Những trường hợp thừa kế theo pháp luật Theo quy định tại Điều 675 BLDS 2005, thừa kế theo pháp luật được ápdụng trong những trường hợp sau: + những người được chỉ định làm người thừa kế
Trang 1MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hộicũng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Vì thế các quyển và lợi ích củacông dân cũng đòi hỏi pháp luật bảo hộ ở mức độ cao hơn Với bản chất làmột quan hệ tài sản, quan hệ thừa kế dưới tác động của nền kinh tế thị trườngcũng trở nên phong phú và phổ biến trong các giao lưu dân sự Chính vì vậy,chế định thừa kế có vị trí quan trọng và cần thiết trong hệ thống các quyphạm pháp luật dân sự Việt Nam
Một vấn đề luôn được đặt ra hàng đầu trong việc tranh chấp thừa kế làxác định ai là người thừa kế di sản Để xác định được những người có quyềnhưởng thừa kế phải dựa vào mối quan hệ của họ với người để lại di sản Nếuviệc thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản thì việcxác định những người thuộc diện và hàng thừa kế chỉ xảy ra khi di sản đượcchia theo theo pháp luật Việc xác định cháu, chắt thừa kế theo pháp luậtđược pháp luật quy định khá hoàn thiện nhưng không tránh khỏi nhưng saisót trong việc điều chỉnh quan hệ thừa kế khi xảy ra tranh chấp trên thực tế
Vì vậy nghiên cứu đề tài “Thừa kế thế vị và hoàn thiện quy định của
Bộ luật Dân sự về thừa kế thế vị” mang tính cấp thiết không những về lí
luận mà còn là đòi hỏi mang tính thực tiễn hiện nay”
Trang 2khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy địnhphạm vi quyền, nghĩa vụ của người thừa kế
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể
có những quyền và nghĩa vụ nhất định Trong quan hệ này, người có tàisản,trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của minhg cho người khác.Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản(trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Đối tượng của thừa kế là các tàisản,quyền tài sản thuộc quyền của ngươi đã chết để lại (trong một số trườnghợp người để lại tài sản có thể chỉ để lạ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản).Tuy nhiên một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã chết khôngthể chuyển cho những người thừa kế vì pháp luật quy định chỉ những người
đó mới có quyền được hưởng
2 Thừa kế theo pháp luật
a Khái niệm
Thừa kế theo pháp luật là dịch chuyển tài sản của người chết cho nhữngngười còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luậtquy định
Cá nhân có quyền sở hữu với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sảncòn lại được chia đều cho những người thừa kế Người được thừa kế theopháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệnuôi dưỡng
Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộcvào mức độ năng lực hành vi Mọi người bình đẳng trong việc hưởng di sảnthừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiệntrong phạm vi di sản nhận
Trang 3Phạm vi những người thừa kế rất rộng, vì vậy pháp luật quy định thànhnhiều hàng thừa kế Trong đó hàng thứ nhất là những người có quan hệ hônnhân, huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác Các hàng thứ hai, thứ
ba là những hàng dự bị nếu như người chết không có những người ở hàngthứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không có quyền nhận
b Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 675 BLDS 2005, thừa kế theo pháp luật được ápdụng trong những trường hợp sau:
+ những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không
có quyền hưởng di sản, hoặc từ chối quyền hưởng di sản
Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau:+ phần di sản không được định đoạt trong di chúc
+ phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực phápluật;
+phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họkhông có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặcchết cùng thời điểm với người lập di chúc
