Giáo dục đào tạo của nước ta ngày nay đang có những bước phát triểnmạnh mẽ trên con đường hội nhập, nhưng cũng có những biểu hiện rất đáng longại đó là vấn đề đạo đức nhà giáo, đạo đức h
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Giáo dục đào tạo của nước ta ngày nay đang có những bước phát triểnmạnh mẽ trên con đường hội nhập, nhưng cũng có những biểu hiện rất đáng longại đó là vấn đề đạo đức nhà giáo, đạo đức học sinh, sự gia tăng về các tệ nạn
xã hội ở nhiều lứa tuổi khác nhau…., đặc biệt là đối với học sinh nữ nói chung
và học sinh nữ vùng dân tộc thiểu số nói riêng, các em là đối tượng dễ bị tổnthương nhất về tâm sinh lí và tinh thần Ngày nay, khi xem qua các trang mạng
xã hội không khó để chúng ta có thể tìm các trang website có chứa những đoạnvideo về bạo lực học đường có liên quan đến học sinh nữ, hoặc học sinh nữ bịlợi dụng tình dục, phải bỏ học và những vụ việc ấy không chỉ diễn ra với họcsinh miền xuôi mà với cả học sinh miền núi và đặc biệt là học sinh người dântộc thiểu số Sự bùng nổ về thông tin, mạng xã hội các em có sự giao lưu giaotiếp trên những diễn đàn mà ở đó sự phân biệt đúng sai của các em chưa thật sự
rõ ràng, sự thiếu hiểu biết của các em về kĩ năng sống cũng như thiếu sự địnhhướng đúng đắn của gia đình, giáo viên và cả các tổ chức xã hội, đã dẫn đếnnhững hệ lụy vô cùng to lớn
Đứng trước những vấn đề liên quan đến công tác hỗ trợ chăm sóc tâm lí chohọc sinh Ngày 18/12/2017, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư số31/2017/TT-BGDĐT về việc hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí chohọc sinh ở các trường phổ thông Thông tư đã nêu rõ những nội dung và hìnhthức thực hiện công tác tư vấn cho học sinh nhưng để thực hiện được công tác tưvấn cần phải có các nhà tư vấn chuyên nghiệp mà trong thực tế hầu hết cáctrường học đều chưa có Bởi vậy nhiệm vụ hỗ trợ tâm lí cho học sinh đặc biệt làhọc sinh nữ chủ yếu là giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách công tác Đội Riêng đối với học sinh nữ người dân tộc số thiểu số khi lên học bậc THCS
ở các trường bán trú, con đường đến với cái chữ của các em đầy gian nan và vất
vã, khi bước vào cái tuổi đầy biến động về cơ thể và tâm lí thì các em lại phảisống xa gia đình, phải ở lại bán trú tại trường để theo học, do khoảng cách từnhà đến trường của các em có nơi đến 20 km đường rừng núi, chủ yếu là đi bộ,các em đã phải tự thân lo hết mọi việc Vì những lí do đó mà có nhiều em khôngthể tiếp tục theo học, bỏ học giữa chừng; một số em phải ở nhà để lo việc giađình như chăn bò, chăn dê hoặc đi lấy chồng
Là một giáo viên đã và đang công tác tại huyện vùng cao Mường Lát, tỉnhThanh Hóa, đây là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước và xa nhất tỉnh Toànhuyện có 6 đồng bào dân tộc cùng sinh sống, với tỷ lệ hơn 90% là đồng bàongười dân tộc thiểu số Tôi nhận thấy rằng, giáo dục học sinh không phải chỉ làdạy cho các em về kiến thức, mà còn phải giúp các em hình thành nhân cách;không chỉ là dạy chữ mà còn phải dạy người Vì lẽ đó mà sự nghiệp giáo dụcđược mệnh danh là "trồng người" Đứng trước những khó khăn vất vã của họcsinh, trăn trở trước một thực tại là học sinh nữ trong trường PTDTBT THCSTam Chung đang phải chịu rất nhiều thiệt thòi về đời sống vật chất cũng nhưtinh thần Về đời sống vật chất của các em, nhà nước đã có nhều chính sách
Trang 2quan tâm hỗ trợ nên phần nào cũng được cải thiện Tuy nhiên, đời sống tinh thầncủa các em vẫn còn rất nhiều vấn đề mà các em đang gặp phải, đó là những vấn
đề về sự phát triển tâm sinh lí, vấn đề về sử dụng mạng xã hội, vấn đề về ngônngữ và phong tục tập quán
