Việc quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến việc phát sinh nhiều ngày càng nhiều mối quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài thuộc các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thươ
Trang 1Đề 3: tại sao nói: Áp dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan
trong TPQT
Lời mở đầu:
Hội nhập quốc tế đã và đang là một xu thế tất yếu khách quan của quá trình toàn cầu hóa các mối quan hệ dân sự- kinh tế- thương mại, hôn nhân và gia đình, là một vận hội nhưng đồng thời cũng là thách thức gay gắt đối với mọi quốc gia
Việc quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến việc phát sinh nhiều ngày càng nhiều mối quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài thuộc các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân gia đình Để điều chỉnh các mối quan hệ này, ở những mức độ khác nhau, pháp luật cá nước đều thừa nhận và cho
phép áp dụng luật nước ngoài Nói cách khác “Áp dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan trong TPQT” Vậy tại sao nói Áp dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan trong TPQT? Để làm rõ vấn đề này, em
đã chọn đề tài “tại sao nói: Áp dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan trong TPQT” làm bài tập cuối kì của mình Với trình độ hiểu biết
cũng như kiến thức còn hạn chế, bài làm của em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô quan tâm chỉ bảo để bài làm của em có thể hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
1 Một số vấn đề chung về “áp dụng pháp luật nước ngoài” trong tư pháp quốc tế
1.1, Khái niệm
Tư pháp quốc tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đinhf, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài
Trang 2Về “ yếu tố nước ngoài” trong khoa học tư pháp quốc tế cũng đã có sự thừa nhận chung là có ba loại yếu tố nước ngoài
Thứ nhất , chủ thể tham gia quan hệ dân sự có ít nhất một bên trong các bên tham gia là người nước ngoài Người nước ngoài ở đây được hiểu theo nghĩa rộng:
có thể là cá nhân nước ngoài, hoặc pháp nhân nước ngoài hoawch quốc gia nước ngoài
thứ hai, đối tượng của quan hệ dân sự là tài sản ở nước ngoài Trong trường hợp này các bên chủ thể tham gia vào qu`an hệ dân sự cũng quốc tịch nhưng tà sản liên quan đến quan hệ đó nằm ở nước ngoài Ví dụ: hai công dân việt nam trabh chấp nhau về ngôi nhà hiện đang nằm tại Hoa Kỳ
Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra
ở nước ngoài Trong trường hợp này các bên chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự
có cùng quốc tịch nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài Ví dụ: hai công dân việt nam kết hôn với nhau ở Liên bang Nga
Nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài như phân tích ở trên,ở những mức độ khác nhau, pháp luật các nước đều thừa nhận và cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài
Áp dụng pháp luật nói chung được hiểu là: “ hoạt động của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hoặc cá nhân tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền vận dụng các quy phạm pháp luật thích hợp nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của các cá nhân hay tổ chức trong trường hợp cụ thể đưa ra áp dụng”
Về khái niệm Áp dụng pháp luật nước ngoài, giáo trình TPQT của các trường trường đại học không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng có thể hiểu áp dụng pháp luật
nước ngoài “là việc cơ quan có thẩm quyền của 1 nước vận dụng các qui định cụ thể của pháp luật 1 nước khác để giải quyết các quan hệ cụ thể “
Trang 3Pháp luật nước ngoài hay “Pháp luật 1 nước khác”- ở đây thực chất chính là pháp luật của một quốc gia - đó là hệ thống văn bản pháp quy ( kể cả luật ko thành văn) của một quốc gia bao gồm Hiến pháp, luật và các ăn bản dưới luật cùng với những tập quán và án lệ, thực tiễn tư pháp
1.2 Trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài.
Để điêu chỉnh và giải quyết các quan hệ dan sự quốc tế, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật nước ngoài khi xảy ra một trong hai trường hợp sau:
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng luật nước ngoài khi QPXD dẫn chiếu tới QPXD có thể là QPXD trong pháp luật Việt nam và quy phạm xung đột cũng có thể là trong các điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng luật nước ngoài khi các bên thỏa thuận trong hợp đồng dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài
Trong trường hợp không có sự dẫn chiếu của QPXĐ cũng như không
có việc chọn luật của các bên đương sự, nhưng việc áp dụng pháp luật
nước ngoài là cần thiết, thì có thể áp dụng nguyên tắc “Luật điều chỉnh các quan hệ xã hội tương tự.”
