1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

10 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chứng cứ Theo quy định tại Điều 81 BLTTDS thì: "Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tò

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC TÍNH CỦA CHỨNG CỨ 1

1 Khái niệm chứng cứ 1

2 Các đặc tính của chứng cứ……… 2

II NỘI DUNG CÁC VẤN ĐỀ CUNG CẤP, THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TẠI TÒA ÁN SƠ THẨM, PHÚC THẨM……….…2

1 Cung cấp chứng cứ tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm………….…….2

1.1 Khái niệm, tính chất của hoạt động cung cấp chứng cứ……….…2

1.2 Người có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ………3

1.3 Thủ tục cung cấp chứng cứ……….3

2 Thu thập chứng cứ 3

2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ……….….…3

2.2 Những trường hợp thu thập chứng cứ của Tòa án……….….…4

2.3 Phương pháp thu thập chứng cứ của Tòa án……… … 4

3 Nghiên cứu chứng cứ 4

3.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động nghiên cứu chứng cứ………… … 4

3.2 Yêu cầu và trình tự nghiên cứu chứng cứ……… 5

4 Đánh giá chứng cứ……… …….5

4.1 Khái niệm và đặc điểm của đánh giá chứng cứ……… ……5

4.2 Phương pháp đánh giá chứng cứ……… ………6

III NHỮNG HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP, THU THẬP, NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ……… 6

1 Về hoạt động cung cấp chứng cứ……….….… 6

2 Hoạt động thu thập chứng cứ……… … 7

3 Hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ……….… 8

KẾT LUẬN……… ……8

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa cấp sơ thẩm, phúc thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc giải quyết vụ việc dân sự Vì vậy, vấn đề này đã được quy định khá cụ thể trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) cùng các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành khác Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần phải được khắc phục nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ việc được chính xác hơn, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự Bài viết sau đây sẽ đề cập tới nội dung:

“Vấn đề cung cấp, thu thập, đánh giá chứng cứ tại Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm

và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”.

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC TÍNH CỦA CHỨNG CỨ

1 Khái niệm chứng cứ

Theo quy định tại Điều 81 BLTTDS thì: "Chứng cứ trong vụ việc dân sự

là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự"

Chứng cứ có thể là những tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự Các tình tiết này cần phải được ghi lại, phản ánh lại dưới những hình thức cụ thể như: bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi âm, ghi hình Đồng thời, các sự kiện, tình tiết đó phải có đủ các đặc tính là: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Ví dụ: trong vụ án kiện đòi 1 bên thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa thì hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ là chứng cứ nếu hợp đồng

đó có thật trên thực tế khách quan, có liên quan trực tiếp tới vụ án đang diễn ra

và nội dung cũng như quá trình giao kết hợp đồng tuân thủ đúng theo những quy định của pháp luật

Trang 3

2 Các đặc tính của chứng cứ

Chứng cứ có ba đặc tính cơ bản Căn cứ vào các đặc tính này, tòa án và các chủ thể khác sẽ xác định những gì được coi là chứng cứ Chỉ những cái có đủ

ba đặc tính sau mới được coi là chứng cứ:

Thứ nhất, chứng cứ có tính khách quan: thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là

các có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng

và những người tham gia tố tụng không thể tạo ra chúng theo ý muốn chủ quan của họ mà chỉ có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá, và sử dụng chúng

Thứ hai, chứng cứ có tính liên quan, giữa chứng cứ và vụ việc dân sự có

mối quan hệ nhất định Nhờ chứng cứ mà tòa án có thể công nhận hay phủ nhận được tình tiết, sự kiện này hay tình tiết, sự kiện khác của vụ việc dân sự hoặc đưa

ra tin tức về nó

Thứ ba, chứng cứ có tính hợp pháp, chứng cứ phải được rút ra từ những

nguồn nhất định do pháp luật quy định; quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá,

và sử dụng phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật

II NỘI DUNG CÁC VẤN ĐỀ CUNG CẤP, THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TẠI TÒA ÁN SƠ THẨM, PHÚC THẨM

1 Cung cấp chứng cứ tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm

1.1 Khái niệm, tính chất của hoạt động cung cấp chứng cứ

Cung cấp chứng cứ là hoạt động tố tụng cơ bản của các chủ thể chứng minh giao nộp chứng cứ do mình thu thập được cho Tòa án, nhằm chứng minh những tình tiết, sự kiện làm cơ sở cho những yêu cầu của mình hoặc sự phản đối yêu cầu của phía bên kia

