Giải thích: Để phân loại tội phạm ta phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc đe dọa gây nguy hiểm trên thực tế của hành vi đối với quan hệ xã hội được l
Trang 1TRẢ LỜI
1 Trường hợp phạm tội của K là loại tội gì theo sự phân loại tội phạm (khoản
3 Điều 8 BLHS).
Trả lời: Trường hợp phạm tội của K là loại tội rất nghiêm trọng.
Giải thích:
Để phân loại tội phạm ta phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi hoặc đe dọa gây nguy hiểm trên thực tế của hành vi đối với quan
hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ ( tức là dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội) và khung hình phạt có thể áp dụng cho tội phạm và khung hình phạt áp dụng
đó có mức hình phạt cao nhất là bao nhiêu (dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý – tính phải chịu hình phạt của tội phạm)
Theo đó, BLHS đã phân chia tội phạm thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tương ứng với 4 mức độ nguy hiểm cho xã hội đã được phân hóa như vậy cũng có 4 mức độ cao nhất của khung hình phạt ( đến 3 năm tù; đến 7 năm tù; đến
15 năm tù và trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình)
Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định :
“3 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội
mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”
Cướp giật tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ sở hữu hoặc người quản lý di sản
Hành vi phạm tội của K bị xử lý về tội cướp giật tài sản được quy định tại khoản 2 Điều 136 BLHS Khoản 2 Điều 136 BLHS quy định như sau:
Trang 2“2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
…”
Khoản 2 Điều 136 BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là mười năm tù Đối chiếu với Khoản 3 Điều 8 BLHS thì trường hợp phạm tội của K là loại tội phạm rất nghiêm trọng
2 Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
Trả lời: Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP tăng nặng.
Giải thích:
CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm
cụ thể được quy định trong luật hình sự Tùy theo mục đích mà các nhà làm luật hướng đến mà CTTP được phân loại theo hai cách là dựa vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được CTTP phản ánh và dựa vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm Để phù hợp theo yêu cầu để bài ở đây em chỉ làm rõ cách phân loại CTTP dựa theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được CTTP phản ánh Theo căn cứ đó, CTTP được chia thành 3 loại:
+ CTTP cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô
tả tội phạm và cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác
+ CTTP tăng nặng là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu
phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)
+ CTTP giảm nhẹ là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có
thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)
Khoản 1 Điều 136 BLHS quy định:
“1 Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.”
Trang 3Theo khoa học luật, người nào có hành vi cướp giật tài sản của người khác là người phạm tội cướp giật tài sản Nghĩa là người nào có hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh
sự phản kháng của chủ sở hữu hoặc người quản lý di sản được gọi là tội phạm cướp giật tài sản Đó là những dấu hiệu mô tả tội phạm cướp giật tài sản, cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Nên tội cướp giật tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 136 BLHS là CTTP cơ bản, chỉ có dấu hiệu định tội
Khoản 2 Điều 136 BLHS, ngoài dấu hiệu định tội cướp giật tài sản còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể như : có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, gây hậu quả nghiêm trọng… Nên tội cướp giật tài sản quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLHS là CTTP tăng nặng
Trong tình huống K có hành vi cướp giật tài sản của người khác có giá trị là
50 triệu đồng Hành vi phạm tội của K được quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLHS
Như vậy, hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP tăng nặng.
3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?
Trả lời: Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K phải chịu TNHS về hành vi của mình Giải thích:
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình
Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS thì phải chịu TNHS Vậy có phải ai khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS đều là tội phạm? Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi Do vậy, chỉ những người có điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm Người
có đủ điều kiện để có lỗi, để có thể trở thành chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực TNHS Người có năng lực TNHS theo luật hình sự Việt Nam là người đã
Trang 4đạt độ tuổi chịu TNHS (Điều 12 BLHS) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 13 BLHS)
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 12 BLHS quy định:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Tóm lại, muốn xác định một người đã đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
hay chưa cần xác định tuổi của người đó và loại tội phạm mà người ấy thực hiện (ít nghiệm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) với hình thức lỗi là gì
Trong tình huống, “hành vi cướp giật tài sản của người khác” của K là lỗi cố ý trực tiếp, vì:
+ Thứ nhất, về lí trí: K nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi của mình: công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ sở hữu Nghĩa là thông qua việc tác động tới thân thể của chủ sở hữu, K đã xâm phạm tới tài sản 50 triệu đồng của họ Như vậy hành vi của K đã xâm hại quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ
+ Thứ hai, về ý chí: K thấy trước được hậu quả của hành vi của mình nhưng K
mong muốn hậu quả phát sinh để có được số tiền 50 triệu đồng từ chủ sở hữu
Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng K vẫn phải chịu TNHS về hành vi của mình vì:
+ Thứ nhất, căn cứ theo khoản 2 Điều 12 thì K phải chịu TNHS nếu như
loại tội phạm mà K thực hiện là rất nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc là đặc biệt nghiêm trọng
+ Thứ hai, theo phân tích ở trên, hành vi phạm tội của K là loại tội phạm rất
nghiêm trọng với lỗi cố ý
Như vậy, Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng K phải chịu TNHS về hành vi của mình.
