1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập học kỳ tố tụng dân sự đề số 7 đề tài điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

11 296 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự về điều kiện khởi kiện là một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết qua đó bảo vệ một cách tốt nhất quyề

Trang 1

MỤC LỤC

BẢNG TỪ VIẾT TẮT 1

A LỜI MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG CHÍNH 2

I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 2

1 Khái niệm chung 2

2 Cơ sở lý luận 3

II ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 4

1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện 4

2 Điều kiện về thẩm quyền của tòa án 5

3 Điều kiện về thời hiệu khởi kiện 6

4 Điều kiện về vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 6

III KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 7

1 Kiến nghị về chủ thể khởi kiện 7

2 Kiến nghị về thẩm quyền của Tòa án 8

3 Kiến nghị về thời hiệu khởi kiện 8

C KẾT LUẬN 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 2

BẢNG TỪ VIẾT TẮT.

TTDS Tố tụng dân sự

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự LTM Luật Thương mại BLLĐ Bộ luật lao động TAND Tòa án nhân dân UBND Ủy ban nhân dân

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đang tiếng hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Gắn liền với việc phát triển nền kinh tế là việc các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật đặc biệt là các tranh chấp về dân sự, thương mại, lao động ngày một gia tăng Việc giải quyết các tranh chấp trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên khi quyền lợi của họ bị xâm phạm là một vấn đề quan trọng, cần được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác Để thực hiện được điều này yêu cầu cần phải có các quy định pháp luật TTDS một cách đầy đủ, chi tiết và hợp lí trong đó có quy định về điều kiện khởi kiện Chính vì vậy việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật

tố tụng dân sự về điều kiện khởi kiện là một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết qua đó bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích của các chủ thể bị xâm phạm

NỘI DUNG TÌM HIỂU

I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Điều 161 BLTTDS quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Theo đó, khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức

hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác Khởi kiện vụ án dân sự mang ý nghĩa là hành vi đầu tiên của các cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS Khởi kiện là phương thức để các chủ thể hành động ngay tức khác để bảo vệ quyền dân sự của mình tránh nguy cơ xâm phạm xảy

ra Không giống như vụ án hình sự, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của các chủ thể Vì vậy, các cơ quan tố tụng chỉ có thể có những hành động can thiệp kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, khắc phục thiệt hại, ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật, khôi phục mối quan hệ thiện chí giữa các bên trong đời sống khi hành vi khởi kiện được thực hiện một cách kịp thời

Trang 4

Khi khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, chủ thể khởi kiện phải tuân thủ theo các điều kiện mà pháp luật quy định gọi là điều kiện khởi kiện vụ án dân sự Hay nói cách khác điều kiện khởi kiện là những yêu cầu, quy định của pháp luật mà các chủ thể muốn thực hiện quyền khởi kiện thì phải tuân thủ

2 Cơ sở lý luận

Điều kiện khởi kiện đã được quy định trong BLTTDS và pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự, bao gồm điều kiện về chủ thể, điều kiện về thẩm quyền giải quyết của tòa án, điều kiện về thời hiệu và điều kiện về sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Có thể thấy để tòa án chấp nhận yêu cầu của mình thì trước hết các chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện và phải có năng lực hành vi TTDS Đây là điều kiện đầu tiên tòa án xét đến khi xem xét có chấp nhận yêu cầu của họ hay không, bởi vì không phải bất kì ai cũng có thể khởi kiện được mà chỉ là những người mà pháp luật quy định cho họ quyền Việc pháp luật quy định điều kiện về chủ thể là rất cần thiết vì việc quy định này đã giúp cho việc khởi kiện đạt được mục tiêu đã đặt ra, bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của các đương sự

Bên cạnh điều kiện về chủ thể, pháp luật TTDS đã đưa ra điều kiện về thẩm quyền của tòa án Việc phân định thẩm quyền của tòa án không những giúp cho các tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ của mình mà còn giúp cho chủ thể khởi kiện dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện của mình Khi thẩm quyền của tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm

vụ của tòa án các cấp và giữa tòa án với các cơ quan nhà nước khác, đồng thời góp phần giải quyết vụ án một cách hiệu quả, chính xác

Pháp luật TTDS quy định điều kiện khởi kiện về thời hiệu nhằm hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện Khi pháp luật quy định chủ thể có quyền quyền khởi kiện để đảm bảo quyền và lợi ích của mình nhưng việc thực hiện quyền đó cũng phải không gây ảnh hưởng cho các chủ thể khác Việc quy định thời hiệu cũng giúp cho tòa án giải quyết các tranh chấp được tốt hơn

Trang 5

Đối với một tranh chấp dân sự có thể có nhiều cơ quan khác nhau có thẩm quyền giải quyết Chính vì vậy việc quy định điều kiện về sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực vừa tránh được việc cùng một vụ án lại được

xử lý nhiều lần, gây tốn thời gian, tiền bạc, gây khó khăn trong việc thi hành sau này và ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của các đương sự

Từ những cơ sở lí luận trên ta có thể thấy việc quy định điều kiện khởi kiện vụ

án dân sự gồm bốn điều kiện như trên là hợp lí, bên cạnh đó cũng cần hoàn thiện thêm về các quy định cụ thể trong điều kiện khởi kiện nhằm mục đích góp phần giải quyết tranh chấp dân sự một cách nhanh chóng, chính xác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên

II ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.

