản thân đã được tiếp thu chuyên đề tăng cường tiếng việt cho trẻ em vùngdân tộc thiểu số từ năm 2012 và đến năm 2017 được tập huấn lại một lần nữa.[4]Một số trẻ đã được đi học từ nhà trẻ nên cũng đã có một số vốn từ
Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thích tham gia hoạt động
2.2.2 Khó khăn:
Trang 7Bên cạnh những thuận lợi trên thì bản thân còn gặp không ít những khókhăn trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và hoạt động phát triểngiao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt của trẻ nói riêng cụ thể như:
- Lớp có 26/26 cháu là người dân tộc, ngôn ngữ giao tiếp của trẻ chủ yếu
là tiếng thái, kể cả khi ở trường
- Giáo viên dạy ở các độ tuổi bé chưa tâm huyết với việc tăng cường tiếngviệt cho trẻ
- Giáo viên chưa biết cách xây dựng kế hoạch tăng cường tiếng việt cho trẻvùng dân tộc thiểu số
- Giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn các biện pháp, hình thức tổchức các hoạt động giáo dục tăng cường tiếng việt cho trẻ
- Đối với trẻ mới ra lớp ngôn ngữ nói tiếng việt của trẻ còn hạn chế trẻchậm chạp, nhút nhát, chưa tự tin, không thích giao tiếp với mọi người xungquanh
- Trình độ văn hóa của các bậc cha mẹ thấp, một bộ phận không biết đọc,biết viết nên khi ở nhà các cháu ít có cơ hội để giao tiếp với những người tronggia đình và cộng đồng bằng tiếng việt Nên công tác tuyên truyền cho các bậcphụ huynh về tăng cường tiếng việt cho trẻ còn chưa đạt hiệu quả cao
Để thực hiện tốt việc giúp trẻ mẫu giáo A2 (5-6 tuổi) người dân tộc thiểu
số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ thông đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt,sáng tạo trong hoạt động chăm sóc giáo dục, tổ chức đa dạng các hình thức giúptrẻ tích cực chủ động hoạt động khám phá lĩnh hội tri thức về phát triển ngônngữ tiếng việt phổ thông một cách hệ thống phù hợp với khả năng của trẻ ở lớp
Qua quá trình điều tra, Khảo sát thực trạng về khả năng của trẻ mẫu giáoA2 (5-6 tuổi) người dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổthông bằng cách trò chuyện, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ Bảnthân nhận thấy được kết quả thực trạng về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữtiếng việt phổ thông của trẻ ở lớp tôi phụ trách cụ thể như sau:
Kết quả khảo sát thực trạng ban đầu.
2 Nghe hiểu và làm theo 2-3 yêu
cầu liên tiếp bằng tiếng việt
268/26 30 18/26 70
3 Trẻ mạnh dạn tự tin diễn đạt suy 26 7/26 27 19/26 73
Trang 8nghĩ, bằng ngôn ngữ của mình.
4 Trẻ hứng thú tham gia hoạt
động
26 9/26 35 17/26 65
5 Trả lời và đặt các câu hỏi : Tại
sao? Như thế nào? Để làm gì?
số biện pháp của mình, hy vọng rằng qua những biện pháp đó giúp trẻ mẫu giáo5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốt để trẻ có thểđược phát triển một cách toàn diện, đặc biệt tạo cơ sở vững chắc để trẻ bước vàobậc học tiếp theo
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1.Biện pháp 1: Biện pháp xây dựng môi trường tiếng việt phong phú giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt.
