Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự phát sinh khi có hành vi vi phạm các quy định của pháp l
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1
1 Khái niệm môi trường 1
2 Khái niệm ô nhiễm môi trường 1
3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1
4 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 2
II QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 3
1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường: 3
2 Đối tượng có quyền đòi bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra 11
3 Đối tượng phải bồi thường thiệt hại 11
4 Việc tính toán chi phí thiệt hại về môi trường 13
5 Vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường 13
III THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 13
1 Thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 13
2 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hình thành và phát triển, con người luôn biết dựa vào thiên nhiên, tác động, khai thác thiên nhiên để duy trì sự sống và phát triển Tuy nhiên trong quá trình khai thác, sử dụng thiên nhiên, chính con người đã làm cho môi trường bị cạn kiệt và ô nhiễm nặng nề Thiệt hại về môi trường là những thiệt hại có tính nghiêm trọng Mặc dù không trực tiếp, nhưng thiệt hại về môi trường sẽ làm phát sinh những thiệt hại tiềm ẩn trong đó có thể dẫn tới thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người Vì thế mọi cá nhân, tổ chức đều có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, chịu trách nhiệm về mọi hành
vi gây nguy hại đến môi trường của mình
Tìm hiểu về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại có ý nghĩa hết sức to lớn cả
về lý luận và thực tiễn Chính vì lẽ đó em đã chọn đề bài số 18 cho bài tập cuối kỳ của mình
NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1 Khái niệm môi trường
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
2 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Khoản 6 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường đã chỉ rõ: “Ô nhiễm môi trường là sự
biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
Tiêu chuẩn môi trường ở đây có nghĩa là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường
3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Theo quy định của bộ luật dân sự 2005 thì bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
Trang 3hợp đồng.“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm
pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ” [1]
4 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự phát sinh khi có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật mà gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên không thể dựa vào khái niệm này để đưa ra một khái niệm tương tự đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường dù trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường cũng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nếu chỉ định nghĩa đơn giản rằng
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là hậu quả pháp lý bất lợi
mà tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi vi phạm các quy định pháp luật môi trường, gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của của các cá nhân, tổ chức khác” thì chưa thật
sự chính xác Bởi vì thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường có thể do hành vi gây ô nhiễm môi trường, cũng có thể do sự cố môi trường Sự cố môi trường có thể bắt nguồn từ yếu
tố con người nhưng chưa hẳn là do hành vi cố ý vi phạm các quy định pháp luật môi trường Tuy nhiên một khi sự cố môi trường xảy ra và gây thiệt hại thì việc bồi thường thiệt hại luôn được đặt ra
Sở dĩ có sự đặc biệt như vậy là do tính chất đặc trưng của đối tượng mà các quy định pháp luật môi trường muốn bảo vệ Luật Bảo vệ môi trường được đặt ra với mục tiêu hàng đầu là giữ gìn sự cân bằng của các thành phần môi trường, duy trì một môi trường tự nhiên trong lành để con người tồn tại và phát triển Không nằn ngoài mục tiêu chung đó, các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường phải đảm bảo các thành phần môi trường sẽ được bù đắp và khôi phục nhanh chóng khi có thiệt hại xảy ra Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường phát sinh ngay cả khi không có hành vi vi phạm các quy định pháp luật về môi trường và điểm mấu chốt là các loại hành vi này gây ra các thiệt hại tới môi trường và con người
Như vậy nên hiểu một cách toàn diện rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm
ô nhiễm môi trường phát sinh khi có hành vi làm tổn hại môi trường, gây thiệt hại cho nhà nước và người dân
Thiệt hại do ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam chỉ được xem xét dưới góc độ thiệt hại về vật chất Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
Trang 4khoản 2 Điều 307 BLDS 2005: “Trách nhiệm bồi thường về vật chất là trách nhiệm bù
đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực
tế bị mất hoặc bị giảm sút”.
II QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường:
Điều 624 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô
nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”.
