1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy tiết ôn tập tiếng việt trong chương trình ngữ văn 9 nhằm nâng cao hiệu quả dạy – học

25 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 6,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với phân môn tiếng Việt, nội dung dạy học có khá nhiều vấn đề mới khôngchỉ cung cấp kiến thức, cung cấp vốn từ để học sinh có thể dùng từ viết câu vàliên kết câu trong văn bản mà còn có

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục trongthời kì đổi mới là nhằm xây dựng, đào tạo những thế hệ con người có năng lựctiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, của dân tộc và phát huy tính tíchcực của cá nhân trong việc làm chủ tri thức, có kĩ năng thực hành giỏi, có tư duysáng tạo, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức, tính kỉ luật, có sức khỏe đểxây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đấtnước Để đạt được nhiệm vụ đặt ra thì giáo dục phải được coi là nhiệm vụ củatoàn đảng, toàn dân, toàn xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò quan trọngnhất

Với nhà trường phổ thông, ngoài việc trang bị cho học sinh những trithức, phẩm chất của người lao động mới còn phải trang bị cho các em tình yêuthương, tinh thần hợp tác, đoàn kết và lòng nhân ái Trong đó việc trang bị chohọc sinh những tri thức khoa học cũng là một nhiệm vụ cơ bản vì tri thức là chìakhóa mở cửa cho tất cả các bộ môn khoa học

Mỗi môn học trong nhà trường đều có đặc thù riêng, một phương phápnhận thức Đặc điểm bộ môn và phương pháp nhận thức có nghĩa hết sức quantrọng trong quá trình tìm tòi và thiết kế những giải pháp dạy và học bộ môn

Đối với môn ngữ văn, đây là một môn học có vị trí đặc biệt trong việcthực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS, góp phần hình thành con người

có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêunước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹpnhư : lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cáixấu cái ác; đồng thời, giúp các em bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trịchân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học; có năng lực thựchành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp

Bộ môn Ngữ văn nói chung, phân môn tiếng Việt nói riêng còn cung cấpcho học sinh vốn ngôn ngữ, một công cụ giao tiếp giúp cho học sinh nói đúng,viết đúng, tiến tới nói hay và viết hay tiếng Việt Mặt khác dạy tiếng Việt là dạytiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm hiểu và và yêu tiếng mẹ đẻ

Với phân môn tiếng Việt, nội dung dạy học có khá nhiều vấn đề mới khôngchỉ cung cấp kiến thức, cung cấp vốn từ để học sinh có thể dùng từ viết câu vàliên kết câu trong văn bản mà còn có khả năng vận dụng rộng rãi trong việcphân tích văn bản trong phân môn văn và phân môn Tập làm văn

Chương trình ngữ văn 9 dành một thời lượng cho các phần ôn tập, tổngkết, kiểm tra không chỉ ôn tập tổng kết những vấn đề của lớp 9 mà của cả cấphọc, ở học kì I Về tiếng Việt số tiết ôn tập, tổng kết và kiểm tra gần bằng số tiếthọc bài mới Phối hợp một cách hợp lí có hiệu quả việc ôn tập, tổng kết và cung

Trang 2

cấp kiến thức mới là một đòi hỏi khắt khe đối với việc tổ chức dạy - học ngữ văn

9 (cuối bậc THCS, cuối kì II của chương trình thay sách)

Qua thực tế giảng dạy cũng như qua việc nghiên cứu các nguồn tài liệu

dạy học, tôi mạnh dạn đúc rút đề tài: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy tiết ôn tập tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 9 nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học” Đây là một vấn đề mà trong quá trình dạy

học chúng tôi đã gặp phải rất nhiều khó khăn cả về phía giáo viên và học sinh

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, nghiên cứu đề tài “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy tiết ôn tập tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 9 nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học” là để tìm ra biện pháp phù hợp, nhằm đảm bảo

hiệu quả và nâng cao chất lượng trong giờ dạy - học phân môn Tiếng Việt ở nhàtrường phổ thông Bên cạnh đó, nhằm xác định các cơ sở lí luận, các nguyên tắc,yêu cầu, rút ra kết luận về các giải pháp nhằm giúp học sinh tiếp nhận bài họcmột cách hiệu quả trong tiết ôn tập Tiếng Việt; phát huy được vai trò chủ thể củahọc sinh trong việc thực hiện các hoạt động học tập để phù hợp với mục tiêu dạyhọc là đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học Đó cũng là hướngtiếp cận quan điểm giúp học sinh mạnh dạn, tự tin trong học tập, giúp học sinhphát huy được những năng lực sẵn có Việc quan tâm đúng mức trong rèn luyệncác kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết giúp các em khắc sâu kiến thức và hoànthiện các kỹ năng sống cần thiết Đây cũng là cơ sở thực tiễn, là nền tảng choviệc hình thành thói quen tốt trong việc học tập của học sinh