Để có thể giúp các em vượt qua khoảng thời gian đầy khó khăn biến độngcủa tuổi dậy thì Vượt qua những rào cản về tâm lí, những vướng mắc về tinhthần để các em có thể vững bước đến trường Tôi cũng như các đồng nghiệp củamình luôn luôn suy nghĩ tìm tòi, tự bồi dường thường xuyên để nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt trong đó tôi đã áp dụng hết sức hiệu quảnhững giải pháp trong Module 11 THCS “ Chăm sóc hỗ trợ tâm lí học sinh nữ,học sinh dân tộc thiểu số trong trường THCS” vào thực tế nhà trường đặc biệt làvấn đề chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho học sinh nữ người dân tộc thiểu số
Bởi vậy tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc, hỗ trợ tâm lí học sinh nữ người dân tộc thiểu số ở trường PTDTBT THCS Tam Chung” với mong muốn được chia sẽ cùng đồng nghiệp
những giải pháp của mình và nhận được những góp ý bổ sung để tôi có thể tiếptục có những giải pháp phù hợp hơn nữa giúp đỡ học sinh thân yêu của mình
2 Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc chăm sóc hỗtrợ học sinh nữ người dân tộc thiểu số ở trường PTDTBT THCS
3 Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh nữ trường PTDTBT THCS Tam Chung
- Các giải pháp của giáo viên trong việc chăm sóc hỗ trợ học sinh nữ ngườidân tộc thiểu số ở trường PTDTBT THCS Tam Chung
4 Phương pháp nghiên cứu.
Lập kế hoạch, nghiên cứu, tìm hiểu tư vấn, lấy phiếu điều tra, hỗ trợ, đàmthoại Phân tích tổng hợp, tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
* Một số khái niệm về chăm sóc hỗ trợ tâm lí học sinh:
“Chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho học sinh THCS là quá trình tác động có chủđịnh của thầy cô giáo đến trẻ em nhằm giúp các em vượt qua những rào cản vềtâm lí trong cuộc sống cũng như tham gia vào các hoạt động ở trường, gia đình
Trang 3Mục đích quan trọng nhất của việc chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho học sinh là:Phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phảikhó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp,giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáodục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường.
Về tâm lí độ tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 đến
15 tuổi Đây là độ tuổi có vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển của con người,
là thời kỳ phát triển phức tạp, người ta gọi là thời kỳ quá độ từ thơ ấu sang độtuổi trưởng thành và gọi là thiếu niên Ở độ tuổi này, học sinh có sự phát triểnmạnh mẽ nhưng thiếu cân đối về mặt trí tuệ, đạo đức và luôn tồn tại song songđặc điểm của cả trẻ em và người lớn, các em muốn chứng tỏ mình là người lớn,được đối xử như người lớn
Đối với học sinh người dân tộc thiểu số, ngoài những đặc điểm chung vềtâm lí lứa tuổi các em còn có những đặc điểm riêng như: Đặc điểm về tri giác:học sinh dân tộc thiểu số có độ nhạy cảm thính giác, thị giác cao, giác quan tinhnhạy nhưng quá trình tổng hợp, khái quát để đi đến nhận xét chung lại rất hạnchế Đặc điểm về tư duy, ngôn ngữ, trí nhớ: vốn Tiếng Việt của học sinh dân tộcthiểu số còn nghèo nàn Gây khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ trong giaotiếp và học tập Đặc điểm về tình cảm và giao tiếp xã hội: Học sinh dân tộc thiểu
số gặp khó khăn trong việc thể hiện mình bằng lời nói Các em hay xấu hổ, nhútnhát trong việc trao đổi thông tin với thầy, cô gây ảnh hưởng lớn đến việc tiếpthu kiến thức của các em
Trong khi đó vấn đề học sinh người dân tộc thiểu số là vấn đề luôn đượcĐảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm Ngày 5-3-2009, Bộ Chính trị (khoá X) đã
tổ chức Hội nghị và ban hành Thông báo Kết luận “Về tiếp tục thực hiện Nghịquyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục – đào tạođến năm 2020” với một số điểm cơ bản trong đó nhấn mạnh Công bằng xã hộitrong giáo dục được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ em gái, người dân tộc thiểu số
và con em các gia đình nghèo, giáo dục cho các đối tượng thiệt thòi ngày càngđược chú trọng Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa tiếp tục phát triển
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm.