Xét về yếu tố lỗi của hành vi làm ô nhiễm môi trường, pháp luật quy định cho dù người gây ô nhiễm môi trường có lỗi hoặc không có lỗi đều phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như vậy, yếu tố lỗi không phải là yếu tố quyết định đến việc ác định trách nhiệm bồi thường do hành vi gây ô nhiễm môi trường Trách nhiệm dân sự do hành
vi gây ô nhiễm môi trường được xác định dựa trên mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường và thiệt hại xảy ra
Do quan hệ pháp luật về bảo vệ môi trường có thể phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân mà không cần đến các cơ sở pháp lý làm tiền đề (như hợp đồng hay quan hệ công vụ) nên bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường luôn
là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đây là loại trách nhiệm phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà không cần có sự thỏa thuận trước của các chủ thể
Theo quy định tại Điều 624 BLDS, người gây ô nhiễm môi trường cho dù có lỗi hoặc không có lỗi đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường cần có đủ 3 điều kiện:
- Có thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra
- Có hành vi trái pháp luật làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường và môi trường bị gây ô nhiễm xác định được và thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra
Thỏa mãn các điều kiện trên, người có hành vi xâm phạm đến môi trường phải bồi thường thiệt hại
a Có thiệt hại xảy ra do ô nhiễm môi trường:
Trang 5Đây là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo quy định tại Điều 130 Luật Bảo vệ môi trường thì thiệt hại do ô nhiễm môi trường bao gồm:
* Thứ nhất: Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sự vật Như vậy, nói đến môi trường là nói đến hai yếu tố cơ bản của môi trường là yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo Song, dưới góc độ này, cần phái nhận ró sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường tự nhiên, chứ không phải là môi trường nhân tạo
Nếu môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố được hình thành tự nhiên, do tự nhiên sinh ra (nước, đất, âm thanh, ánh sáng…) thì yếu tố vật chất nhân tạo lại do con người tạo ra trongq úa trình tồn tại và phát triển của mình Vì thế, xem xét dưới giác độ xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại thì các yếu tố nhân tạo thường được nhìn nhận
là các tài sản hiện hữu, thuộc quyền sở hữu của một chủ thể xác định Nếu chúng có bị suy giảm chắc năng, tính hữu ích thì cần được hiểu là suy giảm chức năng, tính hữu ích của chính tài sản đó Nói cách khác, đó là các thiệt hại và người bị thiệt hại trong trường hợp này có thể là nhà nước cũng có thể là một tổ chức, cá nhân cụ thể Trong khi đó các yếu tố tự nhiên lại được xem là những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại, phát triển chung của cả cộng đồng, không do một tổ chức, cá nhân nào tạo ra và đương nhiên thuộc quyền
sở hữu cộng đồng mà đại diện là nhà nước, do đó, nếu có sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của các yếu tố này thì đó là sự suy giảm các giá trị môi trường sống nói chung Chính vì vậy, nói đến thiệt hại trong lĩnh vực môi trường dưới góc độ chức năng, tính hữu ích của môi trường bị suy giảm là nói đến sự suy giảm chức năng, tính hữu ích vốn
có của môi trường tự nhiên
Chức năng, tính hữu ích của môi trường là tổng hợp những tính năng vốn có của môi trường mà những tính năng này có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi, có ích cho
sự tồn tại, phát triển của con người và sự vật Đối với từng cá thể con người cũng như toàn thể nhân loại, môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những chức năng đặc biệt của nó Xét một cách khái quát, nói đến chức năng, tính hữu ích của môi trường thì
có thể kể đến ba chức năng chính sau đây:
- Môi trường là không gian sinh tồn của con người Giống với mọi sinh vật khác,
để tồn tại và phát triển về mặt sinh lý, tâm lý và tinh thần, con người cần có một không