Việc cung cấp chứng cứ phải liên quan tới yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản đối (theo điều 79 BLTTDS) Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì việc cung cấp chứng cứ có thể liên quan tới các yêu khác như: trong trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì đương sự phải đưa ra được những căn cứ chứng minh cho tính cấp thiết phải tiến hành các biện pháp đó Ví dụ: nguyên đơn đưa ra yêu cầu Tòa án tiến hành biện pháp kê biên tài sản của bị đơn phải đưa ra chứng cứ chứng minh bị đơn có hành

Trang 4

1.2 Người có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

Theo quy định tại khoản 1 điều 6 và điều 7 BLTTDS thì các đương sự, các

cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Nếu các đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, thì Tòa giải quyết theo thu tục chung Và đương sự phải chịu hậu quả của việc chứng minh không được hoặc không đầy đủ biện pháp xử lý quy định tại điều

385 BLTTDS (điều 84 và hướng dẫn của Nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005)

1.3 Thủ tục cung cấp chứng cứ

Theo quy định tại khoản 2 và 3 điều 84 BLTTDS thì việc đương sự giao nộp chứng cứ phải được lập thành văn bản Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số bản, số trang của chứng cứ, thời gian nhận, chữ kí của người giao nộp, chữ kí của người nhận và dấu của Tòa án Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ Trong trường hợp đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp

2 Thu thập chứng cứ

2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ

Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào

hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự

Từ khái niệm trên cho thấy hoạt động này có các đặc điểm sau: thu thập chứng cứ thuộc về tất cả các chủ thể chứng minh mà trọng tâm là chủ thể đưa ra yêu cầu Tòa án chỉ thu thập trong những trường hợp luật định; Việc phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản chứng cứ theo quy định của pháp luật; Quá trình thu thập phải tiến hành nhanh chóng, kịp thời và có trọng tâm Khi thu thập cần bám sát vào đối tượng chứng minh, phạm vi chứng minh trong vụ, việc dân sự

Trang 5

2.2 Những trường hợp thu thập chứng cứ của Tòa án

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 điều 85 BLTTDS thì trong trường hợp

đương sự không thể tự mình thu thập được (nghĩa là đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhưng vẫn không thu thập được) Ví dụ: chứng cứ do bên kia giữ, mặc dù đương sự này ít nhất hai lần trở lên trực tiếp yêu cầu họ giao nộp chứng cứ cho Tòa án nhưng họ không giao nộp trong vòng 2 tuần kể từ ngày được yêu cầu; chứng cứ đang do cá nhân, cơ quan tổ chức lưu giữ, đương sự đã bằng văn bản yêu cầu cung cấp chứng cứ nhưng bị từ chối…

Thứ hai, trường hợp có những chứng cứ mà việc bảo vệ nó là một quy

trình khép kín do đòi hỏi của công tác nghiêp vụ quản lý, công dân không thể tự mình thu thập được Ví dụ: ngân hàng phải bảo đảm bí mật đối với khoản tiền gửi của khách hàng Chỉ khi có yêu cầu của Tòa án, ngân hàng mới cung cấp các

số liệu về khoản tiền gửi của khách hàng là đương sự trong vụ kiện

Thứ ba, trường hợp đương sự cung cấp chứng cứ không đầy đủ (khoản 1

điều 85) vì đương sự muốn bảo vệ quyền và lợi ích của mình nên chỉ xuất trình những chứng cứ có lợi cho mình Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa mà theo đơn khởi kiện thì ngoài hợp đồng còn có phụ lục hợp đồng, nhưng nguyên đơn mới nộp cho Tòa án bản hợp đồng, thì Thẩm phán yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung bản phụ lục hợp đồng đó, để có cơ sở giải quyết

2.3 Phương pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Theo quy định tại khoản 2 điều 85 thì Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ bằng một hoặc một số biện pháp như: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Trưng cầu giám định; Quyết định định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập chứng cứ; Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự

3 Nghiên cứu chứng cứ

3.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động nghiên cứu chứng cứ

Nghiên cứu chứng cứ là việc các chủ thể chứng minh đọc, xem xét, tìm hiểu chứng cứ có trong hồ sơ vụ, việc dân sự cũng như kiểm tra, xem xét chứng

cứ tại phiên tòa để xác định mức độ phản ánh chính xác của chứng cứ về những

Trang 6

tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh cũng như những tình tiết, sự kiện cần thiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Việc nghiên cứu chứng cứ giúp cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng và xác định được các phương hướng giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Tòa án có cơ sở để xem xét các căn cứ để ra các quyết định tố tụng khác như: quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử khi Tòa án xét thấy đủ căn cứ