Thực trạng đời sống tâm lí học sinh THCS ngày nay nói chung đang cónhiều vấn đề hết sức đáng lo ngại “Ngoài xã hội, các em phải đối mặt vớinhững cám dỗ của các trò chơi, các trang thông tin mạng,… Và bản thân các emcũng phải lúng túng với những vấn đề mới nảy sinh: những thay đổi về tâm sinh
lý, tình yêu tuổi học trò, … Cá biệt, có những em vấp phải vấn đề nghiêm trọnghơn:lệch lạc về giới tính, bạo hành gia đình, tệ nạn xã hội,… Đối diện với nhữngvấn đề phức tạp đó, rất nhiều em sẽ không biết nhìn nhận, giải quyết vấn đề nhưthế nào cho hợp lý”[2] Bởi vậy nhiều học sinh có thể trở nên hung hăng sẵnsàng đánh nhau hoặc kết bè, kéo cánh để đánh bạn chỉ vì những mâu thuẫn nhỏtrong cuộc sống Một số em bị lạm dụng tình dục, cũng có khi các em quan hệvới bạn cùng lớp dẫn đến có thai phải nghỉ học
Trang 4Đối với học sinh trường PTDTBT THCS Tam Chung, các em chủ yếu là
ở giai đoạn tuổi dậy thì, đây cũng là lúc đa phần các em phải xa gia đình ở lạibán trú tại trường, các em bắt đầu phải tự mình lo cho bản thân trong khi đó bảnthân các em lại có rất nhiều rào cản, cụ thể như rào cản về khả năng giao tiếp vàkhả năng hòa nhập trong môi trường bán trú
Với đề tài này, tôi đã nghiên cứu từ năm học 2016-2017 và cùng với đồngnghiệp tiến hành khảo sát, tìm hiểu, vận dụng, chia sẻ kinh nghiệm trong toàntrường, trong đó có lớp 6B do tôi chủ nhiệm Cụ thể về khảo sát thực trạng củacác em học sinh như sau:
1 Bảng thăm dò về khả năng giáo tiếp của học sinh với bạn bè và thầy cô trong trường của học sinh nữ lớp 6B năm học 2016-2017.
Khả năng giao tiếp Số lượng học sinh/ tổng
Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm lớp không chỉ cần đảm bảo tốt nhiệm vụ chuyên
môn mà còn là chỗ dựa tinh thần cho học sinh khi xa gia đình “Mặc dù không
phải là nhà tư vấn chuyên nghiệp nhưng chính cách ứng xử, xử lí tình huống củagiáo viên, sự thông cảm, yêu thương của cô giáo cũng chính là động lực để các
em vượt qua những vấn đề khó khăn về tâm lí”[2]
Trang 5con người đều có hoàn cảnh, có tâm sự, có tình cảm, tính cách khác nhau chonên việc am hiểu các em và tìm biện pháp giáo dục thích hợp” [3].
