1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thủ tục đầu tư theo luật đầu tư năm 2005 thủ tục đầu tư theo luật đầu tư có thể thay thế thủ tục đăng kí kinh doanh theo luật doanh nghiệp

6 106 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thẩm quyền chấp thuận và cấp giấy chứng nhận đầu tư Trước hết là về thẩm quyền chấp thuận: đối với các dự án thuộc khoản 1,2,3 Điều 37 NĐ 108/2006 về hướng dẫn thi hành một số điều của

Trang 1

BÀI LÀM Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan Sự ra đời của Luật đầu tư là bước đột phá trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam theo hướng không phân biệt, tạo lập môi trường chung cho mọi thành phần kinh tế và hình thức sở hữu được tự do đầu

tư, kinh doanh bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh Mục đích chủ yếu của việc quy định các thủ tục đầu tư là để đảm bảo sự quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, tranh sự lãng phí thất thoát kém hiệu quả trong đầu tư Đồng thời thông qua đó Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, từ đó có cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư

I Thủ tục đầu tư theo quy định của Luật đầu tư năm 2005

1 Thẩm quyền chấp thuận và cấp giấy chứng nhận đầu tư

Trước hết là về thẩm quyền chấp thuận: đối với các dự án thuộc khoản 1,2,3 Điều 37

NĐ 108/2006 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư năm 2005 nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng chỉnh phủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và Điều ước quốc tế mà việt Nam là thành viên thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư mà không cần phải trình Thủ tướng Chính Phủ

Đối với các dự án không nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt hoặc dự án không đáp ứng được các điều kiện mở cửa thị trường thì quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư lấy ý kiến Bộ quản lý ngành, Bộ kế hoạch và đầu tư, các cơ quan liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh

bổ sung quy hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường đầu tư

Đối với dự án không nằm trong quy hoạch thì cơ quan Cơ quan cấp giấy chứng nhậ đầu tư lấy ý kiến của Bộ quản lý ngành, Bộ kế hoạch và đầu tư và các cơ quan khác có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư (Điều 37 NĐ 108/2006)

Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện

việc đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với: Dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, bao gồm cả các dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư; Dự án đầu tư phát triển kết cấu

hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đối với những địa phương

chưa thành lập Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thực hiện việc đăng

ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, bao gồm cả các dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư

2 Thủ tục đầu tư

Theo Luật đầu tư năm 2005, các thủ tục pháp lý liên quan đến đầu tư được quy định theo

3 nhóm dự án đầu tư: dự án đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư, dự án đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư và dự án đầu tư phải thực hiện thủ tục thẩm tra đầu tư

Trang 2

a Dự án đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư : các dự án đầu tư trong nước

có vốn đầu tư dưới 15 tỉ đồng Việt Nam và không thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư không phải làm thủ tục đầu tư (Khoản 1 Điều 45 Luật Đầu tư năm 2005)

b Dự án đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư: đối với các dự án trong nước có quy

mô vốn đầu tư từ 15 tỉ đồng Việt Nam đến dưới 300 tỉ đồng Việt Nam và dự án đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư dưới 300 tỉ đồng Việt nam, không thuộc lĩnh vực đầu

tư có điều kiện thì nhà đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh

- Đối với dự án đầu tư trong nước, nhà đầu tư phải đăng ký đầu tư trước khi thực hiện

dự án Nội dung đăng ký đầu tư gồm: tư cách pháp lý của nhà đầu tư; Mục tiêu, quy mô

và địa điểm thực hiện dự án đầu tư; Vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án; Nhu cầu sử dụng đất và cam kết bảo vệ môi trường; Kiến nghị ưu đãi đầu tư (nếu có) Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư thì cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư (khoản 2, 3 Điều 45 Luật đầu tư năm 2005)

- Đối với dự án đầu tư nước ngoài, việc nhà đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư để

cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký đầu tư hợp lệ hồ sơ đăng ký đầu tư ngoài các văn bản về nội dung đăng ký đầu tư như các dự án đầu tư trong nước còn phải thêm các giấy

tờ sau: Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư và hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, điều lệ doanh nghiệp (nếu có) Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng

ký đầu tư hợp lệ (Điều 46 Luật Đầu tư năm 2005)

c Dự án đầu tư phải làm thủ tục thẩm tra đầu tư: đối với một số loại dự án phải thẩm

tra theo quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành thẩm tra hồ sơ dự án trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư

* Các loại dự án phải thẩm tra đầu tư gồm có: thứ nhất là dự án đầu tư trong nước và

dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên

và không thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện; thứ hai là dự án thuộc danh mục dự

án đầu tư có điều kiện

* Hồ sơ thẩm tra đầu tư :