1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp luật được tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự, bao gồm các cá nhân, cơ quan, tổ chức đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định Các chủ thể có quyền khởi kiện được quy định tại Điều 161 và 162 BLTTDS

Chủ thể khởi kiện là cá nhân phải đáp ứng điều kiện có năng lực hành vi TTDS đồng thời có quyền lợi bị xâm hại Năng lực hành vi TTDS được ghi nhận tại Điều

57 BLTTDS Năng lực hành vi TTDS là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa

vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự Cá nhân được coi là có năng lực hành vi TTDS khi đã từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật quy định khác, khi đó cá nhân có thể tự mình khởi kiện vụ án dân sự hoặc ủy quyền cho người khác có năng lực hành vi thay mình khởi kiện vụ án dân sự trừ việc li hôn Đối với những cá nhân không có năng lực hành vi TTDS hoặc bị mất hay hạn chế năng lực hành vi TTDS thực hiện việc khởi kiện thông qua người đại diện Đặc

biệt, khoản 6 Điều 57 BLTTDS cũng quy định “Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về

Trang 6

những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Trong trường hợp này, Toà án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện” Bên cạnh việc đáp ứng

điều kiện về năng lực hành vi TTDS, cá nhân khởi kiện vụ án dân sự phải là người

có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại nhằm tránh việc chủ thể của quan hệ pháp luật lợi dụng việc khởi kiện xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt trong TTDS

Chủ thể khởi kiện là cơ quan, tổ chức là người đại diện hoặc có thể ủy quyền cho người khác có đủ năng lực hành vi TTDS khởi kiện Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp Ngoài ra các cơ quan còn khởi kiện vụ án dân sự dể bảo

vệ quyền và lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật

2 Điều kiện về thẩm quyền của tòa án

Nhằm mục đích giải quyết tốt nhất các vụ án dân sự, pháp luật TTDS đã quy định thẩm quyền giải quyết của tòa án Theo đó, tòa án chỉ thụ lý và giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình Theo quy định của BLTTDS, thẩm quyền của tòa án được quy định tại Điều 25,27, 29, 33, 34, 35 và 36 đó là thẩm quyền của tòa án theo loại việc, theo cấp và theo lãnh thổ Việc xác định thẩm quyền của Tòa

án đóng một vai trò quan trọng và cần thiết để đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước Những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định khá đầy

đủ và chi tiết Khi nhận đơn khởi kiện, tòa án căn cứ váo yêu cầu của đương sự mà đối chiếu với nội dung loại việc đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mình hay không Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là loại tranh chấp nào tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại hay lao động để thụ lý cho đúng Việc xác định này cũng có ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật nội dung để áp dụng Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành vẫn có nhiều khó khăn và vẫn có trường hợp tranh chấp về thẩm quyền giải quyết

Trang 7

3 Điều kiện về thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động để bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm phạm Hết thời hạn đó thì các chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động lại được quy định cụ thể trong từng luật riêng Ví

dụ như: Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế là 10 năm tính từ thời điểm mở thời điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế(Điều 645 BLDS); thời hiệu khởi kiện tranh chấp thương mại là 2 năm (Điều 319 LTM 2005) Theo quy định tại Điều 159 BLTTDS thì đối với những tranh chấp mà trong văn bản pháp luật không quy định thời hiệu thì áp dụng quy định tại khoản 3

của Điều này “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự là 2 năm,

kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước bị xâm phạm” Trên thực tế không phải lúc nào những người có

quyền khởi kiện cũng thuận lợi khi khởi kiện có nhiều lý do khách quan khiến cho

họ không thể thực hiện quyền khởi kiện của mình được Chính vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định không tính thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, người có quyền khởi kiện chưa thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa

có người thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện

4 Điều kiện về vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nếu một vụ án đã được tòa án của Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực thì các đương sự không được khởi kiện lại vụ án đó nữa trừ các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 168 BLTTDS:

- Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn;

- Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại

Trang 8

- Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn; đòi nhà cho thuê cho mượn, cho ở nhờ

mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu đó do chưa đủ điều kiện khởi kiện

Ngoài ra, trường hợp tòa án quy định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì đương sự có quyền khởi kiện lại theo khoản 1 Điều 193

III KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN

VỤ ÁN DÂN SỰ.