Bên cạnh đó, mục đích của đề tài còn nhằm để: Hệ thống hóa kiến thứctiếng Việt đã học trong học kì (hoặc học kì II) của các lớp; đồng thời, kết hợpvới các bài tập làm văn và các văn bản văn học trong chương trình để rèn luyệncác kĩ năng tổng hợp về sử dụng tiếng Việt trong nói và viết; ngoài ra, còn gópphần tạo hứng thú cho HS khi học các tiết ôn tập nói chung và tiết ôn tập tiếngViệt nói riêng trong nhà trường THCS hiện nay

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng chủ yếu mà sáng kiến kinh nghiệm tập trung nghiên cứu làviệc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong việc giảng dạy tiết ôn tậptiếng Việt ở chương trình Ngữ văn lớp 9

- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là một số tiết ôn tập tiếng Việt nói chung và

tiết ôn tập tiếng Việt 9 nói riêng

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1 4.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập những thông tin lí luận của việc đổi mới phương pháp dạy họctiếng Việt trong dạy học ở Trung học phổ thông, Trung học cơ sở qua tài liệu,những kiến thức về tâm lí dạy học, tài liệu bồi dưỡng giáo dục thường xuyên…

Trang 3

1 4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

Quan sát kết quả đạt được từ hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh thông qua các băng đĩa dạy mẫu

- Phương pháp điều tra

Trò chuyện, trao đổi với đồng nghiệp, học sinh về hiệu quả của các phương pháp đổi mới dạy học phân môn tiếng Việt trong dạy học Ngữ văn

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tham khảo những bản báo cáo, tổng kết về ứng dụng các phương pháp dạy học trực quan, sử dụng giáo án điện tử vào dạy học Tham khảo kinh nghiệm của các đồng nghiệp, các bài viết, chuyên đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

Trang 4

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề

Trong sách Lý luận dạy và học có nhiều định nghĩa khác nhau về phươngpháp dạy học (PPDH) mỗi định nghĩa nhấn mạnh một vài khía cạnh nào đó,phản ánh sự phát triển nhận thức của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về bảnchất của khái niệm PPDH ở một thời kỳ khác nhau

Nghị quyết TƯ 4 khóa VII/1993 đã đề ra nhiệm vụ "đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học bậc học ", Nghị quyết TƯ 2 khóa VII ( 12-1996) nhận định: “phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được tính tích cưc, chủ động sáng tạo của người học".

Hiện nay, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới PPDHtheo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập, theo tôi

định nghĩa sau được xem là phù hợp: "phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên trong chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học".

Trong tiến trình một tiết dạy – học, nội dung và phương pháp dạy học baogiờ cũng gắn bó với nhau, mỗi nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp.Các kĩ năng giao tiếp không thể được hình thành và phát triển bằng con đườngtruyền giảng thụ động Muốn phát triển kĩ năng này, học sinh phải được hoạtđộng trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy (cô) Đó là những lí

do cắt nghĩa sự ra đời của phương pháp dạy học mới - Phương pháp tích cực hóa

hoạt động của người học: lấy học sinh làm trung tâm, trong đó giáo viên là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được tham gia hoạt động, đều được bộc lộ mình và phát triển rèn luyện

2.1.1.Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực ( PPTC) là phương pháp dạy – học hướngtới hoạt động nhận thức của người học Tích cực hóa trong hoạt động học tậpliên quan trước hết đến động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứngthú đúng là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tính tíchcực Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập là mầm mốngcủa sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực, độc lập, sáng tạo sẽ pháttriển sự tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập

Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời cáccâu hỏi của giáo viên (GV), bổ sung các câu hỏi của bạn, thích phát biểu ý kiếncủa mình trước vấn đề đặt ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích căn kẽ nhữngvấn đề chưa rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng để nhận thức vấn đề mới;tập trung chú ý vào những vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành bài tập, khôngnản trước những tình huống khó khăn

Tính tích cực học tập đạt được những cấp độ từ thấp đến cao:

Trang 5

+ Bắt trước, gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy của bạn.