Trang 6gian sống với những yêu cầu nhất định về chất và lượng của nó Môi trường trước hết chính là không gian sống đó, là yếu tố có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại của con người Đó là một chức năng hết sức quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của con người
- Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người Thiếu đi những yếu tố này, con người khó có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động nào cho sự phát triển của chính mình Nói cách khác, thiếu đi những thuận lợi về tài nguyên môi trường, con người sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn cho sự tồn tại của chính mình
- Môi trường là nơi chứa đựng và xử lý chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình Một điều rất dễ nhận thấy là trongq úa trình sinh tồn, con người không chỉ khai thác những nguồn lợi thiên nhiên xung quanh mình mà còn phải thải bỏ rất nhiều loại chất thải khác nhau vào môi trường Môi trường, bằng khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình, không chỉ chứa đựng mà còn có thể tự đồng hóa một lượng chất thải nhất định để đảm bảo sự cân bằng tự nhiên của chính nó Vì thế, trong một giới hạn nhất định, con người có thể thải bỏ các chất thải vào môi trường mà không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng không gian sống của mình
Môi trường luôn biến động dưới tác động tiến hóa của tự nhiên và hoạt động của các sinh vật, trong đó con người có những tác động mạnh nhất Vì thế con ngwoif không thể giữ môi trường nguyên dạng, nhưng phải bảo vệ ba chức năng đó của môi trường Một môi trường tự nhiên bền vững là môi trường luôn thay đổi nhưng vẫn làm tròn ba chức năng trên Điều đó cũng có nghĩa là chức năng, tính hữu ích của môi trường được xác định là bị suy giảm và lượng của ba chức năng trên bị giảm sút Đó là tình trạng không gian sống của con người bị ô nhiễm, nguonf tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái, cạn kiệt và lượng chất thải vào môi trường lớn hơn so với sức chịu tải của môi trường, gây ra những biến đổi theoi chiều hướng xấu cho chính nó
Như vậy, có thể thấy, sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra khi:
- Chất lượng của các yếu tố môi trường sau khi sử dụng nhỏ hơn quy chuẩn kĩ thuật về môi trường quy định Chất lượng không gian ssoongs của con người tại một khu vực lãnh thổ nhất định thể hiện ở mật độ dân số, mật độ hoạt động của con người vượt quá khả năng chịu tải của khu vực đó Sự trong sạch của các yếu tố không khí, nước, cảnh quan…chỉ được đảm bảo khi quá trình sử dụng của con người làm giảm chất lượng
Trang 7của các yếu tố này xuống giới hạn cho phép Điều đó xảy ra có nghĩa là chức năng, tính hữu ích của các yếu tố môi trường này đã bị suy giảm
- Lượng tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục, tái tạo và lượng tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo được khai thác, sử dụng hơn lượng thay thế Điều đó có nghĩa là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được (rừng, nước, đất…) nhanh hơn khả năng của chúng và việc sử dụng tài nguyên nhiên không thể tái tạo được (tài nguyên khoáng sản) nhanh hơn việc con người tìm ra một nguồn nguyên liệu khác để thay thế chúng Đây chính là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường dưới góc độ suy giảm của nguồn cung cấp tài nguyên, năng lượng…cho hoạt động và cuộc sống của con người
- Lượng chất thải vào môi trường lớn hơn khả năng tái sử dụng, tái chế hoặc phân hủy tự nhiên Chức năng chứa đựng và xử lý chất thải do con người tạo ra của môi trường chỉ được đảm bảo khi lượng chất thải thải vào môi trường từ quá trình tiến hành các hoạt động của con người nhỏ hơn khả năng tái tạo, sử dụng, tái hcees và phân hủy tự nhiên Vì thế, sự suy giảm chức năng này của môi trường sẽ diễn ra khi môi trường không thể tiếp nhận them các chất thải và nếu tiếp nhận, nó sẽ mất đi hoặc giảm đi khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình
Tóm lại, sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là sự biến đổi theo chiều hướng xấu của môi trường mà những biến đổi này làm giảm đi những tính năng vốn có của môi trường – những tính năng có thể tạo những điều kiện thuận lợi có ích cho