Chủ đầu tư phải lập hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm ta Đối với mỗi nhóm dự án đầu tư thì yêu cầu về hồ sơ thẩm tra có khác nhau, cụ thể là:

Đối với dự án có quy mô vốn từ 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện, hồ sơ thẩm tra gồm: văn bản đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư; văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư; báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư; giải trình kinh tế kĩ thuật với các nội dung về: mục tiêu, địa điểm đầu tư, nhu cầu sử dụng đất, quy mô đầu tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án đầu tư, giải pháp công nghệ, giải pháp về môi trường Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hồ sơ thẩm tra còn bao gồm: hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, điều lệ doanh nghiệp (nếu có)(Khoản 1 Điều 48 Luật Đầu tư năm 2005)

Trang 3

Đối với dự án đầu tư thuộc danh mục đầu tư có điều kiện Nếu dự án có quy mô vốn đầu tư dưới 300 tỉ đồng Việt Nam, hồ sơ gồm: giải trình điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng; nội dung đăng ký đầu tư: đối với dự án đầu tư trong nước tư cách pháp lý của nhà đầu tư; Mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư; Vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án; Nhu cầu sử dụng đất và cam kết bảo vệ môi trường; Kiến nghị ưu đãi đầu tư, đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài nội dung đăng ký đầu tư ngoài các văn bản về nội dung đăng ký đầu tư như các dự án đầu tư trong nước còn phải thêm các giấy tờ: Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư và hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, điều lệ doanh nghiệp

Nếu dự án có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên, hồ sơ gồm: Giải trình điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng; các giấy tờ khác như hồ sơ thẩm tra đầu tư dự án

có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc danhh mục dự án đầu tư có điều kiện

Chủ đầu tư phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính xác thực và tính hợp pháp của các thông tin, số liệu, tài liệu gửi theo hồ sơ dự án

* Nội dung thẩm tra:

- Đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì nội dung thẩm tra gồm: sự phù hợp với quy hoạch kết cấu hạ tầng- kĩ thuật, quy hoạch sử dụng đất, đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch hoặc chưa có trong quy hoạch nếu trên, cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến của các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan; quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên và khoáng sản; nhu cầu sử dụng đất (diện tích đất, loại đất, tiến độ sử dụng đất); tiến độ thực hiện dự án; giải pháp bảo vệ môi trường(Khoản 2 Điều 48 Luật Đầu tư năm 2005)

- Đối với các dự án thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì nội dung thẩm tra là những điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng Các Bộ quản lý ngành có liên quan chịu trách nhiệm thẩm tra các điều kiện mà dự án đầu tư phải đáp ứng đối với dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định tại Điều 29 Luật đầu tư và phụ lục C của Nghị định 108/2006 Trường hợp các điều kiện của dợ án được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan hoặc quy định tại Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì

cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư quyết định việc cấp giấy chứng nhận đầu tư mà không phải lấy ý kiến thẩm tra của các Bộ, ngành liên quan; đối với dự án đầu tư trong nước, nếu dự án đã đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật thì cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư quyết định việc cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy trình đăng

ký đầu tư quy định (khoản 2 Điều 46 NĐ 108/ 2006)

Nếu dự án có quy mô từ 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên, nội dung thẩm tra còn bao gồm các nội dung như nội dung thẩm tra đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện như đã trình bày ở trên

* Thời hạn và quy trình thẩm tra đầu tư: Thời hạn thẩm tra đầu tư không quá 30 ngày

kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trường hợp cần thiết thời hạn trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày Quy trình thẩm tra đầu tư được thực hiện theo quy định của

Trang 4

Chính phủ, điều này được quy định tại cụ thể tại Điều 48, Điều 49, Điều 50 của Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư

* Cơ quan thẩm tra và cấp giấy chứng nhận đầu tư: cơ quan có thẩm quyền thẩm tra

đầu tư là những cơ quan nhà nước quản lý về đầu tư theo phân cấp của Chính phủ Những cơ quan này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những đề xuất và quyết định của mình đối với dự án

d Thủ tục đầu tư gắn liền với việc thành lập tổ chức kinh tế :

Có sự khác biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài về thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự

án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản

lý đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam nếu có dự án đầu tư mới thì được làm thủ tục thực hiện dự án đầu tư đó mà không nhất thiết phải thành lập tổ chức kinh tế mới Còn nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật luật đầu tư (2005)