+ Tìm tòi, độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề; nêu, tìm kiếm nhữngcách giải quyết khác nhau về một vấn đề

+ Sáng tạo, tìm ra cách giải quyết mới, độc lập, hữu hiệu

2.1.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

-Dạy học tích cực là dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của HS;

- Chú trong rèn luyện phương pháp tự học;

- Tăng cường học tập cá thể với phối hợp học tập hợp tác;

- Kết hợp sự đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh

2.1.3 Các phương pháp tích cực cần được vận dụngtrong tiết ôn tập tiếng Việt:

- Vấn đáp, tìm tòi

- Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề

- Dạy học theo nhóm…vv

2.1.4 Quy trình dạy bài ôn tập nói chung

2.1.4.1 Kiểm tra bài cũ

- Yêu cầu học sinh nêu ngắn gọn những điều đã được học ở tiết trước, cho

ví dụ minh học hoặc giải các bài tập củng cố, vận dụng kiến thức đã học

- Hoặc GV không kiểm tra bài cũ mà kết hợp kiểm tra kiến thức cũ tronggiờ ôn tập

- Trong trường hợp bài ôn tập không có câu hỏi củng cố lí thuyết thì giáoviên yêu cầu học sinh nhắc lại lý thuyết có liên quan và cho ví dụ minh họa

Ví dụ : Tiết 73 nội dung ôn về các phương châm hội thoại, xưng hô trong hộithoại, cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp Khi kiểm tra bài cũ, giáo viênđưa ra một tình huống về một phương châm hội thoại bất kì và đưa ra câu hỏi:

Em cho biết tình huống trên thuộc phương châm hội thoại nào? Em hiểu gì

về phương châm hội thoại đó? Sau câu hỏi này, giáo viên dẫn vào bài Như vậy

khi vào bài sẽ tạo cho học sinh hứng thú trong việc lấy các tình huống thuộc cácphương châm hội thoại khác

2.1.4.2 Dạy bài mới

- Khi giới thiệu bài, giáo viên nêu yêu cầu của tiết học, chú ý làm nổi bậtmối quan hệ giữa nội dung bài ôn tập

- Giáo viên hướng dẫn học sinh ôn tập lí thuyết (theo quy trình trong SGK),sau đó, hướng dẫn các em trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập củng cố lí thuyếtbằng các phương pháp sau:

+ Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập hoặc câu hỏi

+ Cho HS đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập

+ Giáo viên giải thích thêm cho rõ yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập (nếu cần) + Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của câu hỏi hoặc bài tập

để cả lớp nắm được yêu cầu của giờ ôn tập (nếu đó là bài tập khó) Sau đó, giáo

Trang 6

viên tổ chức cho học sinh trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập theo các hìnhthức: làm việc cá nhân hoặc trao đổi theo cặp, nhóm để trả lời câu hỏi và thựchiện bài tập Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức khácnhau như: trao đổi với học sinh, sửa lỗi trực tiếp hoặc tổ chức cho học sinh góp

ý cho nhau và tự đánh giá lẫn nhau trong quá trình làm bài Cuối cùng là sơ kết,tổng kết, ghi bảng nếu cần thiết

2.1 4.3 Hướng dẫn luyện tập.

Đa số các bài ôn tập tiếng Việt đều được thiết kế từng phần lí thuyết đanxen với thực hành Vì vậy, GV hướng dẫn HS làm bài tập thực hành như cáchhướng dẫn luyện tập bài lý thuyết đã nêu ở trên, cần chú ý các dạng bài tập, nếubài tập lập bảng biểu thì giáo viên chú ý lược đồ cho học sinh và so sánh kiếnthức đã học trước đó, rèn kĩ năng thực hành, củng cố, khắc sâu kiến thức củatoàn bài ôn tập