Để có thể nắm bắt được những đặc điểm tâm lí nổi bật của học sinh giáoviên trường PTDTBT THCS Tam Chung đã áp dụng có hiệu quả những giảipháp trong Bồi dưỡng thường xuyên, Modun 11 bậc THCS và những giải phápmang đặc điểm riêng của nhà trường như sau:
3.1.1 Tìm hiểu về những phong tục tập quán, đặc điểm tâm sinh lí của đồng bào dân tộc thiểu số nơi mình đang công tác.
Đây là việc làm đầu tiên hết sức quan trọng đối với giáo viên như tôi làngười miền xuôi lên công tác tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có đồng bàodân tộc thiểu số sinh sống Giáo viên trước khi muốn hiểu và chia sẽ với các emphải hiểu được phong tục tập quán của dân tộc các em trước Vì vậy, để tìm hiểu
về những phong tục tập quán, bản thân đã tự nghiên cứu, tìm hiểu qua sách vở,báo trí, trong đó có báo Thiếu niên dân tộc thiểu số Đây là Tờ báo có rất nhiềunhững bài viết hay chia sẽ nhiều vấn đề về đời sống, sinh hoạt, văn hóa… củahọc sinh người dân tộc thiểu số, thông quá đó mà giáo viên có thể hiểu hơn vềhọc sinh của mình Ngoài ra, giáo viên còn có thể tìm hiểu phong tục tập quáncủa đồng bào các dân tộc nơi mình đang công tác qua đồng nghiệp của mìnhnhững người đã từng công tác lâu năm, những đồng nghiệp là người dân tộcthiểu số….Khi đã có một vốn kiến thức nhất định về phong tục tập quan của dântộc các em thì giáo viên có thể tiếp xúc trao đổi với các em một cánh dễ dànghơn
3.1.2 Tìm hiểu nắm bắt đặc điểm tâm lí học sinh nữ trong lớp chủ nhiệm và trong trường.
Tìm hiểu, nắm bắt tâm sinh lí học sinh là vấn đề quan trọng, quyết địnhviệc hỗ trợ tư vấn cho học sinh Chỉ khi giáo viên nắm bắt được những đặc điểmtâm sinh lí của học sinh thì giáo viên mới có thể có những giải pháp phù hợp,trong khi đó, giáo viên công tác tại trường dân tộc bán trú luôn được nhà trườngphân công thêm nhiệm vụ tư vấn hỗ trợ tâm lí cho học sinh không chỉ là họcsinh lớp mình chủ nhiệm mà còn là học sinh ở phòng kí túc xá giao cho giáoviên quản lí Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm lớp còn phối hợp với giáo viênlàm công tác Đội phát hiện và tư vấn tâm lí cho các em Do đó, giáo viên phải
có những giải pháp phù hợp cho từng đối tượng học sinh
Để tìm hiểu, nắm bắt tâm lí học sinh nữ ở trường, tôi đã kết hợp nhiều giảipháp khác nhau, bằng nhiều kênh thông tin, nhiều lĩnh vực khác nhau để hiểuhọc sinh của mình hơn, để giáo dục tốt hơn và có những tác động kịp thời hỗ trợcác em vượt qua những rào cản về tâm lí, lứa tuổi Tôi đã áp dụng các giải phápnhư sau:
- Tìm hiểu tâm lí học sinh qua quá trình thu thập thông tin cần thiết về họcsinh về nhiều nguồn lĩnh vực khác nhau Trước hết lấy nguồn thông tin học sinh
ngay từ đầu cấp học qua Phiếu điều tra học sinh Kênh này sẽ giúp cho giáo
viên có nguồn thông tin tổng hợp để theo dõi tâm lí của học sinh trong suốt quátrình học tập tại trường
Trang 6Từ những thông tin thu thập được qua phiếu điều tra ta có thể lấy được rấtnhiều nguồn thông tin về các em như: sở thích, nguyện vọng, mơ ước… từ đóthấy được phần nào tính cách của các em Hơn nữa, khi nắm được người mà emkính trọng thân thiết thì có thể phối hợp với người đó để hỗ trợ tâm lí cho các
em khi cần thiết
- Sau khi thu thập được nguồn thông tin học sinh trong lớp học và trong
phòng kí túc mà mình quản lí thông qua Phiếu điều tra Từ đó, có thể nhận ra
những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng của học sinh về tâm sinh lí củacác em
Từ những ngày đầu tiên, học sinh bước vào lớp 6, giáo viên đã chủ độngthống kê thông tin học sinh trong lớp học, đặc biệt chú ý quan tâm nhiều đến đốitượng học sinh nữ, cần tổng hợp các nội dung như: họ tên học sinh; người dântộc, độ tuổi và đặc điểm tâm lí của các em thông qua tiếp xúc với các em trênlớp trong các tiết sinh hoạt lớp hoặc các hoạt động chung của lớp để nắm đượcđặc điểm cá nhân của các em Để nắm bắt những đặc điểm cá nhân của các emgiáo viên chủ nhiệm có thể qua những buổi tiếp xúc với các em ở trên lớp
1 Danh sách đặc điểm cá nhân của học sinh nữ người dân tộc thiểu số
Trang 75 Giầng Thị Gống Mông 12 - Ngoan ngoản, chăm chỉ.