1.3 Thể thức áp dụng pháp luật nước ngoài
Áp dụng luật nước ngoài là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ dân sự quốc tế, đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cả thế giới, song việc áp dụng pháp luật nước ngoài một số tiêu chí cơ bản sau:
Trang 4Thứ nhất, Các cơ quan tư pháp có thẩm quyền cần áp dụng luật nước ngoài một cách thiện chí và đầy đủ Điều này được hiểu là áp dụng cr một hệ thống luật nước ngoài được viện dẫn, hệ thống nước ngoài được cơ cấu như thế nào, bằng những loại nguồn pháp luật nào đều phải được áp dụng mà không được loại bỏ một cách tùy tiện
Thứ hai, Pháp luật nước ngoài phải được giải thích và thực thi về nội dung như ở chính nước nơi nó được ban hành Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu tới pháp luật nước ngoài có nghĩa là dẫn chiếu tới toàn hộ hệ thống pháp luật của nước đó Như vậy, khi áp dụng luật nước ngoài là
áp dụng toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài nên nó phải được giải thích, xác định nội dung và áp dụng để giải quyết vụ việc đúng như ở nước ban hành nó
Thứ ba, Cơ quan tư pháp có thẩm quyền và coq quan xét xử có nhiệm vụ tìm hiểu và xác định nội dung qua nghiên cứu văn bản pháp luật, qua thực tiễn hành pháp, tư pháp, tập quán, tài liệu của nước hữu quan Ngoài ra
có thể thoonmg qua cong dường ngoại giao, coq quan đại diện ngoại giao, lãnh sự ở nước ngoài của nhà nước mình, cung như thông qua các tổ chức
tư vẫn, công ty luật hoặc cơ quan nghiên cứu pháp lý để tìm hiểu luật nước ngoài một cách tốt nhất phục vụ cho việc xét xử Các bên đương sự trong vị việc cũng có quyền và trách nhiệm minh chứng, viện dẫn giải thích, vận dung trước cơ quan xét xử để xác định nội dung đích thực của luật nước ngoài để bảo vệ lợi ích của mình
Trong trường hợp không thể xác định được nội dung pháp luật nước ngoài, theo quan điểm của chúng ra các cơ quan xét xử nên áp dụng pháp luật nước mình để xử lý vụ tranh chấp giữa các đương sự Sở dĩ như vậy, là vì không thể không giải quyết tranh chấp đã phát sinh và
Trang 5không thể áp dụng pháp luật nước ngoài một khi đã làm hết mọi cách
mà không nắm được nội dung và cách giải thích vận dụng pháp luật nước ngoài hữu quan
1.4 , Điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài.
Áp dụng luật nước ngoài là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ dân sự quốc tế, đảm bảo sự ổn định ,củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cá thế giới Song việc áp dụng luật nước ngoài phải đáp dứng điều kieemk là luật nước ngoai được áp dụng không trái với nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật trong nước của nước áp dụng luật nước ngoài Điều kiện này được ghi nhận trong pháp luật các nước trên thế giới ở việt nam, điều kiện nay được ghi nhận tại khaorn 4 điều 759 BLDS 2005
2 Áp dụng luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan trong TPQT
Tất yếu là “Tất phải như thế, không thể khác được (nói về những cái có tính quy luật); trái với ngẫu nhiên Hay “ Nhất thiếtphải có, không thể thiếu để có được một kết quả, một tác dụng nào đó”
Còn Khách quan là “ 1 cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người trong quan hệ đối lập với chủ quan 2 Có tính chất xuất phát từ thực
tế, biểu hiện thực tế một cách trung thực, không thiên lệch
Ap dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan trong TPQT theo em chính xuất phát từ sự cần thiết của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong TPQT
2.1 Việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế một hệ quả tất
Trang 6yếu nhằm giải quyết xung đột pháp luật (theo sự chỉ dẫn của quy phạm xung đột).
Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hat nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước
ngoài Để giải quyết XDPL nói chung trong TPQT có hai phương pháp chính
là phương pháp dung đột và phương pháp thực chất thông qua việc xây dựng
và áp dụng các QPXĐ cũng như quy phạm thực chất
Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong những cách phổ biến là quốc gia xây dựng một hệ thống các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật nước mình và trong các điều ước quốc tế mà quốc tế mà quốc gia đó là thành viên,
Trong đó, QPXD là loại qui phạm được sử dụng rất phổ biến để điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài của Tư pháp quốc tế Khi không có QPTC thống nhất, các quốc gia giai quyết XDPL bằng cách xây dựng và
áp dụng các QPXĐ QPXD là quy phạm ấn đính luật pháp nước nào cần ohari áp dụng để giai quyết quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài trong một tình huống thực tế
QPXD được xây dựng bằng cách các quốc gia tự ban hành trong hệ thống pháp luậ của nước mình, ngoài ra nó còn được xây dựng bằng cách các quốc gia thỏa thuận ký kết các điều ước quốc tế ( gọi là QPXD thống nhất)
Chính Việc áp dụng các QPXD có ý nghĩa thừa nhận pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng để ddieur chỉnh mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp nhất định Trong thực tiễn TPQT việc áp dụng pháp luật nước ngoài là không thể tránh khỏi là đặc thù của TPQT Tất cả các nước đều thừa nhận và cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài
Xem xét ví dụ về việc cơ quan xét xử áp dụng pháp luật nước ngoài theo sự chỉ dẫn của QPXD của nhà nước mình
Trang 7Ví dụ: khoản 1 điều 773 BLDS 2005 quy định: Việc BTTHNHĐ được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”
Như vậy nếu hành vi gây thiệt hại hoặc hậu quả của hành vi gây thiệt hại xảy ra
ở nước ngoài xảy ra ở nước ngoài những vụ kiện thuộc thẩm quyền của tòa án việt nam thì tòa án VN áp dụng pháp luật nước ngoài hữu quan Một ví dụ khác, theo
điều 103 luật HNGD ““Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn” do đó
để xác định điều kiện kết hôn của bên đương sự là công dân của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải áp dụng pháp luậ nước ngoài hữu quan
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài cũng có thể do QPXĐ thống nhất mà nhà nước mình tham gia xây dựng Ví dụ: khoản điều 20 hiệp định tương trợ tư pháp
Việt Nam- bugari năm 1985 quy định rằng: “ hình thức kết hôn được xác định theo pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn” Như vậy, bất kể quốc tịch của các bên
đương sự, nếu kết hôn trên lãnh thổ bugari thì pháp luật bungari được áp đụng để
xe xét giá trị pháp luật của cuộc kết hôn về mặt hình thức Trong trường hợp để điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội cụ thể có yếu tố nước ngoài, có cả QPXD của riêng nước mình và quy phạm thống nhất của nhà nức tham gia xây dựng với những nội dung khác nhau thì cơ quan xét xử áp dụng quy phạm xung đột thống nhất đây là nguyên tắc chung giải quyết trường hợp có sự khác nhau về nội dung giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế được quốc gia kí kết hoặc tham gia Nguyên tắc này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt nam như luật hôn nhân gia đình năm 2000, luật thi hành án dân sự năm 2008
Trang 8Khi áp dụng QPXD cần lưu ý rằng, có loại quy phạm xung đột quy định áp dụng các pháp luật của nước do các bên đương sự lựa chọn, nếu các bên đương sự chọn pháp luật nước ngoài thì cơ quan xét xử phải áp dụng pháp luật nước ngoài Tuy nhiên thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng giữa các đương dự phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế, nói cách khác việc thỏa thuận pháp luật chi được tiến hành trong khuôn khổ cho phép Trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như quan hệ kinh tế, buôn bán quốc tế, hợp tác khoe học, kỹ thuật, văn hóa Pháp luật các nước ở các nước mức
độ khác nhau đều cho phép các bên đương sự thỏa thuận chọn luật để áp dụng Ví
dụ, Bộ luật Hàng hải năm 2005 (khoản 2 Điều 4); Luật Thương mại 2005 (khoản 2, khoản 3 Điều 4); Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (khoản 2, khoản 3 Điều 4) Đặc biệt, đoạn 1 khoản 1 Điều 769 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định rõ: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”
Cũng cần chú ý rằng, Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài thì việc áp dụng pháp luật nước ngoài đó là nghĩa vụ của cơ quan xét xử và các đương sự, co quan xét xử không được tự tiện gạt bot việc áp dụng pháp luật nước ngoài, trừ trường hợp cần đảm bảo trật tự công cộng theo quy định của pháp luật nước mình hoặc các điều ước quốc tế mà nước mình ý kết hoặc tham gia
Tóm lại, chính Việc áp dụng các quy phạm xung đột dẫn tới việc pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu
tố nước ngoài
2.2.Thứ hai, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là nhu cầu tất yếu, khách quan,để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng từ đó bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển.
