1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài sản theo quy định tại điều 163 bộ luật dân sự năm 2005 – một số vấn đề lý luận và thực tiễn

20 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 151 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghĩa rộng tài sản có thể được hiểu là của cải được con người sử dụng và tài sản luôn gắn với một chủ thể xác định Từ hàng ngàn năm nay pháp luật về tài sản của các quốc gia đã được

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ.

Trong xu thế hội nhập kinh tế trên thế giới hiện nay thì giao lưu dân sự cũng được phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là quan hệ tài sản một trong những đối tượng điều chỉnh quan trọng của luật dân sự cũng được mở rộng Như ta đã biết quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Vì vậy để có thể điều chỉnh tốt loại quan hệ này thì cần phải có những quy định chặt chẽ, đúng đắn về chế định tài sản Hơn nữa việc xác định bản chất của các loại tài sản có một ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn Nó là cơ sở để chủ thể thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ trong giao lưu dân sự cũng như giúp cho việc giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến tài sản Do đó trong bài tiểu luận của mình em chọn

đề tài: “Tài sản theo quy định tại tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để hiểu rõ hơn các quy định về tài sản cũng như những điểm bất cập

trong quy định về tài sản Do thời gian và sự hiểu biết còn hạn chế, nên bài làm của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để bài làm của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận.

1 Khái niệm tài sản.

Theo nghĩa rộng tài sản có thể được hiểu là của cải được con người sử dụng và tài sản luôn gắn với một chủ thể xác định

Từ hàng ngàn năm nay pháp luật về tài sản của các quốc gia đã được hình thành Luật La Mã phân chia tài sản thành vật chất liệu và tài sản phi vật chất liệu Bản thân các tài sản phi chất liệu chính là các quyền và nó được phân chia thành hai loại là các quyền thiết lập trên vật chất liệu và các quyền có giá trị kinh tế đối với người khác Và vật chất liệu được phân chia thành động sản và bất động sản

Bộ luật dân sự của Canada xác định : “Tài sản hoặc hữu hình hoặc vô hình được chia thành bất động sản và động sản” (Điều 899) Theo quy định này thì tài sản được chia thành bất động sản hữu hình; bất động sản vô hình; động sản hữu hình và động sản vô hình

Bộ luật dân sự Pháp 1804 tuy không đưa ra định nghĩa cụ thể nào về tài sản nhưng

bộ luật đã tiếp cận tài sản theo hai hướng là vật và quyền Do vậy tài sản trong BLDS Pháp được hiểu bao gồm vật, các vật quyền và các tố quyền nhằm đòi lại tài sản

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 163 BLDS năm 2005 đã quy định một cách liệt kê về tài sản như sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”

Ngày nay tài sản được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, một khái niệm rộng và không giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra

2 Đặc điểm của tài sản.

Tài sản là vấn đề quan trọng khi xem xét các quan hệ có liên quan đến tài sản phát sinh từ các giao dịch dân sự, kinh tế Chính vì vậy việc xác định đặc điểm pháp lý của tài sản mang lại ý nghĩa đặc biệt cho hoạt động pháp lý Theo quy định tại Điều 163 BLDS tài sản có những đặc điểm sau:

Thứ nhất : Tài sản có tính giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng tiền Pháp luật quy định tiền thực hiện ba chức năng chính là công cụ thanh toán đa năng, công

cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản, và tiền chính là thước đo giá trị của các loại tài sản khác Theo Điều 163 BLDS thì những tài sản còn lại như vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều có thể quy đổi ra tiền

Trang 3

Thứ hai: Tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền Đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc là tinh thần Đây cũng chính là tính lợi ích của tài sản

Thứ ba : Tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự Chính vì đặc điểm này mà khái niệm tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kỳ để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó

3 Cơ sở của quy định về tài sản.

Quy định về tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995, theo

đó tại Điều 172 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Tiếp đó Điều 163 BLDS năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Ngoài ra các quy định về tài sản còn được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan

II Thực tiễn về tài sản theo pháp luật hiện hành.

Căn cứ vào Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản Đây là cách phân loại cũng đồng thời là cách định nghĩa tài sản của

bộ luật Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở bốn loại : vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

`1 Vật.