- Nhút nhát, ít nói.
6 Hà Ngọc Mai Thái 12 - Ngoan ngoản , Chăm chỉ, tích cực
tham ra các hoạt động của lớp.
7 Vị Thị Ngọc Thái 12 - Năng động, tích cực
8 Sùng thị Tồng Mông 13 - Ngoan ngoản nhưng chưa chăm
chỉ, ít nói, hay vắng học.
9 Giàng Thị Dua Mông 12 - Ngoan ngoản, ít nói
10 Hầu Thị Kia Mông 13 - Ngoan ngoản, ít nói
11 Giàng Thị Dế Mông 12 - Ngoan ngoản, dễ gần
12 Hà Thị Phương Thái 12 - Ngoan ngoản, chăm chỉ
13 Lí Thị Mai Mông 12 - Ngoan ngoản, khó gần.
2 Danh sách đặc điểm cá nhân của học sinh nữ phòng ở kí túc xá, phòng 9.
1 Giàng Thị Dợ Mông 9A Ngoan ngoản, chăm chỉ,dễ gần.
2 Sùng Thị Chơ Mông 7B - Ngoan ngoản, chăm chỉ
- Ít nói
3 Sùng Thị Chu Mông 7B - Ngoan ngoản, chưa chăm chỉ.
- Nhút nhát.
4 Sùng Thị Mái Mông 7A - Ngoan ngoản, nhút nhát
5 Tráng Thị Xinh Mông 9A -Ngoan ngoản, chăm chỉ
6 Sùng Thị Tấu Mông 9B - Ngoan ngoản chăm chỉ có năng
khiếu văn nghệ.
7 Giàng Thị Cha Mông 6A - Ngoan ngoản, ít nói.
8 Sùng Thị Vua Mông 7A - Ngoan ngoản, ít nói.
Từ phiếu điều tra cũng như việc thống kê số học sinh nữ trong lớp trongtrường giáo viên có thể nhận thấy được học sinh người dân tộc thiểu số ở mỗimột dân tộc khác nhau các em lại mang những đặc điểm riêng về tính cách màgiáo viên có thể nhận biết Đối với các em học sinh nữ người dân tộc Thái,Mường các em rất nhanh nhẹn và dễ gần gũi Nhưng ngược lại, đối với các emhọc sinh người dân tộc Mông lại rất nhút nhát, không cởi mở Bởi vậy, giáoviên cần phải tìm hiểu nguyên nhân và có những giải pháp cụ thể, phù hợp với
các đối tượng học sinh
- Nắm bắt những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh thông qua phụ huynh vàbạn bè của học sinh Những buổi họp phụ huynh không chỉ là cơ hội để giáoviên hiểu hơn về hoàn cảnh gia đình học sinh mà còn là điều kiện rất tốt để giáoviên có thể thu thập nguồn thông tin quan trọng về học sinh của mình Giáo viên
có thể hỏi trực tiếp phụ huynh về tính cách những vấn đề của con em họ và cóthể xử dụng Phiếu điều tra để thu thập thông tin học sinh ngay trong buổi họpphụ huynh đầu năm Ngoài việc thu thập thông tin mà phụ huynh cung cấp, giáoviên còn có thể thu thập thêm thông tin từ những người bạn thân mà các emthường chơi với nhau Đây là những nguồn thông tin quan trọng, chính xác vàhiệu quả
- Tiến hành phỏng vấn học sinh Nhìn chung, về tính cách và tâm lí của các
em là rất hiền lành thật thà, chất phác, trung thực Thông qua các buổi nói
Trang 8chuyện trực tiếp với các em ở trên lớp và ngoài lớp, giáo viên có thể chia sẽnhững tâm tư tình cảm của mình với thầy cô giáo, từ đó, nắm bắt và giải quyếtkịp thời những vướng mắc mà các em đang gặp phải.