Trang 54 Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?
Trả lời: Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có thể phải chịu TNHS hoặc có
thể không phải chịu TNHS về hành vi của mình
Giải thích:
Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, ý tưởng, hành vi, tác phong, tình cảm,… Người có sự phát triển bình thường về tâm – sinh lí sẽ có năng lực TNHS khi đạt độ tuổi nhất định – tuổi chịu TNHS Năng lực này có thể sẽ không có hoặc bị
loại trừ do mắc bệnh nhất định liên quan đến hoạt động tâm thần Người không có năng lực trách nhiệm do mắc bệnh như vậy được gọi là người trong tình trạng không có năng lực TNHS Trong luật hình sự, tình trạng không có năng lực TNHS
được dùng để chỉ những dấu hiệu mà khi không có những dấu hiệu đó, người đã đến tuổi chịu TNHS, mặc nhiên được coi là có năng lực TNHS
Về người trong tình trạng không có năng lực TNHS Điều 13 BLHS quy định:
“Người ở trong tình trạng không có năng lực TNHS là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”
Như vậy có hai dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực TNHS: dấu hiệu y học (mắc bệnh) và tâm lí (mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi):
+ về dấu hiệu y học: Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là
người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần
+ về dấu hiệu tâm lý: Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là
người đã mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện, K không có năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm Và như vậy, họ cũng không thể
có được năng lực kiềm chế việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để thực hiện xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Trang 6Việc xác định hai dấu hiệu này đều thuộc nội dung của giám định tâm thần tư pháp Kết luận giám định tâm thần tư pháp vừa xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có mắc bệnh tâm thần và có trong trạng thái bệnh khi thực hiện hành vi đó hay không vừa xác định ảnh hưởng của bệnh đã mắc (nếu có) đối với năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của người bệnh
Do đó, chỉ được coi là tình trạng không có năng lực TNHS khi đồng thời cả hai dấu hiệu – y học và tâm lí đều thỏa mãn Nếu thiếu 1 trong 2 dấu hiệu sẽ không được gọi là người trong tình trạng không có năng lực TNHS
Tình huống giả sử K đang mắc bệnh tâm thần nghĩa là K đã thỏa mãn dấu hiệu thứ nhất: dấu hiệu y học của người trong tình trạng không có năng lực TNHS
Vì vậy phải xét tiếp đến dấu hiệu thứ hai: dấu hiệu tâm lý Có 2 trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1: K mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển:
+ năng lực nhận thức: K mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện, không có năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện của mình là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm
+ năng lực điều khiển: K không có kiềm chế được việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Như vậy, nếu kết quả giám định tâm thần tư pháp xác định K mắc bệnh tâm
thần và mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi của mình thì K là người trong tình trạng không có năng lực TNHS (khoản 1 Điều 13 BLHS), tức là K không phải chịu TNHS
Trường hợp 2: K bị hạn chế năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển:
Không phải mọi loại bệnh tâm thần luôn luôn làm mất năng lực TNHS, có loại bệnh chỉ làm mất năng lực này khi bệnh ở mức độ nhất định và có loại bệnh hoàn toàn không làm mất năng lực này
Vì vậy, bên cạnh tình trạng không có năng lực TNHS, luật hình sự Việt Nam còn thừa nhận trường hợp tình trạng năng lực TNHS hạn chế Đây là trường hợp người do mắc bệnh nên năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi đã bị hạn chế (tuy chưa bị loại trừ hoàn toàn) Người này không thuộc loại người không
có điều kiện để có lỗi Nhưng tình trạng năng lực TNHS hạn chế có ảnh hưởng nhất
Trang 7định đến mức độ lỗi Lỗi của họ cũng là lỗi hạn chế và do vậy, luật hình sự Việt Nam coi tình trạng năng lực TNHS hạn chế là tình tiết giảm nhẹ Tình tiết này được quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 46 BLHS:
“Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1 Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
…
n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
…”
Như vậy, nếu kết quả giám định tâm thần tư pháp xác định K mắc bệnh tâm
thần và K bị hạn chế năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi của mình tức là K trong tình trạng năng lực TNHS hạn chế thì K vẫn phải chịu TNHS nhưng hạn chế hơn so trường hợp chủ thể có đầy đủ năng lực TNHS Và tình tiết này được coi là tình tiết giảm nhẹ cho K được quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều
46 BLHS
Kết luận: Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có thể phải chịu TNHS hoặc có