1.1 Định nghĩa về vật

Vật là một bộ phận quan trọng của thế giới vật chất mà con người có thể cảm nhận nó bằng các giác quan của mình, tuy nhiên để vật trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật dân sự thì chúng phải có những điều kiện nhất định

Điều 163 BLDS Việt Nam năm 2005 quy định vật với quan niệm là một tài sản trong thế giới vật chất khái niệm vật chất rất lớn nó bao trùm tất cả những gì xung quanh chúng ta Theo quan niệm luật dân sự vật chất phải thỏa mãn những điều nhất định như sau:

 Là bộ phận của thế giới vật chất

 Mang lại lợi ích cho chủ thể

 Có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát nhất về vật là đối tượng của quan

hệ pháp luật dân sự như sau: Vật là một bộ phận của thế giới vật chất tinh thần của mình”

Trang 4

Trong pháp luật Việt Nam, từ Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định vật là một loại tài sản Tuy nhiên có sự khác nhau giữa những quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 và BLDS năm 2005 đã có sự mở rộng phạm vi về vật, từ “vật có thực” năm 1995 sang “vật” năm 2005 là tài sản Như vậy, khái niệm vật chất chỉ dừng lại ở khái niệm vật hiện hữu mà vật chỉ được hình thành trong tương lai cũng có thể coi là tài sản Tại Điều 175 của BLDS năm 2005 đã xác định loại tài sản này là hoa lợi và lợi tức – đây chính là sự gia tăng của tài sản trong những điều kiện nhất định

Do sự phát triển của khoa học công nghệ khái niệm hiện vật trong khoa học pháp lý cũng được cũng được mở rộng Ví dụ: (vật thải nếu sử dụng làm nguyện liệu sẽ được coi là vật nhưng ở dạng bình thường thì không là vật)

BLDS đã quy định vật với tư cách là một loại tài sản của quan hệ dân sự nhưng lại không giải thích vật là gì Vì vậy, đã có rất nhiều tranh luận về điều kiện để vật là tài sản

Nó sẽ mang đặc tính của một tài sản hoặc tinh thần có thể đang tồn tại hoặc hình thành trong tương lai

1.2 Đặc điểm pháp lý của vật.

Các nhà làm luật trong khi quy định vật là một loại tài sản có lẽ với suy nghĩ vật là một khái niệm đã quá quen thuộc với chúng ta Do vậy BLDS chỉ đề cập đến phân loại vật cũng như trong các luật chuyên ngành chưa có văn bản cụ thể nào thể hiện sự hướng dẫn

cụ thể về vật với tư cách là đối tượng trong quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, dựa vào các loại vật được quy định trong BLDS như vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật đặc định… có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản của vật khi

là một tài sản

Vật thuộc bộ phận thế giới vật chất và phải do con người chiếm hữu được Thế giới vật chất vô cùng phong phú, cho nên vật rất đa dạng Nếu là những vật không thể kiểm soát được như nắng, mưa thì sẽ không được coi là tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự Con người có thể áp dụng quyền sở hữu lên chúng Trong đó các quyền chiếm hữu, quyền định đoạt Bao gồm các quyền nắm giữ, quyền quản lý tài sản, quyền chuyển giao, quyền sở hữu hoặc từ bỏ quyền đó Bên cạnh đó vật chỉ được coi là tài sản khi luôn mang lại cho chúng

ta một lợi ích tinh thần hoặc vật chất nhất định

Ngoài ra, đối với vật chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ vật chính đó

Ví dụ: có thể khai tháccốc để uống nước, bát để ăn cơm… Đây chính là điểm khác biệt của vật so với tiền và giấy tờ có giá khác khi hai tài sản này không thể khai thác công dụng từ chính tờ tiền hoặc giấy tờ có giá đó

Trang 5

Khác với các loại tài sản khác như tiền thì vật có thể do nhiều chủ thể sáng tạo ra Vật có thể được cấu tạo đơn giản hoặc phức tạp, do vậy đối với những vật có kết cấu cầu

kỳ thì không phải một chủ thể có thể tạo ra nó mà cần phải có sự hợp tác của nhiều chủ thể, những chủ thể này không bị hạn chế bởi pháp luật Ví dụ: xe máy không thể do một người tạo nên mà phải do mỗi người lắp ráp các bộ phận lại tạo thành