1 Về chủ thể khởi kiện.

Đối với những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ thì họ có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự, có thể tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng lao động mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Theo quy định tại Điều 57 BLTTDS thì họ có thể tự mình tham gia tố tụng, ta thấy pháp luật gần như đồng nhất phạm trù năng lực hành vi TTDS và năng lực hành vi dân sự, điều này là chưa hợp lý Những người này không thể tự mình tham gia tố tụng được vì họ chưa phát triển hoàn thiện về nhận thức nên trình độ hiểu biết của họ về pháp luật sẽ không được đầy đủ và chưa có khả năng tự mình bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước tòa án Chính vì vậy, pháp luật nên quy định trong trường hợp này, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Theo quy định của pháp luật thì khi một trong hai bên vợ chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì bên người còn lại là người giám hộ đương nhiên của người đó Nhưng khi người giám hộ đã không chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ không chung thủy với người vợ hoặc người chồng là người được giám hộ bị mất năng lực hành vi dân sự mà không thể nhận thức làm chủ hành vi của mình thì coi là đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ Trong trường hợp này theo Điều 70 BLDS thì bố

mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự sẽ trở thành người giám hộ thay cho vợ hoặc chồng của người đó Trong trường hợp này pháp luật TTDS cần quy định cha

mẹ có quyền giám hộ đại diện hợp pháp cho con thì hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu xin ly hôn cho con

Trang 9

Bên cạnh đó pháp luật cần quy định thêm về việc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có năng lực hành vi TTDS trong lĩnh vực mà họ không bị tòa án tuyên bố hạn chế Việc này sẽ giúp bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định rõ ràng về chủ thể có quyền khởi kiện trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chính vì vậy dẫn đến trong thực tế người có quyền lại

bỏ qua quyền khởi kiện còn người không có quyền lại khởi kiện nên không được Tòa án giải quyết Vì vậy, để có thể đảm bảo quyền và lợi ích của những người có quyền lợi hợp pháp thì pháp luật cần có quy định về chủ thể có quyền khởi kiện trong vụ án về quyền sở hữu trí tuệ

2 Về thẩm quyền của Tòa án.

Một số tranh chấp thương mại có thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều tòa án, hoặc nhiều cơ quan nhà nước khác nhau đùn đẩy trách nhiệm hay việc đương sự không hiểu rõ luật lại nộp đơn khởi kiện ở nhiều nơi khác nhau Ví dụ trong các tranh chấp thương mại có thể giải quyết trọng tài hoặc tòa án Trên thực tế có những tranh chấp do các bên không thỏa thuận đúng đã phát sinh tranh chấp về thẩm quyền giữa tòa án và trọng tài thương mại hoặc “ đùn đẩy” trách nhiệm lẫn nhau Chính vì vậy dẫn tới việc làm mất nhiều thời gian của cả đương sự lẫn cơ quan chức năng, dẫn tới quyền lợi của các bên không được bảo vệ, tranh chấp không được giải quyết kịp thời Chính vì vậy trong thời gian tới vấn đề này phải có một hướng dẫn cụ thể của tòa án về hướng giải quyết để đảm bảo quyền khởi kiện của các bên

3 Về thời hiệu khởi kiện.

Bộ luật lao động đã quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Điều 166; 167, quy định thời điểm để xác định thời hiệu là “kể từ ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích bị vi phạm” hay “kể từ ngày phát hiện ra tranh chấp” Trong khi đó về thủ tục giải quyết thì có một số loại việc tranh chấp chỉ khi hòa giải không thành hoặc hội đồng hòa giải, hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải trong thời hạn luật quy định thì mới được khởi kiện ra tòa án Vậy thời hiệu khởi kiện đối với các loại tranh chấp này cũng được tính từ ngày mỗi bên

Trang 10

tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích bị vi phạm hay kể từ ngày hòa giải không thành Tương tự, đối với các tranh chấp về đất đai, trước khi yêu cầu tòa án thì phải thông qua hòa giải tại địa phương Việc hòa giải tại UBND cấp xã thường kéo dài

có trường hợp khi nộp đơn lên xã thì còn thời hiệu khởi kiện nhưng khi chờ UBND

xã giải quyết thì thời hiệu khởi kiện đã hết Đây là hai vấn đề mà pháp luật cần có những hướng dẫn cụ thể để có cơ sở pháp lý tạo ra sự áp dụng đồng bộ khi giải quyết, bên cạnh đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự

Trên thực tế có các loại tranh chấp tương tự nhau nên với những thẩm phán không có chuyên môn sẽ rất dễ nhầm lẫn trong việc xác định chính xác loại tranh chấp cũng nhưu thời hiệu khởi kiện của loại tranh chấp đó, gây ảnh hưởng lớn đến quyền khởi kiện cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Do đó cần có biện pháp đào tạo chuyên môn pháp lý cho các thẩm phán đồng thời pháp luật có thể quy định cho những tranh chấp tương tự nhau có thời hiệu khởi kiện giống nhau, tránh những tranh chấp về thời hiệu khởi kiện

C KẾT LUẬN

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự là một chế định hết sức quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự bởi nó quyết định tới việc thụ lý cũng như quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự của tòa án Chính vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu cũng như hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về điều kiện khởi kiện là một việc làm vô cùng cần thiết này nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể khi tham gia vào

tố tụng dân sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách dễ dàng

và thuận tiện hơn

Ngày đăng: 20/03/2019, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w