II Thừa kế thế vị
1 Khái niệm
Trang 4Điều 677, BLDS 2005 đã quy định về thừa kế thế vị như sau:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng mộtthời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà chahoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu đã chết trước hoặccùng một thời điểm với người để lai di sản thì chắt được hưởng phần di sản
mà cha mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Như vậy, trong quy định trên đây, pháp luật chỉ liệt kê về các trườnghợp thừa kế thế vị mà chưa định nghĩa thế nào là thừa kế thế vị Trong cuốn
“Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của trường Đại học Luật Hà Nội doNXB Công an nhân dân xuất bản năm 1999 có định nghĩa: “ Thừa kế thế vị
là thừa kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế” Mặt khác, theo quyđịnh của điều luật trên thì thừa kế thế vị chỉ được đặt ra khi thỏa mãn nhữngđiều kiện:
Thứ nhất, những người “thế vị” nhau phải là những người thuộc mốiquan hệ thừa kế thứ hai trong hàng thừa kế thứ nhất (quan hệ thừa kế giữacha, mẹ và con, trong đó người thế vị phải là người ở đời sau (con thế vị cha,
mẹ nhưng cha, mẹ không được thế vị con) Như vậy, việc thế vị là mối liên
hệ giữa hai bên, một bên được gọi là người được thế vị (gồm cha hoặc mẹđẻ), một bên được gọi là người thế vị (gồm các con đẻ)
Thứ hai, thừa kế thế vị chỉ đặt ra khi người được thế vị chết trước hoặcchết cùng thời điểm với người để lại di sản (cha, mẹ chết trước hoặc chếtcùng thời điểm với ông, bà hoặc các cụ)
Thứ ba, người thế vị phải còn sống vào thời điểm người được thế vịchết hoặc nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm người được thế vị chết thìphải thành thai trước thời điểm được thế vị chết
Trang 5Từ sự phân tích có thể đi đến định nghĩa sau: thừa kế thế vị là việc conthay thế vị trí của cha mẹ để hưởng thừa thế của ông nội, bà nội hoặc ôngngoại đối với phần di sản mà cha mẹ được hưởng nếu còn sống nhưng cha đãchết trước ông nội, bà nội hoặc mẹ đã chết trước ông ngoại, bà ngoại, đồngthời là việc con đẻ thay thế vị trí của cha, mẹ đề hưởng thừa kế của cụ đối vớiphần di sản mà cha, mẹ được hưởng nhưng cha, mẹ đã chết trước hoặc cùngthời điểm với cụ.
2 Sự phát triển và hoàn thiện của thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị được quy định và đảm bảo thực hiện ở nước ta rất lâu,bắt đầu từ Thông tư 1742, Thông tư 594, Thông tư 81, pháp lệnh thừa kế, bộluật dân sự 1995 và hiện nay là Bộ luật Dân sự 2005 Các văn bản pháp luậtnày khi quy định về thừa kế thế vị đều tuân theo một đặc điểm chung là nếumột người con vào thời điểm người để lại di sản chết thì các con của ngườinày được thay thế cha mẹ để hưởng di sản của ông bà hoặc của các cụ Tuynhiên, văn bản pháp luật được ban hành phải phù hợp với tình thình thực tếcủa thời kì tương ứng Vì vậy, dù mang đặc điểm chung nói trên nhưng cácvăn bản này vẫn có sự khác nhau trong việc xác định cụ thể các trường hợpđược thừa kế thế vị
Trước hết phải nói rằng thừa kế thế vị bao giờ cũng là quá trình dịchchuyển di sản theo “dòng chảy xuôi” và là sự tiếp nối giữa các thế hệ (khôngcon thì đến cháu, không còn cháu thì đến chắt) trong việc thừa hưởng di sảncủa đời trước để lại nên thường có sự đan xen các mối quan hệ huyết thống
và nuôi dưỡng giữa các đời với nhau.Trong khi đó việc xác định mối quan hệthừa kế theo huyết thống và nuôi dưỡng của các văn bản pháp luật ở mỗi mộtthời kì luôn khác nhau nên vấn đề thừa kế thế vị cũng khác nhau ở mỗi thời
kỳ Chẳng hạn, do Thông tư 81 quy định rằng: “Người đang làm con nuôi củangười khác không được thừa kế theo luật đối với di sản của bố mẹ đẻ” nên
Trang 6trong thời kì Thông tư 81 được áp dụng thì con của người đang làm con nuôicủa người khác sẽ không được thừa kế thế vị để hưởng di sản của ông bà dùcho cha hoặc mẹ mình đã chết trước ông bà.