1.3 Phân loại vật.

Trong BLDS năm 2005 có nhiều cách phân loại vật và ở mỗi tiêu chí khác nhau nó lại mang ý nghĩa cho nền khoa học pháp lý

Vật chính và vật phụ:

Một trong những cách phân loại vật theo điều 176 BLDS năm 2005 là vật chia thành vật chính và vật phụ Có thể hiểu vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng và vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính

Ví dụ:cái kính là vật chính, hộp đựng kính là vật phụ Việc phân loại này mang ý nghĩa cơ bản cho việc thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật trong trường hợp chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ

Vật chia được và vật không chia được.

Căn cứ theo hình dáng, tính năng của vật người ta chia vật thành vật chính chia được và vật không chia được

Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu ví dụ:thóc, gạo, nước,…Bên cạnh đó vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên tính chất và khả năng sử dụng ban đầu.ví dụ: bàn, ghế.xe máy, ô tô…

Cách phân loại này có ý nghĩa trong trường hợp khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia Ví dụ; trường hợp mà vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì phải trị giá thành tiền để chia

Vật tiêu hao và vật không tiêu hao.

Căn cứ theo tính chất vật lý có thể phân loại vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao theo điều 178 BLDS năm 2005 Quy định vật tiêu hao là vật đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được hình dáng và tính năng ban đầu Ví dụ: Xăng dầu, xà phòng,…

Trang 6

Pháp luật quy định vật không tiêu hao là vật qua sử dụng một lần vẫn giữ nguyên được hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Ví dụ : Mũ nón, quần áo,Giày dép, xe máy…

Đối với vật tiêu hao thì không thể là đối tượng của hoạt động cho thuê, mượn Bởi đối tượng hoạt động này phải là tài sản sử dụng mang tính chất lâu bền Vật tiêu hao lại là vật sử dụng một lần đã mất đi hình dạng, tính năng ban đầu

Vật cùng loại và vật đặc định.

Ngoài cách phân loại trên thì vật còn được phân thành vật cùng loại và vật đặc định theo Điều 179 của BLDS năm 2005

Vật cùng loại là vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng đơn vị đo lường.Ví dụ: Rượu và nước giải khát cùng loại của một công ty sản xuất,…

Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí

Ví dụ:Trống đồng được khai thác Đông sơn, cầu Mỹ thuận,

Việc phân loại vật thành vật cùng loại, vật đặc định có ý nghĩa trong khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật Đối với vật cùng loại nếu bị hư hỏng, mất… có thể thay bằng vật cùng loại Còn đối với vật đặc định thì nó là vật duy nhất không thể dùng vật khác thay thế cho nó được

• Vật đồng bộ.

Vật động bộ là tập hợp các vật, mà chỉ có đầy đủ nó mới có giá trị sử dụng đầy đủ

Ví dụ như: Bộ ấm chén, Bộ bàn ghế,…Tập hợp các vật phải liên hệ với nhau thành một chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần, hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số kỹ thuật, thì không sử dụng được, hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút Ta có thể coi vật đồng bộ là vật có đôi như: Đôi giầy, đôi dép, đôi tất,…Theo nguyên tắc chung vật đồng bộ là đối tượng thống nhất trong các giao dịch dân

sự Vì thế, khi thực hiện nghĩa vujchuyeenr giao vật đồng bộ, thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành vật đồng bộ Ngoài ra các bên có thể thoae thuận từng vật trong “bộ” đó để chuyển giao riêng biệt ví dụ như: Một cái cái bàn, một cái ghế…

2 Tiền:

2.1 Định nghĩa tiền.