2.2 Thực trạng của vấn đề

2.2.1 Về phía giáo viên

Trong những năm gần đây, hầu hết giáo viên đã ý thức sâu sắc phươngpháp dạy học mới Hàng năm các thầy cô được tập huấn về phương pháp dạyhọc, thảo luận ưu - nhược điểm của các phương pháp, được dự các chuyên đề,chủ đề để ngày càng đáp ứng tốt hơn mục tiêu của việc đổi mới, thực hiện đổimới có hiệu quả hơn Trong giảng dạy, người thầy đã phát huy được tính cựcchủ động trong việc dạy học, nhường việc chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiếnthức cho người học Học sinh được bày tỏ ý kiến, tình cảm, cách hiểu của mình

về bộ môn, được thực hành giao tiếp nhiều hơn, được trao đổi thảo luận nhiềuhơn Ở các trường THCS đã xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt có áp dụngmột số phương tiện dạy học hiện đại như dạy học bằng công nghệ thông tin Vìvậy, đã phát huy được tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của học sinh

Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp dạy theo phương pháp thầy đọctrò chép hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp Đứng trước một tiết ôn tập, giáo viêndạy Ngữ văn thường hay mắc phải sai sót về thời gian cho tiết học tức là chưaxác định được thời gian dành cho lý thuyết và vận dụng cho học sinh thực hành

là bao nhiêu Trong khi đó, thời gian thì hạn hẹp, kết quả là học sinh chỉ học mộtcách thụ động, và như vậy là việc dạy học đã đi ngược với phương pháp đổi mớihiện nay

Nhiều giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp mới vào bàidạy Đối với tiết ôn tập, nhiều giáo viên chưa áp dụng được nhiều phương phápdạy học có sáng tạo, linh hoạt, kích thích để các em phát triển tư duy và ngônngữ, trau dồi vốn tiếng Việt

Sở dĩ, việc dạy tiết ôn tập thế nào cho tốt chưa được nhiều giáo viên dạyngữ văn quan tâm bởi lẽ, tiết ôn tập là tiết dạy khó, cần phải đầu tư nhiều thờigian, công sức, trí tuệ cho việc soạn giảng Khi dạy tiết này, giáo viên phải nắm

Trang 7

vững kiến thức và truyền đạt một cách có hệ thống, mang tính khái quát cao.Đồng thời, trong các tiết học ôn tập, không khí học tập của học sinh thường kémsôi nổi hơn so với các giờ học kiến thức mới Vì vậy, đa số giáo viên rất ngạiđăng kí thao giảng, dự giờ vào những tiết ôn tập chương hay tổng kết ôn tậpcuối kì.

Khi tổ chức dạy học, thường thì giáo viên hay cho học sinh ôn và hệthống hết toàn bộ lý thuyết có trong SGK rồi mới cho học sinh làm bài tập ônluyện, thực hành Việc tách rời giữa lý thuyết và thực hành như vậy thườngkhiến cho các giờ học sa đà vào việc ôn tập, củng cố lý thuyết nhiều hơn là làmbài tập thực hành Điều này dẫn tới việc học sinh thụ động nắm bài, không tíchcực trong giờ ôn luyện và kết quả là nhiều học sinh hiểu và nắm kiến thức theokiểu học vẹt, không sâu

2.2.2 Về phía học sinh

Một số yếu tố nữa ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả dạy học của một tiết

ôn tập, tổng kết là về phía học sinh Trừ một số ít học sinh khá, giỏi có ý thứchọc tập tương đối tốt thì phần lớn học sinh còn lười học, chuẩn bị bài qua loa,hình thức, gây trở ngại lớn tới việc ôn tập

Nhiều học sinh vẫn quen lối học thụ động.Vì vậy, các em không thể tíchcực chủ động tham gia vào giờ học dẫn tới kết quả học tập trên lớp chưa cao

2.2.3 Về yêu cầu của việc đổi mới phương pháp và thời lượng chương trình của sách giáo khoa:

Từ thực tế trên, trong mấy năm gần đây thực hiện chương trình sách giáokhoa hiện hành, tôi nhận thấy, chương trình SGK có nhiều cải tiến theo hướngtích cực Phương pháp giảng dạy: Thầy đóng vai trò là người hướng dẫn, trò chủđộng tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức đã tạo cho giáo viên và học sinh làmviệc trong giờ học nhịp nhàng và cởi mở hơn