- Đây là biện pháp hữu hiệu và cũng khá quan trọng trong việc giúp trẻvùng dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt, bởi vì trong biện phápnày giáo viên muốn làm tốt công tác xây dựng môi trường tiếng việt thì phải:Tạo được môi trường giao tiếp bằng tiếng việt và tạo được môi trường chữ viếttrong lớp học Đây là hai môi trường rất tốt giúp trẻ lĩnh hội được vốn từ vựngtiếng việt, từ đó giúp trẻ biết giao tiếp bằng tiếng việt phổ thông một cách tốtnhất Cụ thể tôi đã sử dụng biện pháp này như sau;
* Tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng việt:
- Tôi thường xuyên trò chuyện với trẻ thông qua các hoạt động ở mọi lúcmọi nơi về những chủ đề gần gũi trong cuộc sống Khuyến khích trẻ tham gia tròchuyện với cô và các bạn
Ví dụ: Trong giờ điểm danh, ngoài thời gian điểm danh gọi tên trẻ tôi sẽ dành
thêm thời gian để trò chuyện với trẻ về các lĩnh vực trong cuộc sống như: Hômnay các con được ai đưa đi học? (mỗi trẻ trả lời bằng câu trả lời riêng: Bố, mẹ,ông, bà… ), Bố, mẹ các con ở nhà làm gì? ( Làm ruộng, bán hàng,…) Hoặctrong giờ hoạt động chơi ở các góc, khi phân vai cho trẻ thì tôi cũng đóng vaichơi cùng với trẻ, tôi đến từng góc chơi và chơi cùng trẻ, giao tiếp với trẻ: Bácmua cái gì? Cái này bao nhiêu tiền? Hôm nay bác nấu món gì? giúp trẻ giao
Trang 9tiếp với cô và các bạn bằng ngôn ngữ tiếng việt thường xuyên trong mọi hoạtđộng Trong từng trường hợp tôi luôn chú ý sửa sai cho trẻ.
- Tôi luôn mở rộng và tích cực hóa các thành phần giao tiếp bằng ngônngữ tiếng việt với trẻ, như mời các cô giáo, các bậc phụ huynh (những ngườibiết tiếng việt) đến trò chuyện, giao tiếp với trẻ để tạo cơ hội cho trẻ được nghe
và nói
Ví dụ: Trong giờ sinh hoạt nhận xét bé ngoan cuối tuần, tôi mời cô Hiệu trưởng
đến trò chuyện với trẻ Cô Hiệu trưởng sẽ đến và hỏi thăm trẻ, trò chuyện với trẻmột cách cởi mở, trẻ sẽ được giao tiếp trong môi trường tiếng việt, được nghe vàđược nói sẽ mở rộng thêm được môi trường giao tiếp đối với trẻ
- Tôi đã tăng cường sử dụng các phương tiện hỗ trợ như: băng đĩa, máytính,… để trẻ được nghe và phân biệt âm thanh từ các giọng khác nhau
Ví dụ: Cho trẻ nghe kể chuyện trên băng đĩa, cho trẻ nghe các bài hát trên loa
đài, cho trẻ xem phim hoạt hình trên máy tính, …
- Tôi cũng đã tăng cường các hình thức mang tính chất cộng đồng, tập thểnhư: chơi trò chơi, văn nghệ, tập làm lớp trưởng, … để trẻ có cơ hội để thể hiệnmình
Ví dụ: Cho trẻ tập làm lớp trưởng, khi lên làm lớp trưởng thì trẻ phải nói to, rõ
ràng và điều hành được cả lớp trong một số hoạt động như: hô cả lớp đứngnghiêm, cho cả lớp chơi trò chơi Gọi 1-2 trẻ mạnh dạn lên trước sau đó khuyếnkhích những trẻ khác lên để được thể hiện mình giống bạn
* Tạo môi trường chữ viết trong lớp học: Đây là biện pháp giúp trẻ làm
quen với chữ viết tiếng việt, làm tiền đề cho việc phát triển ngôn ngữ tiếng việtphổ thông sau này.[5]
- Ở trong lớp tôi đã tăng cường các phương tiện, đồ vật xuất hiện chữnhư: Các góc chơi, các đồ dùng dạy học, các danh sách biểu bảng,… đều có chữ
để trẻ được làm quen
Ví dụ: Ở các góc lớp tôi đã sắp xếp các góc chơi và mỗi góc chơi đều có tên gọi
như góc văn học thì tôi đặt tên là: Bé kể chuyện sáng tạo
Góc âm nhạc tôi đặt tên là: Ca sĩ tí hon
Góc xây dựng tôi đặt tên là: Bé yêu xây dựng,
Góc học tập thì có tên là: Ai thông minh nhanh trí
Góc nấu ăn tôi đặt tên là: Đầu bếp nhí.,…
Tất cả những tên của các góc đó tôi đều viết bằng chữ cái in thường đểcho các cháu dễ nhận biết chữ và đễ tiếp xúc hơn trong quá trình học tập
- Tăng cường cho trẻ được tiếp xúc với chữ như “đọc” sách truyện tranh,
“đọc” họa báo, làm quen với các hoạt động “viết” như viết tên mình khi tập tô,
…
Trang 10- Khi sử dụng biện pháp này tôi nhận thấy trẻ rất tiến bộ và thích giao tiếpbằng ngôn ngữ tiếng việt hơn.