3.2 Phát hiện những vấn đề mà các em đang gặp phải.
3.2.1 Rào cản về ngôn ngữ.
Học sinh ở các huyện vùng cao miền núi đa phần là người dân tộc thiểu số,mặc dù các em đã học THCS, nhưng nhiều em nói tiếng phổ thông còn chưa rõràng, dẫn đến các em ngại nói chuyện với cô thầy và bạn bè; một số em sử dụngcâu, từ tiếng phổ thông chưa hiểu hết nghĩa, nên khi nói sai, sợ các bạn chê cười,
từ những lí do đó mà các em ngày càng trở nên trầm tính và sống khép kín Đây
là một trong những vấn đề rất cần có những giải pháp phù hợp để các em hòanhập với cả lớp
3.2.2.Vấn đề về sự phát triển tâm sinh lí và giới tính.
Như đã nói ở các phần trên học sinh khi bước vào THCS cũng là thời kì các
em bước vào tuổi dậy thì Ở lứa tuổi này học sinh có sự phát triển mạnh mẽnhưng thiếu cân đối về mặt trí tuệ, đạo đức Trong các em tồn tại song song đặcđiểm của cả trẻ con và người lớn Các em muốn chứng tỏ mình là người lớn,được đối xử như người lớn Có rất nhiều vấn đề các em thắc mắc nhưng lại xấu
hổ không biết hỏi ai
* Về mặt sinh lý:
Ở độ tuổi dậy thì, là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều.Tầm vóc các em lớn khá nhanh, hệ xương phát triển mà chủ yếu là xương ốngtay, xương ống chân, xương ngón tay, ngón chân phát triển chậm vì thế thiếu sựcân đối Sự phát triển hệ tim mạch cũng không cân đối Hệ thần kinh của các emchưa có khả năng chịu đựng kích thích mạnh mẽ hoặc đơn điệu kéo dài Các
em sẽ gặp rất nhiều bối rối, bỡ ngỡ thậm chí là sợ hải khi đối mặt với nhữngthay đổi của cơ thể mình Tuy nhiên, đối với học sinh dân tộc miền núi lại có sựphát triển cơ thể chậm hơn so với học sinh miềm xuôi và thành phố về chiềucao, cân năng, theo thông kê số liệu thu tập được trong nhà trường thì cân nặngphổ biến của các em ở lớp 6 là từ 20- 30 kg, lớp 7 là từ 23 – đến 35 kg Vì vậy,giáo viên cần phải có sự theo dõi phát hiện những thay đổi mặt sinh lí của các
em để có các giải pháp phù hợp
* Một số vấn đề về tâm lý của thiếu niên.
Đây là thời kì mà các em có sự phát triển mạnh mẽ về mặt tâm lí Có khảnăng phân tích, tổng hợp khi tri giác các sự vật, hiện tượng Trí nhớ của các emphát triển mạnh, đặc biệt là trí nhớ có chỉ định Khối lượng ghi nhớ được tănglên Khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa trừu tượng hóa ở các em pháttriển mạnh Nhu cầu khẳng định mình của các em phát triển mạnh mẽ, các emrất muốn được chứng minh, thể hiện mình trước mọi người Các em có nhu cầulớn trong giao tiếp với mọi người Có khát vọng được bạn bè thừa nhận, tôntrọng Các em đã bắt đầu quan tâm đến tình bạn khác giới Điều này ảnh hưởngđến tính ngượng ngùng, e thẹn của các em Bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đếnbản thân, đến những phẩm chất của mình Các em có nhu cầu tự đánh giá và so
Trang 9sánh mình với người khác Tình cảm ở lứa tuổi này phức tạp hơn, các em dễ xúcđộng, dễ bị kích động, tình cảm mang tính chất bồng bột, khả năng kiềm chế cònkém.