thể không phải chịu TNHS về hành vi của mình tùy từng trường hợp cụ thể
5 Có thể cho K hưởng án treo không? Tại sao?
Trả lời : Có thể cho K hưởng án treo.
Giải thích:
Theo BLHS hiện nay, án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Cụ thể, Khoản 1 Điều 69 BLHS đã quy định án treo như sau:
“ Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt
tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.”
Theo quy định này thì K có thể được hưởng án treo nếu có bốn căn cứ:
+ Về mức hình phạt tù: những người bị tòa án phạt tù không quá 3 năm, không kể
tội đã phạm là tội gì đều có thể được xem xét cho hưởng án treo Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà hình phạt chung không vượt quá 3 năm tù thì
Trang 8cũng thuộc diện được xem xét cho hưởng án treo Mức hình phạt tù không quá 3 năm được tuyên phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, trên cơ sở tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội cụ thể
Trong tình huống, K bị Tòa án xử phạt 3 năm tù về tội cướp giật tài sản được quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLHS Vì vậy, trường hợp của K đã thỏa mãn căn
cứ đầu tiên Nếu trường hợp của K thỏa mãn 3 dấu hiệu tiếp theo thì K được xét hưởng án treo
+ Về nhân thân người phạm tội: Nếu K là người có nhân thân tương đối tốt.
Nghĩa là chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của bản thân với tư cách là thành viên trong xã hội, chưa có tiền án, tiền
sự Nếu K có tiền án, tiền sự, xét tính chất của tiền án, tiền sự cùng với tính chất của tội phạm mới thực hiện và các căn cứ khác thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù thì cũng có thể cho hưởng án treo nhưng tinh thần chung là hạn chế và thật chặt chẽ Khi đánh giá nhân thân của K phải xem xét toàn diện tất cả các đặc điểm
về nhân thân, trong đó cần chú ý những đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến khả năng tự giáo dục, cải tạo và thái độ của K sau khi gây án
+ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Nếu K có các tình tiết giảm nhẹ được quy định
tại khoản 1 Điều 46 BLHS cũng như các tình tiết giảm nhẹ được tòa án xác định ( trong nhiều tình tiết giảm nhẹ phải có ít nhất 1 tình tiết được ghi nhận tại khoản 1 Điều 46 BLHS)
+ Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù: khi áp dụng án
treo, tòa án chủ yếu dựa vào 3 căn cứ cần phải có trên đây để kết luận về khả năng
tự giáo dục, cải tạo của người bị kết án tù với sự giúp đỡ của xã hội, gia đình K có thể được hưởng án treo nếu xét thấy K là người thực sự có khả năng tự hoàn lương trong môi trường xã hội cụ thể, không có nguy cơ tái phạm, bởi tính chất loại tội phạm K đã thực hiện cũng như do ảnh hưởng xấu của đối tượng xung quanh
Như vậy, K bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù về tội cướp giật tài sản nên K có
thể được hưởng án treo nếu K có nhân thân tương đối tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS và thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Sách
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự,
Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2007
2 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012
3 Trường Đại Học Luật Hà Nội, Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb CAND, Hà Nội 2001.
* Website:
Trang 10MỤC LỤC
1 Trường hợp phạm tội của K là loại tội gì theo sự phân loại tội phạm (khoản
3 Điều 8 BLHS) 1
2 Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao? 2
3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? 3
4 Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? 5
5 Có thể cho K hưởng án treo không? Tại sao? 7 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9