2.3.2.Biện pháp 2: Rèn kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt cho trẻ ở mọi hoạt động, mọi lúc mọi nơi.[6]
Đây là biện pháp rất tốt để trẻ học được các từ tiếng việt Trong chươngtrình hoạt động một ngày trên lớp của trẻ thì đối với nơi có nhiều người dân tộcthiểu số sinh sống thì chương trình hoạt động một ngày của trẻ ngoài các hoạtđộng chính khác như: Đón trẻ, chơi tự chọn, thể dục sáng, hoạt động học, hoạtđộng ở các góc chơi, … Thì còn có một hoạt động nữa khá quan trong trongviệc cung cấp tiếng việt cho trẻ giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốthơn đó chính là hoạt động “làm quen tiếng việt” sau hoạt động chơi ngoài trời
Đó là sự nghiên cứu rất sát thực với thực tế địa phương nên sở GD&ĐT đã đưavào chương trình hoạt động một ngày của trẻ nhằm mục đích giúp giáo viênmầm non sẽ cung cấp cho học sinh vùng dân tộc thiểu số những từ vựng tiếngviệt cơ bản để giúp cho quá trình giao tiếp của trẻ vùng dân tộc thiểu số nhanhchóng hòa nhập với ngôn ngữ tiếng việt phổ thông
Dựa trên cơ sở đó và đây cũng là một cơ hội để tôi đưa ra biện pháp dạytrẻ học từ vựng tiếng việt giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốt hơn
Trong hoạt động chung:
Ví dụ:
- Trong chủ đề “Trường mầm non”, đầu tuần thứ hai tôi sẽ chọn các từ:
“Con chào cô ạ”, “Tôi chào bạn”, “Hôm nay con đi học” để dạy cho trẻ Trên cơ
sở những từ có kế hoạch dạy trẻ để trẻ được mở rộng một số từ khác đa dạnghơn
- Mục đích của việc cho trẻ làm quen với các câu này là giúp trẻ nghe,hiểu và nói các câu đơn giản một cách rõ ràng Tôi cho trẻ xem tranh, chỉ vàotranh vẽ trẻ đang chào cô và hỏi: Tranh vẽ gì đây các con? Trẻ trả lời là: Bạnđang chào cô Vậy các con có biết chào cô như thế nào không? Trẻ trả lời: Conchào cô ạ!
- Cho trẻ nhắc lại “ Con chào cô ạ”
- Cho tổ, nhóm, cá nhân nhắc lại
- Cô đứng trước mặt 1 trẻ và nói: Tôi chào bạn!
- Cho trẻ nhắc lại “Tôi chào bạn”
- Cho trẻ lần lượt chào nhau
+ Cô hỏi: Con chào bạn như thế nào? Trẻ trả lời: Tôi chào bạn!