Ngoài ra, vấn đề thừa kế thế vị được quy định trong BLDS 1995 ở việc
bổ sung thêm trường hợp “chết cùng một thời điểm” trong khi BLDS 1995không xếp cháu vào hàng thừa kế thứ hai của ông bà còn BLDS lại xếp vàonên có một vấn đề liên quan đến việc xác định các trường hợp chắt được thừa
kế thế vị mà cần thấy bàn tới như sau: Việc thừa kế thế vị của chắt đối với disản của cụ để lại thông thường được hiểu là trong trường hợp cụ chết nhưngông hoặc bà đã chết trước thì cháu sẽ thay thế vị trí của ông hoặc bà để hưởngthừa kế nhưng vì cháu cũng đã chết trước cụ nên chắt sẽ thay thế cháu (conthay thế cha hoặc mẹ) để hưởng thừa kế di sản của cụ Có thể gọi trường hợpnày là thế vị của thế vị Nếu cháu không thuộc người thừa kế ở hàng thứ haicủa ông bà thì việc thế vị của chắt duy nhất chỉ là trường hợp theo cách hiểutrên Tuy vậy khi cháu được xác định là người thừa kế ở hàng thứ hai của ông
bà thì cách hiểu trên không phải là duy nhất nữa vì chắt còn có thể được thaythế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng thừa kế của cụ trong trường hợp khác
Ví dụ: Cụ A có một người thừa kế duy nhất ở hàng thừa kế thứ nhất là ông B(con đẻ) Ông B có con đẻ là anh C, anh C có con đẻ là D Khi cụ A chết, ông
B vẫn còn sống nhưng không được quyền hưởng di sản vì có các hành viđược xác định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 205 Anh C là người thừa kế ởhàng thứ hai (cháu của cụ A) và là người được quyền di sản của cụ A vìngười thừa kế ở hàng thứ nhất đã bị tước quyền hưởng di sản Nhưng anh Clại chết trước cụ A Trong trường hợp này, phải xác định D là người thế vịcủa cha mình (anh C) để hưởng di sản của cụ A (là di sản mà anh C đượchưởng nếu còn sống)
3 Các trường hợp thừa kế thế vị
Trang 7- Cháu thế vị cha mẹ hoặc mẹ để hưởng di sản của ông, bà
Trong trường hợp cha đẻ chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với ôngnội chết con sẽ thay thế vị trí của cha để hưởng thừa kế từ di sản mà ông nội
để lại đối với phần di sản mà cha mình được hưởng nếu còn sống Nếu cha đẻchết trước hoặc chết cùng thời điểm với bà nội thì khi bà nội chết, con đượcthay thế vị trí của cha để hưởng thừa kế di sản mà bà nội để lại đối với phần
di sản mà cha mình được hưởng nếu còn sống
Trong trường hợp mẹ đẻ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông ngoại thì khiông ngoại thì khi ông ngoại chết, con sẽ thay thế vị trí của mẹ để hưởng thừa
kế di sản mà ông ngoại để lại di sản mà ông ngoại để lại đối với phần di sản
mà mẹ mình được hưởng nếu còn sống Nếu mẹ đẻ chết trước hoặc chết cùngthời điểm với bà ngoại thì khi bà ngoại chết, con sẽ thay thế vị trí của mẹ đểhưởng thừa kế từ di sản mà bà ngoại để lại đối với phần di sản mà mẹ mìnhđược hưởng nếu còn sống
- Chắt thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của cụ.