Trang 9Việc điều chỉnh các quan hệ dân sự- kinh tế- thương mại, lao động, hôn nhân gia đình,,,có yếu tố nước ngoài ( thường liên quan đến nheieu hệ thống pháp luật) đòi hỏi sự chính xác khách quan Vì vậy, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật Việt nam cũng như pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho phép áp dụng luật nước ngoài Tuy nhiên, việc cho phép áp dụng luật nước ngoài không phải là nghĩa vụ pháp lí của mỗi quốc gia mà là thuộc chủ quyền quốc gia, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như bảo hộ những quyền lợi hợp pháp của công dân, pháp nhân nước mình, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự quốc tế
Thực tiễn giải quyết xung đột pháp luật đã chứng tỏ rằng, nếu cơ quan tư pháp chỉ áp dụng pháp luật nước mình để điều chỉnh bất kì quan hệ ,mang tính chất dân
sự có yếu tố nước ngoài nào, bằng mọi cách cố tình mở rộng hiệu lực của pháp luật nước mình mà khồng tính đến trường hợp cụ thể cần phải áp dụng pháp luật nước ngoài đều dẫn tới sự thủ tiêu tính khach quan, công bằng- những nguyên tắc cơ bản của bất kì quá trình tố tung nào Hậu quả là sẽ gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân nước ngoài
Như vậy việ cho phép áp dụng luật nước ngoài nhằm điểu chỉnh các giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài là điều iện hết sức cần thiết cho sự phát triển bình thường các quan hệ mang tính chất dân sự quốc tế
Xét một Ví dụ: công dân quốc tịch nước anh đềulàm ăn sinh sống ở nước B, một khối tài sản ở nước B, một khối tài sản ở nước C, vì lý do nào đó bị chết ở nước D và để lại di sản Như vậy 4 hệ thống pháp luật của 4 nước tham gia điều chỉnh vè quyền thừa kế Đối với tài sản là bất động sản thì khả năng chọn luât sẽ là nơi có vật từ là pháp luật nước C đối với tài sản là động sản thì khả năng áp dụng luật quốc tịch là luật nước A Nếu tài sản có cả hai loại thì phân ra động sản và bất động sản để chọn luật Trong ví dụ này rõ ranegf là có sự áp dụng luật nước ngoài
và cần thiết phải áp dụng luật nước ngoài Việc áp dụng đó, tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đang của mình, góp phần
Trang 10đảm bảo tính ổn định và thúc đẩu các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài phát triển Nói cách khác việc áp dụng luật nước gnoaif trong trường hợp cụ thể nàu là hợp lý, hợp tình, là yêu cầu khách quan của việc điều chỉnh pháp
lý các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
Bên cạnh đó, có thể thấy việ a-s dụng pháp luật nước ngoài còn là nhu cầu tất yếu khách quan để giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế trong sự phối kết hợp của hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật mà tất cả đều thừa nhận là giữa các hệ thống pháp luật đều bình đẳng đối với nhau Về thực chất, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là yêu cầu của chính quốc gia trong quá trình bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như pháp nhan nước mình, của chính bản thân mình trong giao lưu dân sự quốc tế Việc áp dụng pháp luật nước ngoài không hề gây cho nước ngoài hữu quan bất kỳ thiệt hại gì và cũng không làm hại gì cho quan hệ giữa các quốc gia Ngược lại nó làm cho giao lưu dân sự quốc tế ổ định và phát triển thuận lợi vì lợi ích chung của cacsr cộng đồng quốc tế và của từng quốc gia Nói cách khác, Việt cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài bao giờ cũng tăng cường và củng cố sự hopej tác về mọi mặt giữa các quốc gia, phát triển sự hiểu biết và tin
tưởng lẫn nhau nhằm thiết lập 1 trật tự pháp lí ổn định trên thế giới Từ đó thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển.
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể khẳng định việc vần thiết phải áp dụng
lật nước ngoài để giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, là một nhu cầu khách quan
dể bảo đả, lợi ích, công bằng trong xã hội Song việc áp dụng luật nước gnoaif phải luôn gắn liền với việc bảo đảm độc lập, chủ quyền, nòh đẳng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm sự an ninh ổn định, chế độ xã hội chủ nghĩa và nền tảng pháp luật của nhà nước ta,