Đối với các môn học khác nói chung và môn ngữ văn nói riêng , tất cảđều được giảng dạy theo quan điểm tích hợp và tích cực Bộ môn ngữ văn khôngtách rời giữa phân môn Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn Điều đó đã tạo chochúng có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ bổ sung cho nhau Học tốt phần tiếngViệt không chỉ giúp học sinh có khả năng sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp

và tạo lập văn bản mà còn giúp học sinh tìm hiểu để thấy cái hay, cái đẹp trongcảm thụ văn chương Ngược lại, học tốt phần văn học cũng giúp học sinh cóthêm kiến thức, kĩ năng để học tốt phần tiếng Việt Vì vậy, các giờ học tiềngviệt, đặc biệt là các tiết ôn tập, tổng kết tiếng Việt nên chú trọng rèn luyện chohọc sinh khả năng thực hành, hiểu và vận dụng tốt những kiến thức đã học vàothực tế cuộc sống

Cấu trúc SGK mới không tách rời phần lý thuyết và phần thực hành Phầnlớn các tiết ôn tập và tổng kết được trình bày bằng một hệ thống các bài tậpnhằm giúp học sinh nhận diện, luyện tập, củng cố, nâng cao hơn những kiến

Trang 8

thức đã học Đó cũng là điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên và học sinh trongquá trình giảng dạy và học tập Giáo viên hướng dẫn học sinh chú trọng vào việcrèn kĩ năng luyện tập và thực hành Tính tích cực chủ động của học sinh tronggiờ học được nâng cao hơn Với lượng kiến thức được sắp xếp như vậy, học sinh

sẽ đầu tư hơn vào công việc chuẩn bị bài ở nhà Bởi vì, học sinh phải ôn kĩ líthuyết trước thì mới có khả năng làm bài tập trên lớp được Điều này khiến chogiờ học đạt kết quả cao hơn so với khi chưa đổi mới chương trình SGK

Trong hệ thống chương trình tiếng Việt các lớp 6,7,8,9 tiết ôn tập chiếmmột vị trí không nhỏ Theo chúng tôi, đây là những tiết học vô cùng quan trọng

Ôn tập tiếng Việt tức là giúp học sinh hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã họctrong một học kì, cả năm học hay cả cấp học Như vậy, có thể coi giờ học ôn tập

là một giờ củng cố, khắc sâu kiến thức tiếng Việt lần thứ hai Thông qua đó, họcsinh tự đánh giá kiến thức của mình và đáp ứng tốt yêu cầu của việc kiểm tra vàthi cử

Về cấu trúc chương trình, thời lượng giành cho tiết ôn tập, tổng kết được

bố trí một cách hợp lí, có hệ thống nhằm tạo điều kiện cho học sinh nắm đượcbài theo trình tự trong hệ thống ấy Cụ thể: ở lớp 6 có hai tiết ôn tập tiếng Việt ởcuối chương trình, lớp 7 và lớp 8 đều có 3 tiết ôn tập Nhưng tới lớp 9, tổng sốtiết ôn tập tiếng Việt là 11 tiết Điều này cho thấy, việc tăng dần thời thời lượng

ôn tập ở các lớp 6, 7, 8 và tăng vọt ở lớp 9 là một sự thay đổi lớn của chươngtrình SGK hiện hành Tất cả đều nhằm giúp cho học sinh có thể thực hiện tốtviệc củng cố, hệ thống hóa kiến thức trong chương trình đã học, nhất là đối vớihọc sinh lớp 9 chuẩn bị cho các em nắm vững kiến thức để học tiếp chương trìnhtiếng Việt ở Trung học Phổ thông

2.3 Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả một giờ dạy – học ôn tập tiếng Việt.

2.3.1 Việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh

* Đối với học sinh

- Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng tiết ôn tập ngay từ đầu năm học vì kiến thức ôn tập là một hệ thống chúng tôi cho học sinh lập cuốn "Sổ tay

Tiếng Việt", tạo cho các em một thói quen ghi lại những kiến thức cơ bản saumỗi giờ học tiếng Việt Đến giờ học, với những câu hỏi dạng lý thuyết như: nêukhái niệm, so sánh, đối chiếu , các em có thể làm ngay được

Ví dụ: Nêu khái niệm của một số biện pháp tư từ từ vựng: điệp ngữ , chơi chữ, ẩn dụ hoán dụ, nhân hóa, so sánh

- Để chuẩn bị tốt cho tiết học ôn tập, giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước ở nhà thật kĩ càng Đây là công việc quan trọng bởi nó phản

ánh kết quả học tập của cô và trò trong giờ dạy - học ôn tập Ở nhà, các em cầnphải có một sự chuẩn bị chu đáo, hệ thống hóa toàn bộ kiến thức, toàn bộchương trình đã học

Trang 9

Với học sinh trung bình, yếu, kém giáo viên có thể giới hạn kiến thức vừasức Chỉ yêu cầucác em nêu được khái niệm và cho ví dụ minh họa.