Để dễ hiểu khi xác định các trường hợp chắt được thừa kế thế vị di sản của
cụ chúng tôi xin đặt quy ước như sau: A—B -C -D trong đó giữa các chữcác chữ được nối liền với nhau bằng nét gạch ngang giữa là chỉ mối quan hệgiữa cha, mẹ và con (A và B, B và C, C và D) GIữa các chữ cách nhau haichữ là chỉ mối quan hệ giữa ông bà với cháu, (A và C, B và D) Giữa cácchữ cách nhau hai chữ là chỉ mối quan hệ giữa cụ với chắt (A và D)
Theo quy ước trên, chúng ta xác định chắt được thừa kế của cụ trongmấy trường hợp sau đây:
Trong trường hợp ông nội, bà nội (B) chết trước người để lại di sản là
cụ (A), cha (C) cũng đã chết trước người để lại di sản nhưng chết sauông nội, bà nội thì chắt (D) được hưởng phần di sản mà cha mình được
Trang 8hưởng nếu còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết (C thế vị B
để hưởng thừa kế di sản của A, đối với phần di sản mà B được huổngnếu còn sống mà D lại thế vị C để hưởng di sản của A đối với phần disản mà C được hưởng nếu còn sống)
Trong trường hợp ông, bà ngoại (B) chết trước người để lại di sản là
cụ (A), mẹ (C) cũng đã chết trước người để lại di sản nhưng chết sauông, bà ngoại thì chắt (D) được hưởng phần di sản mà mẹ mình đượchưởng nếu còn sống
Trong trường hợp ông, bà (B) và cha mẹ (C) đều chết cùng thời điểmvới người để lại di sản (A) thì chắt (D) được hưởng phần di sản màcha, mẹ mình được hưởng nếu còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Trong trường hợp ông, bà (B) chết trước người để lại di sản (A), cha,
mẹ (C) chết sau ông bà nhưng chết cùng thời điểm với người để lại disản thì chắt D được hưởng phần di sản mà cha, mẹ mình được hưởngnếu còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Trong trường hợp B không được quyền hưởng di sản của A và C chếttrước A thì D cũng được thế vị C để hưởng thừa kế đối với di sản củaA
- Thừa kế thế vị của con riêng với cha kế, mẹ kế.
Theo Điều 679 BLDS quy định về quan hê thừa kế giữa con riêng và bốdượng, mẹ kế như sau “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chămsóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau
và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 Bộ luậtnày” Quy định như vậy thì giữa những người không có quan hệ huyết thốngnhưng vẫn có thể được thừa kế tài sản của nhau Căn cứ để cho hưởng thừa
kế tài sản của nhau là quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹcon Theo quy định của Điều 679 đã kế thừa quy định về quan hệ thừa kế
Trang 9giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế của Điều 682 BLDS 1995 và Điều 27Pháp lệnh thừa kế năm 1990.
Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa pháp lệnh thừa kết thì “Nói chung con riêng và cha kế, mẹ kế không đượcthừa kế di sản của nhau vì không có quan hệ huyết thống với nhau Tuynhiên, nếu cha kế, mẹ kế có chăm sóc, nuôi dưỡng con riêng thì cha kế, mẹ
kế là người thừa kế hàng thứ nhất của con riêng, nếu con riêng chăm sóc,nuôi dưỡng cha kế, mẹ kế thì họ là người thừa kế hàng thứ nhất của nhau”.Như vậy, kể từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990, pháp luật đã kế thừa quyđịnh người con riêng của vợ hay chồng không được thừa kế di sản của nhautheo quy định của pháp luật, vì giữa họ không có quan hệ huyết thống vàkhông có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con Nhưng nếucon riêng với cha kế, mẹ kế đã thể hiện được nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sócnhau như cha con, mẹ con thì họ được thừa kế của nhau ở hàng thừa kế thứnhất theo quy định của pháp luật và các con của người con riêng đó cũngđược thừa kế thế vị như các cháu ruột khác của người để lại di sản nếu ngườicon riêng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha kế, mẹ kế…
- Thừa kế thế vị trong trường hợp có vi phạm khoản 1 Điều 643BLDS
Điều 631 BLDS 2005 ghi nhận quyền hưởng thừa kế của cá nhân Tuynhiên trong đời sống xã hội có một số trường hợp cá biệt người thừa kế viphạm nghiêm trọng hoặc có hành vi trái đạo đức xã hội bị pháp luật tướcquyền hưởng di sản, luật dân sự của nước ta cũng như luật dân sự của cácnước khác trên thế giới đều có quy định về những người được quyền hưởng