Trang 7

Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước

đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế Với việc Bộ luật dân sự năm 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995 thì về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là nội tệ và ngoại tệ Tuy nhiên ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông chứ

không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt Nam

Hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như một số ngành khoa học có liên quan đã

có rất nhiều quan niệm về tiền theo Mác: “tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách

ra khỏi thế giới hàng hóa để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác

nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa”

Theo các nhà kinh tế hiện đại thì tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ trong việc trả nợ

Trong BLDS hiện hành của Việt Nam tuy đã quy định tiền là một loại tài sản, nhưng lại không có những quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Tuy nhiên thông qua các quan niệm thì có thể đưa ra một số định nghĩa chung nhất về tiền như sau: “Tiền được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tai sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thực tế”

Như vậy chỉ có loại tiền đang được lưu hành tức là được pháp luật thừa nhận tại thời điểm đó mới được coi là một loại tài sản Thực tế cho thấy rằng những đồng tiền cổ sẽ không còn tính chất là thước đo giá trị của các loại tài sản trong thời đại ngày nay

Có thể nói từ khái niệm của tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác thấy rằng tiền chứa đựng những tính chất đặc biệt mà không phải loại tài sản nào cũng có một trong những tính chất cơ bản

- Được chấp nhận rộng rãi: Đây là tính chất quan trọng nhất của tiền tệ, người

dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiền nữa Kể cả một tờ giấy bạc do trung ương phát hành sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi

- Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền phải dễ nhận biết, người ta

có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng Chính vì thế những tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy nào khác

Trang 8

- Tiền phải có các loại mệnh giá khác nhau: sao cho nguời bán nhận đúng số tiền

bán hàng còn người mua thì thanh toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng trao đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta sẽ phải nhận về

số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ khác cũng cần thiết không kém

- Tính bền lâu: Tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá

trị cũng như mới có ích trong trao đổi Một vật mau hỏng không thể dùng làm tiền, chính vì vậy những giấy bạc được in chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc

- Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì

nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất giữ

và không được chấp nhận trong lưu thông nữa Vì thế lịch sử những kim loại khan hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ và ngày nay ngân hàng trung ương và ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiền giấy và tiền xu

Với tính chất đặc biệt như trên tiền luôn được xem như một loại tài sản đặc biệt trong quan hệ pháp luật dân sự

2.2 Bản chất pháp lý của tiền.

Theo Điều 163 đã quy định 4 loại tài sản: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản Trong đó có thể nói tiền là một loại tài sản đặc biệt Như vậy, chúng ta đã biết tài sản mang tính giá trị và thước đo giá trị chính là tiền Người ta dùng tiền để xác định giá trị của các loại tài sản, qua đó có thể biết được tài sản nào có giá trị hơn

Như vậy, việc tất cả các tài sản đều có thể quy đổi ra tiền đã tạo nên tính đặc biệt của loại tài sản

Tiền là một loại công cụ thanh toán đa năng: trong thời kỳ xa xưa khi tiền chưa

hình thành, các giao dịch hàng hóa diễn ra bằng phương thức vật đổi lấy vật.Ví dụ: một người bán thóc và cần mua nông cụ còn người bán nông cụ cần mua vải, như vậy thì giao dịch giữa hai người này sẽ không thể xảy ra vì cái mà người bán thóc bán không phải là cái

mà người bán nông cụ cần mua Vì vậy ta có thể thấy giao dịch chỉ diễn ra khi 2 đáp ứng nhu cầu của nhau Vì thế mà hoạt động giao dịch này càng bị hạn chế Cho đến khi tiền ra đời thì quá trình đơn giản đi rất nhiều Và người bán thóc chỉ cần bán thóc đi lấy tiền và

Trang 9

mua nông cụ Vì vậy mà tiền được coi là phương tiện thanh toán hữu hiệu nhất Đặc biệt tiền còn có thể trao đổi với bất cứ loại tài sản nào Cho nên có thể nó tiền là công cụ thanh toán đa năng

Tiền là công cụ tích lũy tài sản: có thể nói trong đời sống kinh tế tiền thực hiện chức

năng là công cụ tích lũy khi nó tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai Tiền có tính bền lâu, bởi vậy nên nó thực hiện chức cất giữ giá trị Một vật mau hỏng không được để làm tiền, chính vì vậy tiền luôn được in trên giấy có chất lượng cao và tiền xu thì làm bằng kim loại Khi tiền xuất hiện người ta dần thay thế tích lũy dưới hình dạng tiền tệ Vì hình thái này có nhiều điểm nổi bật như lưu thông dễ dàng và là loại tài sản có tính thanh khoản, lưu thông… Tuy nhiên khi nền kinh tế lạm phát thì việc tích lũy bằng tiền tệ có thể mất giá trị