Còn đối với học sinh khá giỏi thì cần yêu cầu các em chuẩn bị được đầy đủkiến thức cơ bản và nâng cao dưới nhiều hình thức như: chuẩn bị trước đoạn vănmẫu có sử dụng kiến thức đã học một cách chuẩn xác, lập được bản đồ tư duy đểkhái quát các kiến thức đã học

* Đối với giáo viên

Dạy một tiết ôn tập, chúng ta không sa vào lý thuyết, mục đích là tổ chức chohọc sinh thực hành ứng dụng để mang lại hiệu quả thiết thực, luôn gắn với vănbản, làm cho các kiến thức tiếng việt trở thành công cụ để giúp cho việc đọchiểu và tạo lập văn bản theo tinh thần tích hợp, ưu tiên cho bài tập rèn luyện kĩnăng Từ yêu cầu trên, trong khâu chuẩn bị cho một giờ ôn tập tiếng Việt, giáoviên cần thực hiện theo các bước sau:

* Lựa chọn hệ thống bài tập: Việc lựa chọn hệ thống bài tập phải đủ để thực

hiện các yêu cầu: củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy dướinhiều hình thức (trắc nghiệm, điền vào dấu , bài tập nhận biết, bài tập sángtạo ), nhằm củng cố kiến thức đã học cho học sinh, nâng cao phương pháp, rèn

kĩ năng nói - viết; bồi dưỡng các năng lực khác như: xây dựng đoạn văn, bàivăn, nói hay, viết thạo ; huy động sự lựa chọn chính xác, tìm được phương ántối ưu, phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng sáng tạo của học sinh

* Xây dựng nhóm bài tập cho các mức độ khác nhau của từng đơn vị kiến

thức, bài học dựa trên cơ sở những bài tập đã có trong SGK, sách bài tập để vừadẫn dắt học sinh, vừa rà soát, củng cố lại kiến thức, rèn luyện kĩ năng nhómbài tập này được GV thể hiện qua bảng phụ, phiếu học tập, sơ đồ, lược đồ

* Giúp học sinh phát hiện, tìm tòi lời giải cho những bài tập đã lựa chọn,

chỉ ra được những kiến thức, những kĩ năng, phương pháp giải hệ thống bài tập

để tất cả học sinh được chủ động suy nghĩ nhiều hơn, được hoạt động nhiều hơn,đặc biệt là học sinh phát huy được năng lực sáng tạo trong giờ học

* Rút ra những mục đích của từng dạng bài tập, định hướng cho học sinh

xâu chuỗi các kiến thức đã học, tập luyện được các kĩ năng cần thiết

Thực hiện các bước như vậy, GV đã thiết kế được một hệ thống bài tậpnhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, có kĩ năng giải các bài tập tiếng Việt,

tự khám phá, tự trình bày theo cách hiểu đúng của mình

Trong giờ ôn tập tiếng Việt, dựa vào những yêu cầu trên, giáo viên đãđịnh hướng được kiến thức theo từng mảng, từng phần trong giờ ôn tập Phânmôn tiếng Việt ở các khối lớp 6,7,8 đã được tiến hành ôn tập theo trình tự củatiết học là đi từ hệ thống bài tập như lập bảng biểu, lược đồ đến củng cố lí thuyếtcho từng phần Hệ thống bài tập được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ bàitập củng cố đến bài tập rèn luyện kĩ năng, phát triển óc tư duy sáng tạo của họcsinh Đối với tiết ôn tập tiếng Việt của lớp 9, giáo viên cũng nên dùng lược đồ,

Trang 10

bảng so sánh nhưng hình thức ôn tập phong phú hơn Vì lớp 9 là lớp cuối cùngcủa cấp học, thời lượng kiến thức tăng, hệ thống bài tập cũng đa dạng, phongphú, có nhiều câu hỏi, bài tập phải vận dụng kiến thức kĩ năng cả ba phân môn(văn - tiếng Việt - tập làm văn) ở mức độ cao hơn Điều đó, đòi hỏi học sinhphải suy nghĩ nhiều hơn.