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật Đây là những tính năng không thể thiếu cho sự tồn tại, phát triển chung của cả cộng đồng Vì thế, khi nó bị giảm sút, nó sẽ tạo ra những thiệt hại mà cả cộng đồng phải gánh chịu Trong trường hợp này, người bị thiệt hại sẽ được xác định là Nhà nước – chủ thể đaiạ diện cho lợi ích chung của cả cộng đồng
* Thứ hai: Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra, cụ thể là:
- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Tương tự với loại thiệt hại này trong lĩnh vực dân sự nói chung, người gây thiệt hại phải chi trả các chi phí cữu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt hại về sức khỏe gây ra (Điều 609 BLDS 2005); chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại
Trang 8có nghĩa vụ cấp dưỡng do thiệt hại về tính mạng gây ra (Điều 610) từ tình trạng môi trường bị ô nhiễm
- Thiệt hại về tài sản do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Đây là những thiệt hại về vật chất của người bị thiệt hại như mất tài sản, bị giảm sút tài sản…mà nguyên nhân của nó là do chức năng, tính hữu ích của môi trường
bị suy giảm Chính những biểu hiện xấu này của môi trường đã làm cho họ bị mất, bị giảm sút tài sản, phải chi trả những chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn chặn và phục hồi tài sản (Điều 608 BLDS 2005) Đó có thể là: tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng, thiệt hại gắn liền với việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền với việc không
sử dụng, không khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản; những chi phí để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại Thí dụ: một công ty xả nước thải chưa được xử lý làm cho ruộng lúa, hoa màu của các hộ gia đình bị hại nên năng suất bị giảm đáng kể Hoặc do dầu tràn làm cho các ao hồ bị nhiễm độc, nguồn tài nguyên thuỷ sản như tôm, cá bị chết rất nhiều Hoặc khi nguồn nước và không khí bị ô nhiễm, đồng cỏ
bị nhiễm độc do các chất thải của các cơ sở công nghiệp làm cho các gia súc, gia cầm bị
ốm, bị chết gây thiệt hại cho nhân dân Các khu du lịch do bị ô nhiễm mà phải đóng cửa dẫn đến bị thất thu và nguồn lợi nhuận bị suy giảm…
- Thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Đây là những thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu do việc khai thác, sử dụng các thành phần môi trường đã bị suy giảm chức năng, tính hữu ích Họ là những chủ thể được phép khai thác, sử dụng một cách hợp lý các thành phần môi trường đó để phục vụ cho các hoạt động của mình Tuy nhiên, do các thành phần môi trường này đã bị ô nhiễm nên họ không thể tiếp tục khai thác, sử dụng hoặc phải khai thác, sử dụng một cách hạn chế, dẫn đến lợi ích vật chất của họ bị tổn hại
Như vậy, nói đến thiệt hại do ô nhiễm môi trường là nói đến hai loại thiệt hại thứ nhất là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Loại thiệt hại này thường gắn với chủ thể bị thiệt hại là nhà nước, người đại diện cho lợi ích chung của cả động đồng Loại thiệt hại thứ hai lại thường gắn với chủ thể bị thiệt hại là các tổ chức, cá nhân
cụ thể Đó là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây
ra Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được xem là thiệt hại gián tiếp
Trang 9So với các loại thiệt hại trong các lĩnh vực khác, thiệt hại trong lĩnh vực môi trường có những dấu hiệu đặc trưng riêng của nó Đó là:
- Thiệt hại thường có giá trị lớn Môi trường có vai trò hết sức quan trọng đối với
sự tồn tại, phát triển của con người nên khi bị tổn hại, nó thường để lại hậu quả rất lớn mặt khác, thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không dễ nhận biêt Vì thế, trong rất nhiều trường hợp, thiệt hại về môi trường chỉ được xác định khi đã ở vào giai đoạn cuối của quá trình ô nhiễm nên hậu quả trở nên khá nặng nề
- Thiệt hại thường khó xác định một cách chính xác, có cả những thiệt hại gián tiếp, thiệt hại lâu dài…nên không thể dễ dàng trị giá thiệt hại ngay trong một thời điểm
cụ thể Thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường có thể dẫn đến những thiệt hại rất lớn không chỉ của một thời mà có thể còn ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ mai sau Có những thiệt hại có thể xác định được mức độ thiệt hại, như số lượng cá chết trong ao, hồ,