Tiền là thước đo giá trị Chức năng này xuất phát khi tiền đo lường và biểu hiện giá

trị của các hàng hóa khác Chúng ta có thể ví đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo lường khối lượng bằng kilôgam hoặc đo khoảng cách bằng mét Khi tiền chưa xuất hiện thì công việc này diễn ra khá phức tạp Ví dụ : trong nền kinh tế chỉ có 3 mặt hàng: gạo, vải , muối thì có 3 giá trị để trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kg gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu

kg muối, giá của một kg gạo tính bằng bao nhiêu cân muối Cho đến khi nền kinh tế phát triển hơn, chúng ta có nhiều hàng hóa để trao đổi hơn thì việc xác định vật này rẻ hơn vật kia hay ngược lại là vấn đề hết sức khó khăn vì phải so sánh với giá của nhiều mặt hàng Cho đến khi tiền được đưa vào nền kinh tế và dùng để thể hiện giá trị của tất cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh các mặt hàng với nhau Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính thu nhập, thuế, chi phí sinh hoạt…

2.3 Phân biệt tiền và vật

Theo quy định Điều 163 BLDS năm 2005 thì tiền và vật cùng là tài sản nhưng giữa chúng lại có những điểm khác biệt về đặc điểm pháp lý

Đối với vật có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó Ví dụ: xe máy dùng để đi, cốc dùng để uống nước… còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng từ chính tiền Tiền có thể được làm bằng giấy hoặc làm bằng kim loại nhưng để khai thác công dụng của nó một cách trực tiếp thì sẽ không thu được hiệu quả Mà tiền chỉ thể hiện lợi ích của chúng qua cách thực hiện chức năng của nó: công cụ thanh toán đa năng, công

cụ tích lũy tài sản, công cụ định giá

Trang 10

Tiền chỉ có thể được tạo ra bởi nhà nước, việc phát hành do nhà nước độc quyền còn vật có thể do rất nhiều các chủ thẻ khác tạo ra

Chủ sở hữu vật được quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu hợp pháp của mình, nhưng chủ sở hữu tiền không được tiêu hủy tiền( không được xé, sử, thay đổi kích thước của tiền.) Theo Điều 3 nghị quyết 130/2003/NQ – TTg về bảo vệ tiền tệ

Bên cạnh đó thì vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường kilogam,mét Thì tiền được xác định thông qua mệnh giá của nó

3.Giấy tờ có giá:

3.1 Định nghĩa giấy tờ có giá:

Giấy tờ có giá là loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Nó được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, trái phiếu, công trái…

3.2 Đặc điểm giấy tờ có giá

Dưới góc độ pháp lý, giấy tờ có giá với tư cách là một hình thức pháp lý của tài sản trong quan hệ dân sự có các đặc điểm sau:

- Xét về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trật tự luật định; nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ;

- Giấy tờ có giá là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu;

- Chủ thể phát hành giấy tờ có giá rộng hơn tiền, có thể do các chủ thể khác nhau phát hành (Nhà nước, các tổ chức ngân hàng phát hành theo trình tự luât định );

- Do dặc trưng của tài sản là có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự nên chủ sở hữu giấy tờ có giá là một lớp người không ổn định;

- Không phải loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là tài sản trong pháp luật dân sự

3.3.Các loại giấy tờ có giá.

* Các loại giấy tờ có giá theo nghĩa rộng.

Với chức năng là công cụ tài chính, giấy tờ có giá bao gồm: Cổ phiếu và trái phiếu Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường Trái phiếu bao gồm trái phếu chính phủ và trái phiếu công trái, tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư, trái phiếu huy động vốn cho từng công trình, trái phiếu huy động vốn cho quỹ

Ngày đăng: 20/03/2019, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w