- Muốn dạy tốt một tiết ôn tập tiếng Việt, giáo viên cần chú trọng thật sâu vào các bài giảng lý thuyết Nghiên cứu SGK là yêu cầu chung cho việc

soạn bài lên lớp, đối với môn tiếng Việt cần phải nhấn mạnh hơn điều này vìSGK hiện nay có nhiều điểm mới Ví dụ:

+ Khai thác kiến thức từ các văn bản đã học;

+ Tích hợp với các phân môn văn - tập làm văn;

+ Nhiều kiến thức mới được đưa vào (các phương châm hội thoại )

- Xác định mục tiêu tiết học là khâu quan trọng đối với giáo viên khi soạn

bài và đứng lớp Đối với tiết ôn tập, mục tiêu chủ yếu là hệ thống, khắc sâu,củng cố kiến thức đã học Thông qua đó, học sinh vận dụng một cách linh hoạt

để giải các bài tập Vì vậy, việc xây dựng hệ thống câu hỏi cần phải lô gíc, hợp

lí, phù hợp với nhận thức của học sinh Câu hỏi mang tính hệ thống, khái quátsong cũng cần có câu hỏi phản đề, so sánh, suy luận để kích thích tư duy sángtạo của học sinh

Ví dụ: Trong tiết 138 Ôn tập tiếng Việt 9, giáo viên có thể đặt câu hỏi để

học sinh phát hiện ra tác dụng của các thành phần biệt lập trong câu bằng cáchđưa ra các ngữ liệu có chứa thành phần biệt lập, yêu cầu HS phát hiện và đặt câu

hỏi: Nếu lược bỏ các thành phần biệt lập trong những ngữ liệu trên, ý nghĩa của câu có thay đổi gì không? (Để HS nhận thức cụ thể vấn đề, giáo viên có thể cho

một em đọc lại các ngữ liệu khi lược bỏ thành phần biệt lập để dễ dàng so sánh)

- Ngoài ra, giáo viên còn cần phải xây dựng một hệ thống câu hỏi tối ưu có tính khoa học, tính sư phạm và có tính tư tưởng, dạng câu hỏi này có thể khai

thác ngay trong văn bản các em đã học hoặc thông qua các bài viết tập làm văncủa học sinh để qua đó, khắc sâu kiến thức Mục đích của các tiết ôn tập khôngchỉ dừng lại ở việc hệ thống khái niệm mà phải đạt đến việc rèn luyện kĩ năng.Muốn hình thành kĩ năng, phải coi trọng việc luyện tập và dành nhiều thời giancho luyện tập Bài tập tối ưu chính là các bài tập tích hợp được với các phânmôn văn và tập làm văn

Ví dụ : Cũng trong bài Ôn tập tiết 138-139, giáo viên có thể đưa ra những bài

tập luyện để củng cố lí thuyết như:

- Chỉ ra thành phần biệt lập được sử dụng trong khổ thơ đầu của bài thơ

“Sang thu” (Hữu Thỉnh), nêu tác dụng của thành phần biệt lập ấy?

- Viết đoạn văn theo lối diễn dịch nêu cảm nhận của em về khổ thơ thứ nhất (hoặc khổ thứ hai) của bài “Sang thu” ( Hữu Thỉnh), trong đó có sử dụng thành phần khởi ngữ và một thành phần biệt lập.

Trang 11

- Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật Bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, trong đó có sử dụng khởi ngữ

2.3.2 Các phương pháp tiến hành trên lớp để tạo một giờ học hiệu quả.

2.3.2.1 Sử dụng đồ dùng , phương tiện dạy học

Để giờ ôn tập dạt hiệu quả cao giáo viên cần chú trọng tới việc đầu tư làm và

sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học Các đồ dùng dạy học cần thiết là:

* Bảng phụ: Đối với phân môn tiếng Việt, có lẽ đồ dùng không thể thiếu

đó là bảng phụ, nó giúp cho học sinh nhận diện kiến thức thông qua các bài tập

đã được ghi trên đó Ở một số tiết, bảng phụ còn được dùng để ghi những sơ đồ

ôn tập còn thiếu, khuyết nội dung Giáo viên có thể gọi học sinh lên điền nhữngnội dung còn thiếu khuyết vào bảng phụ rồi thông qua sơ đồ có thể hệ thống lạikiến thức một cách rõ ràng cho học sinh dễ nắm bài hơn Tuy nhiên khi sử dụngbảng phụ cần chú ý đến yêu cầu: rõ ràng, khoa học,và mang tích thẩm mĩ cao