số lượng hoa màu bị hư hỏng do nguồn nước bị ô nhiễm… Nhưng cũng có những thiệt hại phải dựa trên sự suy đoán hợp lý và khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại Ví
dụ, thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân về thu nhập bị mất hoặc lợi nhuận bị giảm sút do phải đình trệ các hoạt động bình thường từ ô nhiễm môi trường như hoạt động du lịch, khai thác thủy sản… Hành vi gây ô nhiễm môi trường có thể bị chấm dứt hoặc người có hành vi tác động gây ô nhiễm môi trường không thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường nữa, nhưng hậu quả của hành vi đó vẫn diễn biến theo một quy luật tạo ra những phản ứng dây chuyền cho người khác Ví dụ: thải chất độc hại xuống nguồn nước sinh hoạt; tàn phá môi trường sống của động vật hoang dã, tàn phá rừng đầu nguồn; xây dựng
hệ thống kiến trúc làm tắc nguồn nước ngầm hoặc là nguyên nhân làm chết cả một dòng sông; xây dựng hệ thống giao thông đường thủy hoặc hệ thống tưới tiêu đã vô tình khơi nguồn nước tự nhiên chua phèn, thành phần nước có nhiều kiềm, nước cứng đã gây thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp, khai thác rừng bừa bãi làm cạn kiệt cả nguồn nước tự nhiên trong khu vực đó, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái của cả một vùng
- Thiệt hại thường rất lớn, khó khắc phục, thậm chí có những trường hợp không thể khắc phục được Điều này xuất phát từ chính những đặc trưng của môi trường Đó là khi bị ô nhiễm thì hoặc là phải mất rất nhiều thời gian để khôi phục nhưng vẫn không thể khôi phục lại trạng thái ban đầu, hoặc là không thể khôi phục lại được
- Thiệt hại thường xảy ra trên một phạm vi rộng lớn Do môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau nên khi
Trang 10một thành phần môi trường này bị tổn hại có thể gây tổn hại cho nhiều thành phần môi trường khác (phản ứng dây chuyền hay hiệu ứng đô mi nô) Ví dụ gây ô nhiễm nước sẽ dẫn đến thiệt hại đối với đất có mặt nước, thiệt hại đối với nguồn thủy sinh… Bên cạnh
đó, chính đặc tính “không biên giới” của môi trường cũng có thể làm cho tình trạng biến
đổi xấu của nó lây lan rất nhanh trên một phạm vi rộng lớn, có thể mang tính liên quốc gia
b Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi gây ra sự biến đổi nhất định về bản chất tự nhiên của môi trường sống Hành vi gây ô nhiễm môi trường có thể là hành vi có
ý thức hoặc vô thức của con người, đã gây ra những thiệt hại nào đó cho con người, xác định được ngay tại thời điểm có hành vi xâm phạm môi trường và những thiệt hại tiềm ẩn
sẽ phát sinh trong tương lai Những thiệt hại thực tế xác định được là chi phí nhằm làm trong sạch môi trường và khôi phục lại tình trạng ban đầu của môi trường như khi nó chưa bị gây ô nhiễm
Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất đa dạng phong phú Có thể liệt kê ra ở đây một số loại hành vi tương đối phổ biến:
- Những hành vi vi phạm điều cấm của Luật Bảo vệ môi trường 2005 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2005 nghiêm cấm một số hành vi: đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây thiệt hại đến môi trường, làm mất cân bằng sinh thái; thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh; chôn vùi, thải vào đất các chất thải độc hại quá giới hạn cho phép; thải dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật,thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn và gây dịch bệnh vào nguồn nước; nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; nhập khẩu, xuất khẩu chất thải…
- Vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường hoặc các yêu cầu ghi tại phiếu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
- Vi phạm các quy định về bảo về nguồn tài nguyên thiên nhiên như các quy định
về bảo vệ rừng, khai thác, kinh doanh động vật, thực vật quý hiếm; bảo vệ nguồn đất, bảo
vệ đất; vi phạm các quy định về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên…
- Vi phạm các quy định về vệ sinh công cộng như quy định về vận chuyển và xử lý chất thải, rác thải; quy định về tiếng ồn, độ rung…