- cho trẻ trả lời và nhắc lại nhiều lần
- Tôi chỉ vào tranh khác và hỏi: Các bạn đi đâu? Trẻ trả lời: Các bạn đang đi học
- Tôi lại hỏi: Còn con hôm nay đi đâu? Trẻ trả lời: Hôm nay con đi học
- Cho tổ, nhóm, cá nhân trẻ nhắc lại nhiều lần
Trang 11Với biện pháp này giáo viên có thể xây dựng được rất nhiều vốn từ vựngtiếng việt mới cho trẻ làm quen và học Mỗi ngày cho trẻ làm quen và học được
từ mới rồi phát triển lên thành câu mới, ngoài ra trẻ còn được làm quen với một
số từ khác như: Các bạn đang đi học, bạn đang chào cô,… Như vậy xuyên suốtquá trình học trên lớp trẻ sẽ có cơ hội học được khá nhiều vốn từ tiếng việt màgiáo viên giảng dạy Vì vậy khi dùng biện pháp này tôi nhận thấy đây là một cơhội giúp tôi có biện pháp giúp các cháu phát triển ngôn ngữ tiếng việt để có thểgiao tiếp một cách thành thạo tiếng việt
Hoạt động đón, trả trẻ: Cô Luôn động viên và nhắc trẻ tràocô giáo, bố
mẹ và những người xung quanh, hỏi trẻ ai đưa con đi học, hôm nay ai đón con( để kích thích trẻ nói tiếng phổ thông.)
Hoạt động góc: Khi trẻ chơi ở các nhánh như gia đình, bán hàng Cô cho
trẻ chơi giao lưu các góc với nhau và luôn nhắc trẻ nói tiếng phổ thông, luôn chú
ý phiên tiếng cho trẻ
Ví dụ : Cô hỏi đến bên trẻ hỏi con đang làm gì thế, cháu Dung trả lời con
đang ủm nọng cô nhắc lại tiếng phổ thông con nói lại là con đang bế em, cô chotrẻ nhắc lại
Hoạt động ngoài trời: Trẻ đang hứng thú tham gia qua sát ngôi nhà sàn
cô nhìn thấy cháu Loan đang không tập chung cô hỏi trẻ cháu sao vậy, cháuLoan trả lời cháu nhớ nọng, cô nhắc trẻ nói lại là cháu nhớ em bằng tiếng phổthông
Hoạt động chơi (chiều ) : Các trẻ đang tham gia chơi trong nhà bóng thì
cháu Anh, Nam, Quân, Bằng đã tung những quả bóng bị rơi ra ngoài ngay lúc đó
có em lớp bé đi qua các cháu liền gọi nọng ơi lấy quả bóng cho anh với Tôi đếnbên va nhắc trẻ phải nói là em ơi lấy quả bóng cho anh với và cho trẻ nhắc lại.Khi trẻ vào lớp cô nhắc trẻ từ tiếng thái chúng ta nói nọng nhưng các con nóichuyện phải với nhau phải nói là em bằng tiếng phổ thông Các con nhắc lại
- Đây là biện pháp yêu cầu giáo viên luôn luôn phải quan sát và để ý đếntrẻ Nghĩa là trong mọi hoạt động của trẻ cô giáo đều phải chú ý quan tâm, nhắcnhở trẻ thường xuyên và rèn cho trẻ có thói quen giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếngviệt, tránh để trẻ giao tiếp lạm dụng bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ với nhau Khi
đó giáo viên có thể sửa sai cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi và ở mọi hoạt động
Ví dụ: Khi thấy các cháu giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
tôi sẽ nhắc nhở trẻ để trẻ nhận thấy việc giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổthông là việc cần thiết: Các con phải nói chuyện với nhau bằng tiếng việt vì khicác con đi ra ngoài xã hội các con phải nói bằng tiếng việt phổ thông thì tất cảmọi người mới hiểu các con nói cái gì và muốn cái gì Nếu các con nói chuyệnvới nhau bằng tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ) thì chỉ có những người dân tộc của