Ví dụ: Tổ chức dạy - học tiết 137- 138 ôn tập tiếng Việt ( lớp 9)

Khi triển khai nội dung 1: Khởi ngữ và các thành phần biệt lập, Giáo viên

treo b ng ph có ghi các thông tin:ảng phụ có ghi các thông tin: ụ có ghi các thông tin:

Khởi

ngữ

Thành phần biệt lập Tình thái Cảm thán Gọi- đáp Phụ chú

Sau đó, yêu cầu học sinh đọc nội dung bài tập 1 của SGK và Cho biết những từ ngữ in đậm là thành phần gì của câu? Học sinh ghi kết quả phân tích vào bảng.

Giáo viên gọi 4 học sinh lên bảng làm 4 phần của bài tập 1 Từ bảng phụ này,

GV có thể hỏi học sinh về kiến thức phần lí thuyết

? Vì sao những từ bạn vừa điền là thành phần tình thái? Cho biết thành phần tình thái là gì? Với những câu hỏi như vậy, GV giúp học sinh củng cố lại

khái niệm về các thành phần biệt lập và yêu cầu học sinh lấy ví dụ minh họa

* Phiếu học tập: Ngoài việc sử dụng bảng phụ, trong giờ Ôn tập tiếng

Việt cũng rất cần đến các Phiếu học tập Giáo viên đưa ra các câu hỏi quan trọng

và các bài tập củng cố vào các phiếu bài tập phát cho HS làm trực tiếp vào đó.Sau đó, giáo viên sẽ thu lại để xem, chấm điểm và đánh giá khả năng của từng

em Cách sử dụng phiếu học tập có ưu điểm rất lớn là giúp cho tất cả HS có thểthực hành làm bài tập trong giờ học mà không mất nhiều thời gian, giáo viên cóthể đánh giá toàn diện được khả năng nắm bắt kiến thức của HS đến đâu

Ví dụ: Đối với bài Tổng kết về từ vựng, giáo viên có thể tạo một phiếu học tập với những bài tập ôn lại kiến thức về từ đồng nghĩa như sau:

Bài 1 Chọn cách hiểu đúng trong cách hiểu sau:

A Đồng nghĩa là hiện tượng chỉ có trong một số ngôn ngữ trên thế giới.

Trang 12

B Đồng nghĩa bao giờ cũng là quan hệ giữa nghĩa hai từ, không có quan hệ giữa ba hoặc hơn ba từ.

C Các từ đồng nghĩa với nhau bao giờ cũng có nghĩa hoàn toàn giống nhau.

D Các từ đồng nghĩa với nhau có thể không thay thế cho nhau được trong nhiều trường hợp sử dụng.

(HS trả lời bằng cách khoanh tròn vào đáp án đúng.)

* Giáo án điện tử Một phương tiện nữa không thể thiếu trong giờ Ôn tập

tiếng Việt là giáo án điện tử Sử dụng giáo án điện tử trong giờ Ôn tập tiếng Việtmang lại hiệu quả rất lớn như: tiết kiệm thời gian, giúp học sinh theo dõi và hệthống kiến thức, bài học một cách rõ ràng, sinh động Trên giáo án điện tử, giáoviên có thể lập các bảng, biểu giống như trên bảng phụ để đưa ra đáp án chínhxác cho học sinh Nhờ đó, các em tiện theo dõi và nắm bắt kiến thức một cách

dễ dàng hơn

Ví dụ dưới đây là hình ảnh một trang giáo án điện tử được sử dụng khi

dạy bài Ôn tập tiếng Việt tiết 138, phần ôn tập lí thuyết Khởi ngữ bằng các câu hỏi trắc nghiệm.

D Là thành phần đứng trước chủ ngữ nêu lên

đề tài được nói đến trong câu.

Và dưới đây là một trang giáo án điện tử được sử dụng khi dạy bài ôn tập

về các phương châm hội thoại, giáo viên đã chiếu đoạn văn bản ngữ liệu lên

trang giáo án điện tử để giúp học sinh dễ dàng theo dõi, quan sát, làm tăng tínhtrực quan, sinh động cho bài giảng

Ngày đăng: 20/03/2019, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w