Trên thực tế lớp học giáo viên có thể nhận thấy Sự thiếu tập chung lơđãng trong học tập, chải chuốt trong trang phục, dễ giận dỗi, khóc lóc
3.2.3 Những vấn đề về phong tục tập quán.
Đối với học sinh ở trường PTDTBT THCS Tam Chung các em sinh ra lớnlên ở khu vực núi cao, dân tộc ở đây chủ yếu là Mông, Thái, Mường Các emcũng mang theo trong mình những phong tục tập quán và những quan niệm sốngriêng của đồng bào mình Đặc biệt đối với học sinh nữ là người dân tộc Môngcác em phải chịu rất nhiều thiệt thòi bởi những quan niệm hủ tục, lạc hậu, khôngcho con gái đi học, họ quan niệm con gái lớn lên đi lấy chồng, thành người nhàkhác làm cho người khác Các em có thể lấy chồng theo tục bắt vợ khi đang ở độtuổi vị thành niên và điều đáng nói là các em thường chấp nhận phong tục đónhư một điều đương nhiên
3.2.4 Vấn đề tình bạn, tình yêu.
Vấn đề tình bạn, tình yêu luôn là vấn đề hết sức nhạy cảm đối với học sinh
ở lứa tuổi bậc THCS, khi các em bước vào tuổi dậy thì, cũng là lúc các em cónhững rung động đầu đời và đa phần các em đều nghĩ đó là tình yêu Các em bắtđầu suy tư nhung nhớ và thần tượng một bạn khác giới nào đó Rất nhiều họcsinh tâm sự với giáo viên rằng bạn A yêu bạn B Khi hỏi sao em biết các bạn ấyyêu nhau thì các em lại trả lời thấy bạn A mua quà 8/3 cho bạn B Bởi vậy, đây
là trong những vấn đề hết sức quan trọng mà giáo viên cần phải có những nắmbắt kịp thời và có những can thiệp hợp lí để các em có những nhận thức đúngđắn về tình bạn và tình yêu của lứa tuổi học trò
3.3 Một số giải pháp chăm sóc hỗ trợ tâm lí học sinh nữ ở trường PTDTBT THCS Tam Chung.
3.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục mang tính cụ thể hóa cho học sinh toàn trường, lớp và cá nhân học sinh gặp khó khăn.
Năm học 2017-2018, Trường PTDTBT THCS Tam Chung có 10 lớp/ 342học sinh, số học sinh nữ có 139, trong đó số học sinh nữ dân tộc thiểu số chiếm100%, cụ thể: học sinh nữ dân tộc Mông có 86 em, Thái 45 em và Mường có 8em
Ngay khi bước vào đầu năm học mới, Ban giám hiệu nhà trường đã thànhlập Tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh Thành phần tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh gồm: Đạidiện lãnh đạo nhà trường làm tổ trưởng; thành viên của tổ tư vấn bao gồm giáoviên chủ nhiệm lớp, nhân viên y tế học đường, giáo viên phụ trách công tácĐoàn, Đội, đại diện cha mẹ học sinh và một số học sinh là cán bộ lớp Sau khithành lập tổ tư vấn, nhà trường đã xây dựng Kế hoạch và phân công nhiệm vụđến từng thành viên về nhiệm vụ chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho học sinh Căn cứvào Kế hoạch của nhà trường, mỗi thành viên trong tổ đều phải lên kế hoạch cánhân cụ thể và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc tổ chức các hoạt động như:hoạt động ngoài giời lên lớp, các tiết sinh hoạt dưới cờ theo các chủ đề, chủ
Trang 10điểm Đối với học sinh gặp vấn đề khó khăn về tâm lí giáo viên cần có kế hoạch
tư vấn cụ thể cho từng trường hợp để có thể đạt hiệu quả cao