Hoạt động nghiên cứu chứng cứ có ba đặc điểm sau: hoạt động nghiên cứu chứng cứ là hoạt động nhận thức được tất cả các chủ thể chứng minh tiến hành trên cơ sở việc đọc, xem xét, tìm hiểu chứng cứ một cách cụ thể, toàn diện hồ sơ

vụ, việc dân sự cũng như tại phiên tòa để khẳng định hoặc phủ định các tình tiết,

sự kiện được xác định là chứng cứ của vụ, việc dân sự; Mục đích của hoạt động này là bước đầu xác định giá trị chứng minh của chứng cứ từ đó làm tiền đề cho việc đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án; Hoạt động nghiên cứu được thực hiện trong suốt quá trình chứng minh

3.2 Yêu cầu và trình tự nghiên cứu chứng cứ

Khi nghiên cứu chứng cứ cần phải đạt được các yêu cầu sau: nghiên cứu phải toàn diện, nhanh chóng; phải tiến hành khẩn trương để xác định có cần đề nghị thu thập thêm chứng cứ nhằm bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử mà LTTDS

đã quy định; phải khách quan; phải được tiến hành theo một trình tự logic; diễn

ra trọng tâm tại phiên tòa có tính nguyên tắc trực tiếp bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa xét xử vụ việc

Trình tự nghiên cứu: trước hết nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự (nghiên cứu đơn khởi kiện, lời khai của đương sự, người làm chứng, các chứng cứ khác liên quan đến vụ việc dân sự); hai là nghiên cứu chứng cứ tại phiên tòa (nghiên cứu lời khai, lời trình bày tại phiên tòa, kết quả giám định tại phiên tòa, tài liệu

vụ án, nghe bằng ghi âm, bằng hình…, nghiên cứu vật chứng)

4 Đánh giá chứng cứ

4.1 Khái niệm và đặc điểm của đánh giá chứng cứ

Đánh giá chứng cứ là xác định giá trị chứng minh của chứng cứ Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác

Hoạt động đánh giá chứng cứ có những đặc điểm chủ yếu sau đây: các chủ thể chứng minh đều có quyền đánh giá chứng cứ; việc đánh giá chứng cứ của

Trang 7

Hội đồng xét xử tại phiên tòa và trong phòng nghị án là hoạt động tư duy cuối cùng và mang tính chất quyết định nhằm kết luận về giá trị chứng minh và tính phù hợp của từng chứng cứ qua đó kết luận về việc giải quyết vụ việc dân sự; khi đánh giá chứng cứ chủ thể chứng minh phải đánh giá toàn bộ chứng cứ mới tìm

ra được bản chất của sự việc

4.2 Phương pháp đánh giá chứng cứ

Thứ nhất, đánh giá từng chứng cứ xem có phù hợp với khách quan, tình

tiết nào, chứng cứ nào có giá trị chứng minh…

Thứ hai, đánh giá tổng hợp chứng cứ nhằm đưa ra phương hướng giải

quyết vụ việc dân sự

Thứ ba, xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ.

Thứ tư, xác định tính đầy đủ của các chứng cứ có trong vụ việc dân sự.

III NHỮNG HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP, THU THẬP, NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ

1 Về hoạt động cung cấp chứng cứ

Điều 84 BLTTDS không có quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ, đồng thời cũng không quy định các biện pháp xử lý đối với các trường hợp cố tình không giao nộp chứng cứ Theo chính sách pháp luật của Việt Nam thì việc không quy định thời hạn giao nộp chứng cứ nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ, từ

đó xác định tính khách quan của vụ án Song, việc không quy định thời hạn lại tạo ra sự tùy tiện trong việc áp dụng các quy định của pháp luật của Tòa án, đồng thời tạo kẽ hở cho đương sự trốn tránh, cản trở việc cung cấp chứng cứ cho Tòa

án giải quyết nhanh chóng, đúng đắn vụ việc dân sự, như: một số trường hợp ém chứng cứ dẫn đến bị đơn không có khả năng kháng cáo và phải xử phúc thẩm gây tồn kém về thời gian và tiền của

Vì vậy pháp luật có thể sửa theo hướng: trong thời hạn nhất định thì những người có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ phải cung cấp chứng cứ, trường hợp cung cấp chứng cứ muộn phải có lý do chính đáng Trường hợp không cung cấp chứng cứ nếu không có lý do chính đáng sẽ bị xử lý, tùy theo mức độ vi phạm có thể áp dụng một số biên pháp như: phạt tiền; chịu mọi chi phí liên quan đến giao

Trang 8

2 Hoạt động thu thập chứng cứ

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS thì chỉ khi có yêu

cầu của đương sự thì Tòa án mới có thể tiến hành một số biện pháp để thu thập chứng cứ Chính điều này đã làm hạn chế quyền chủ động của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ Ví dụ: khi biết được chứng cứ bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy Tòa án muốn chủ động thu thập chứng cứ cũng không được