Như vậy, từ quy định hiện hành của pháp luật về thủ tục đầu tư ta thấy có sự phân biệt giữa dự án đầu tư trong nước và dự án đầu tư nước ngoài: luật đầu tư năm 2005 đã lấy tiêu chí nguồn vốn đầu tư và quy mô vốn đầu tư để phân loại dự án đầu tư, theo đó thủ tục đầu tư có sự khác nhau giữa 3 nhóm dự án đầu tư là dự án đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư, dự án đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư và dự án đầu tư phải thực hiện thủ tục thẩm tra đầu tư.Dự án không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư là dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư dưới mười lăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư Đối với dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm tỷ đồng Việt Nam đến dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam, các dự án đầu tư nước ngoài có quy mô vốn dưới 300 tỷ đồng và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu tại

cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh Dự án phải thực hiện thủ tục thẩm tra đầu tư

áp dụng với dự án đầu tư có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng trở lên và không thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện hoặc các dự án thuộc danh mục lĩnh vực có điều kiện theo

đó chỉ có các dự án đầu tư trong nước mới có thể thuộc diện không phải làm thủ tục đăng

ký đầu tư, còn dự án đầu tư nước ngoài bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư

Theo đó, Luật đầu tư nên sửa đổi theo hướng áp dụng thống nhất thủ tục đầu tư không phân biệt nguồn vốn đầu tư trong hay ngoài nước để thúc đầy hoạt động đầu tư phát triển hơn nữa

II Thủ tục đầu tư theo Luật đầu tư không thể thay thế thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, vì:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật Đầu tư: Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Theo khoản

4 Điều 2 Nghị định 108/2006 thì nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam là

Trang 5

nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập tổ chức kinh tế lần đầu tại Việt Nam Với quy

định này, nhà đầu nước ngoài lần đầu đầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam phải

có dự án đầu tư và chỉ cần thực hiện thủ tục đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư

để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư mà không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh cho tổ chức kinh tế mà họ thành lập, vì giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho tổ chức kinh tế đó Điều này có nghĩa là Luật đầu tư năm 2005 đã thống nhất thủ tục đăng ký kinh doanh và thủ tục đầu tư, thủ tục đầu

tư đã thay thế thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp

Quy định trên không áp dụng cho nhà đầu tư trong nước mà theo khoản 3 Điều 50

Luật đầu tư quy định: “Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật này” Nhà đầu

tư trong nước khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế không nhất thiết phải có dự án đầu tư nhưng trước hết họ phải tiến thành thủ tục đăng ký kinh doanh cho tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và sau đó tiến hành thủ tục đầu tư theo Luật đầu tư năm 2005 và Nghị định 108/2006 Như vậy, đối với nhà đầu tư trong nước, Luật đầu tư đã tách biệt thủ tục đầu tư và thủ tục đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh và giấy chứng nhận đầu tư là hai loại giấy khác biệt do hai cơ quan khác nhau cấp

Như vậy, Thủ tục đầu tư theo Luật đầu tư không thể thay thế thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, vì đối với nhà đầu nước ngoài lần đầu đầu

tư vào Việt Nam thành lập tổ chức kinh tế thì thủ tục đầu tư có thể thay thế thủ tục đăng

ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; còn đối với nhà đầu trong nước có dự án đầu tư gắn liền với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thủ tục đầu tư không thể thay thế thủ tục đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, nhà đầu tư vẫn phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu

tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là hai giấy khác nhau, do cơ quan có thẩm quyền khác nhau cấp Điều này cho thấy Luật đầu tư năm 2005 thể hiện sự phân biệt đối

xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

Có thể nói đây là một trong những điểm bất cập của Luật đầu tư năm 2005, nhằm khắc phục hạn chế này thiết nghĩ Luật đầu tư năm 2005 cần tiếp tục hoàn thiện vấn đề này như sau: Tách biệt thủ tục đầu tư và thủ tục đăng ký kinh doanh, tách biệt giấy chứng nhận đầu tư và giấy đăng ký kinh doanh Nhà đầu tư thành lập danh nghiệp thì trước hết phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp nhằm xác nhận tư cách pháp lý của doanh nghiệp và sau đó nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư thì phải tiến hành thủ tục đăng ký đầu tư cho dự án nhằm xác nhận tính hợp pháp của dự án đầu tư Còn

nếu theo pháp luật hiện hành “Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” thì chính là Luật đầu tư lại điều chỉnh việc thành lập, hoạt

động, tổ chức của doanh nghiệp mà điều này thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp năm 2005

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật đầu tư, Nxb CAND, Hà Nội, 2007

Trang 6

 Luật đầu tư năm 2005

 Nghị định số 108/2006/ NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư

 Luật doanh nghiệp năm 2005

Đoàn Trung Kiên, Luật đầu tư- một số vấn đề bất cập, Tạp chí luật học số 5/2008,

Hà Nội, 2008

Ngày đăng: 20/03/2019, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w