3.3.2 Khuyến khích các em sử dụng tiếng phổ thông thường xuyên
Đây là việc làm tưởng chừng như không liên quan gì tới việc chăm sóc hỗtrợ tâm lí học sinh, nhưng đó lại là một việc làm vô cùng quan trọng tác độngđến sự phát triển tâm sinh lí, khả năng giao tiếp của học sinh Đối với các emhọc sinh người dân tộc thiểu số, việc sử dụng tiếng phổ thông là ngôn ngữ thứhai của các em, nên khả năng giao tiếp, sử dụng tiếng phổ thông của các em rấthạn chế Do đó, giáo viên cần làm tốt công tác tuyên truyền và làm cho các emhiểu được vê tầm quan trọng của tiếng phổ thông, các em cần phải sử dụngthành thạo tiếng phổ thông, đây là ngôn ngữ của quốc gia, có như vậy, các emmới có thể tiếp thu được bài học Bên cạnh đó, giáo viên cần phải thường xuyêngặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc, nói chuyện với các em, khuyến khích các em sử dụngtiếng phổ thông mọi lúc, mọi nơi Trong quá trình nói giao tiếp với học sinh,giáo viên cần chỉnh sửa lại những lỗi khi học sinh nói không đúng và hiểu sai vềngữ nghĩa của từ và câu Ví như các em thường sử dụng câu: “Em không được
làm” với ý nghĩa là em không làm Như em không được học bài cũ: Có nghĩa là
em không học bài cũ Em không được làm vệ sinh lớp: Có nghĩa là em không
làm trực nhật, Hay “Bố em đi thuê” có nghĩa là bố em đi làm thuê…
Như ở lớp 6B năm học 2016-2017, có 3 em (Giàng Thị Gống, em Sùng ThiTồng và em Giàng Thị Dế) học sinh dân tộc Mông bản Ón, khi các em mới vàotrường, cô giáo chủ nhiệm lớp hỏi chuyện các em không nói, không trả lời, côgiáo phải nhờ một bạn trong lớp hỏi bằng tiếng dân tộc Mông thì em mới trả lời
và nói chuyện với bạn Khi bị các bạn khác trêu trọc các em chỉ biết khóc màkhông nói gì Qua tìm hiểu cô giáo nhận thấy mặc dù các em có sử dụng đượctiếng phổ thông nhưng vốn từ của em còn ít, lần đầu tiên khi gặp cô giáo mớinên em không tự tin để nói chuyện
Với những trường hợp như em Gống, em Tồng và em Dế, giáo viên khôngnên vội vàng yêu cầu em ấy nói tiếng phổ thông mà hãy cởi mở, chủ động bắtchuyện với em tạo cho em sự tin tưởng, an toàn khi nói chuyện với cô giáo Bêncạnh đó, trong các tiết học, giáo viên yêu cầu tất cả học sinh khi vào lớp khôngđược sử dụng tiếng của dân tộc mình để trao đổi, tất cả phải sử dụng tiếng phổthông; khuyến khích các em thường xuyên đọc sách báo, sách truyện Sau mộtthời gian gần gũi, các em đã bắt đầu chủ động nói chuyện bằng tiếng phổ thôngvới những câu đơn giản với các thầy cô trong trường Năm học 2017-2018,nhiều em sau khi lên lớp 7 đã nói tiếng phổ thông khá tự tin, thành thạo, luônsẳn sàng giao tiếp với bạn bè và thầy cô giáo
3.3.3 Khuyến khích học sinh nữ tham ra, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao
Điều đặc biệt với các học sinh người dân tộc thểu số các em rất có năngkhiếu trong các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao, đây là một điểm mạnh,nổi trội của các em Nắm bắt được những điểm này, giáo viên đã xây dựng kếhoạch cụ thể trong việc thành lập đội văn nghệ, đội tuyển thể thao của lớp để