di sản thừa kế
Khi nghiên cứu thừa kế thế vị, cần thiết phải đặt ra vấn đề trong trườnghợp con người để lại di sản chết trước hoặc chết chết cùng thời điểm vớingười để lại di sản nhưng người con đó khi còn sống đã bị kết án về một
Trang 10trong các hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005, thì cháu
có được thừa kế thế vị không Pháp luật nước ta từ năm 1945 đến nay chưa
có quy định nào về trường hợp con của người để lại di sản khi còn sống đã bịkết án về những hành vi trái pháp luật về những hành vi đó là nguyên nhândẫn đến người con đó bị tược quyền hưởng di sản, khi người con đó chếttrước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu có quyềnhưởng thừa kế thế vị không Cũng vì pháp luật chưa quy định rõ ràng nênxung quanh vấn đề này hiện nay vẫn còn nhiều mâu thuẫn Có nhiều quanđiểm trái chiều:
- Quan điểm thứ nhất: trường hợp này cháu không được hưởng thừa kế thế
vị bởi vì thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong trường hợp con người để lại disản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháuđược hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu cònsống Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người đểlại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt đượchưởng nếu còn sống Cơ sở thế vị của cháu, chắt là dựa vào quyền thừa
kế theo pháp luật của bố hoặc mẹ của họ nếu còn sống Vì vây,cháukhông thể thế vị của ông bà nếu cha mẹ của cháu khi còn sống không cóquyền hưởng (do bị tước quyền) thừa kế theo pháp luật của ông bà
- Quan điểm thứ hai: để bảo vệ quyền hưởng di sản của cháu chắt khi bảnthân họ không bị tòa án tước quyền, không bị người để lại di sản truấtquyền hưởng di sản, họ có năng lực thừa kế thì pháp luật nên cho họhưởng thừa kế thế vị thay cho cha,mẹ họ bị tước Hơn nữa trong thực tế,
có những người con của người không được huổng di sản thừa kế không
hề mong muốn cha,, mẹ mình có những hành vi không còn xứng đánghưởng di sản thừa kế của người đã chết, nhưng không không ngăn cảnđược vì một lí do nào đó, bản thân những người con đó không hề có lỗitrong hành vi xử sự của cha mẹ họ
Trang 11Để áp dụng pháp luật một cách thống nhất giữa tòa án các cấp khi giảiquyết những tranh chấp thừa kế của công dân, tòa án nhân dân tối cao cần
có những văn bản hướng dẫn chi tiết về vấn đề thừa kế khi có vi phạmkhoản 1 Điều 643 BLDS 2005
4 Một số trường hợp phân chia tài sản có thừa kế thế vị
Trường hợp thứ nhất, người để lại di sản truất quyền thừa kế của toàn bộcác con nhưng sau đó có một người con đã chết trước hoặc cùng chết một thờiđiểm với người lập di chúc mà người này có con Theo hiệu lực pháp luật của dichúc thì phần di chúc liên quan đến người con đã chết trước hoặc cùng thờiđiểm với ông, bà vô hiệu Phần di sản liên quan đến phần của di chúc vô hiệuđược chia theo pháp luật Tuy nhiên, chia theo pháp luật phần di sản tương ứngvới phần di sản của người con nếu không có di chúc mà còn sống thì đượchưởng theo pháp luật hay chia toàn bộ di sản của người để lại di chúc cho cháucủa người là ông, bà nội, ngoại có cha, mẹ đã chết trước hoặc chết cùng thờiđiểm với người để lại di chúc là ông, bà nội, ngoại được thừa kế thế vị? Giảiquyết vấn đề đặt ra, cần thiết phải xác định những mối quan hệ sau đây liênquan đến quy định của pháp luật thừa kế
Di chúc trong trường hợp này chỉ vô hiệu một phần, phần của di chúc liênquan đến người con đã bị truất quyền thừa kế nhưng người này lại chết trướchoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, tính phần thừa kế theo phápluật cảu người của người đó còn sống thì hưởng, để cho con của người này đượcthừa kế thế vị; phần di sản còn lại được chuyển giao cho những người thừa kếtại hàng thứ hai được hưởng Ví dụ, ông A có ba người con là B, C và D đều làtrưởng thành Ông A chết có để lại di chúc truất quyền thừa kế của B, C và Dnhưng không chỉ định cho ai khác hưởng di sản Nhưng anh C và ông A chếtcùng thời điểm do tai nạn giao thông, vào thời điểm này anh C đã có hai ngườicon là E và Q Di sản của ông A có 360.000.000 đồng Theo cách lập luận trên,