Thứ hai, về vấn đề phối hợp giữa các cơ quan còn chậm làm cho tình trạng

bản án, quyết định của Tòa án bị sửa và hủy tăng lên Trong khi đó pháp luật này lại chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan này Ví dụ: trong một

vụ giải quyết tranh chấp tài sản, thẩm phán đã yêu cầu công an tỉnh L cung cấp chứng cứ để bổ sung hồ sơ Sau đó, công an tỉnh L có công văn cho biết không

có chứng cứ đó nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử Đương sự kháng cáo Ngay trước khi tòa án xét xử, bất ngờ lại nhận được công văn cung cấp chứng cứ của công an tỉnh L với lý do trước đây bận nên Công an không có thời gian tìm kiếm lại Từ chứng cứ này bản án sơ thẩm đã bị Tòa án phúc thẩm sửa

Thứ ba, tại khoản 2 điều 64 quy định quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: " Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự" Nhưng trong chương VII lại không quy định luật

sư có quyền được trưng cầu giám định

Thứ tư, theo quy định tại khoản 3 điều 90 có quy định về trường hợp giám

định lại: "… Việc giám định lại có thể do người đã tiến hành giám định trước đó

thực hiện…" Việc giám định lại chỉ được đặt ra khi kết luận giám định chưa đầy

đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật, nếu để cho người đã giám định trước đó giám định lại thì sẽ rất khó để bảo đảm được tính khách quan và đầy đủ của kết quả giám định

Như vậy, phương hướng hoàn thiện trong hoạt động thu thập chứng cứ pháp luật cần đặt ra là: mở rộng quyền chủ động của tòa án trong một số trường hợp không nhất thiết phải có yêu cầu của đương sự; áp dụng chế tài đối với các

cá nhân, cơ quan không tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ khi Tòa án yêu cầu và tạo điều kiện để đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

Trang 9

họ thực hiện quyền thu thập chứng cứ để tự bảo vệ; sửa đổi khoản 3 Điều 90 về trường hợp giám định lại, không lên cho người đã tiến hành giám định trước đó thực hiện việc giám định lại

3 Hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

Thực tế hiện nay các tòa án vẫn thường có quan niệm rằng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về phía đương sự, còn nghĩa vụ chứng minh thuộc về tòa án Đồng nhất nghĩa vụ cung cấp chứng cứ với nghĩa vụ chứng minh, các bên đương

sự chỉ thực hiện một phần nhỏ quyền, nghĩa vụ nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa Ngoài ra, việc đánh giá chứng cứ tại phiên tòa chưa được bảo đảm

về mặt tố tụng, nhiều tài liệu chứng cứ có tính chất quan trọng có ý nghĩa quyết định tới việc giải quyết vụ việc dân sự chỉ là phô tô, không có chứng thực, không

có kí xác nhận và đối chiếu với bản chính, Thẩm phán đã đem ra xem xét tại phiên tòa Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa chưa được đề cao đúng mức, hạn chế

sự chủ động, tích cực, sáng tạo của đương sự trong việc chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Vì vậy, cần phải để các đương sự tham gia vào đầy đủ các giai đoạn của hoạt động chứng minh từ thu thập, cung cấp đến nghiên cứu, đánh giá chứng cứ,

để họ có thể được xem xét toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ đồng thời đưa ra nhận định của mình về tính chính xác của chứng cứ, từ đó mới có thể phát huy được vai trò quan trọng và trung tâm của họ Ngoài ra cũng cần nâng cao ý thức trách nhiệm, nghiệp vụ chuyên môn cho các cán bộ làm công tác tư pháp

KẾT LUẬN

Nói tóm lại, vấn đề cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại phiên tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm là một chuỗi những hoạt động nối tiếp, không thể tách rời nhau và có mối liên quan mật thiết với nhau, làm cơ sở và nền tảng cho việc đưa ra những phán quyết đúng đắn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Tuy nhiên trên thực tế áp dụng, những quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn đang tồn tại một số hạn chế, đòi hỏi pháp luật TTDS cần phải có những quy định phù hợp hơn nữa để góp phần hạn chế và giải quyết những bất cấp này trong thời gian tới

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, năm 2005;

2 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;

3 Nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 hướng dẫn thi hành một

số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về "Chứng minh và Chứng cứ";

4 Nguyễn Minh Hằng, "Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam", Luận án tiến sĩ luật học, năm 2007;

5 Vũ văn Đồng, "Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật tố tụng dân sự", Luận văn thạc sĩ luật học, 2006;

6 Nguyễn Thị Nhung, "Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong Tố tụng dân sự", Khóa luận tốt nghiệp, năm 2010;

7 Một số trang web:

www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com

Ngày đăng: 20/03/2019, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w