ĐẶT VẤN ĐỀ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5
Trang 1
A ĐẶT VẤN ĐỀ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5B, TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 3.
Người thực hiện: Trinh Thị Tâm Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Lam sơn 3 SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
BỈM SƠN NĂM 2018
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Vấn đề đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở bậc Tiểu họcluôn được các nhà giáo dục quan tâm Xét một cách tổng thể thì mọi phươngpháp, mọi hình thức tổ chức dạy - học đều thống nhất khẳng định vai trò củangười học không phải tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà là những chủ thểnhận thức tích cực trong quá trình học tập
Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các kí tự, đường thẳng,con số,… Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não
- não trái mà chưa sử dụng não phải, nơi giúp ta xử lí các thông tin về nhịp điệu,màu sắc, không gian,…và cách ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thểcủa cả vấn đề
Trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng và môn Tiếng Việt bậc Tiểu
học nói chung, việc “Sử dụng Sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực trong dạy - học Tiếng Việt cho học sinh lớp 5” là vấn đề mà tôi thấy chưa có tài liệu
nào nghiên cứu sâu và có những phương pháp sử dụng cụ thể Chính vì thế màtrong quá trình giảng dạy bản thân tôi cũng như nhiều đồng nghiệp, chưa mạnhdạn nghiên cứu, tìm tòi và áp dụng Bởi vậy, năm học 2017-2018, qua thực tếgiảng dạy tại lớp 5B, tôi nhận thấy sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học mônTiếng Việt sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu đổimới mục tiêu giáo dục Sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ học Tiếng Việt mang lạihiệu quả giáo dục đáng kể như: giúp học sinh tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau giữacác đối tượng học sinh, góp phần thiết thực vào việc hình thành khắc sâu kiếnthức cơ bản của bài học cũng như rèn luyện kĩ năng cơ bản của từng tiết học.Hơn nữa, việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn Tiếng Việt còn giúp họcsinh hệ thống được mạch kiến thức đã học Nếu giáo viên lựa chọn được sơ đồ
tư duy phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh Tiểu học, tổ chức đúng cách
và đúng hướng sẽ giúp cho các em hiểu bài nhanh, nhớ lâu, nhớ kĩ đồng thờiphát triển trí thông minh, óc sáng tạo cho các em
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Sử dụng Sơ
đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực trong dạy - học Tiếng Việt cho học sinh lớp 5B, trường Tiểu học Lam Sơn 3” để làm sáng kiến kinh nghiệm cho
bản thân trong năm học 2017-2018
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Sơ đồ tư duy trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 5
- Học sinh lớp 5B, trường Tiểu học Lam Sơn 3 học tập môn Tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 3- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp thực hành, vận dụng
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, đối chứng số liệu.
Trang 4II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy; cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài; bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Với mục tiêu trên thì trong trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có vai trò hếtsức quan trọng, giúp trẻ chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành và phát triển nănglực sử dụng tiếng Việt trong học tập và giao tiếp Ngay từ bậc Tiểu học, mônTiếng Việt đặc biệt chiếm ưu thế trong việc hình thành và phát triển ở học sinhcác kĩ năng sử dụng tiếng Việt Việc dạy tiếng Việt ở Tiểu học sẽ tạo cho họcsinh có năng lực sử dụng tiếng Việt, có phương tiện giao tiếp để phát triển toàndiện
Hiện nay, với xu thế đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làmtrung tâm, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, việc lựa chọn các biệnpháp dạy giải nghĩa từ cho học sinh Tiểu học nhằm giúp học sinh nắm được nộidung bài học một cách chủ động và sâu sắc hơn, hứng thú hơn là việc làm cùngcần thiết đối với người giáo viên Thực tế cho thấy, nếu giáo viên biết vận dụnglinh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để học sinh tham gia tíchcực vào quá trình học tập thì học sinh dễ dàng nắm được kiến thức bài học mộtcách vững chắc
Do đó, việc sử dụng Sơ đồ tư duy rèn luyện phương pháp học tập chohọc sinh, ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy học là một trong những biệnpháp góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy của giáo viên
2 Thực trạng của vấn đề:
2.1 Thực trạng khi dạy và học Tiếng Việt của học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Lam Sơn 3
* Đối với giáo viên:
Việc dạy môn Tiếng Việt cho sinh Tiểu học hầu hết giáo viên đều sử dụngnhững phương pháp d¹y truyền thống như: dùng trực quan, dùng ngữ cảnh,giảng giải, vấn đáp … Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiệu quả của việc giảng dạyTiÕng Việt cho học sinh vẫn chưa cao Khi dạy Tiếng Việt cho học sinh Tiểuhọc, giáo viên vẫn là người hoạt động chủ yếu, học sinh vẫn chưa phát huy đượctính tích cực, chủ động Vì thế, việc học Tiếng Việt chưa phải là m«n häc høngthú đối với học sinh, giờ học trở nên khô khan, nặng nề
Một số giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy m«nTiÕng ViÖt nhưng do kiến thức về từ vựng chưa sâu và sử dụng các biện phápdạy chưa phù hợp nên hiệu quả mang lại chưa cao
Trang 5Việc dạy ë TiÓu häc đánh giá HS theo thông tư 22 năm nay là năm thứhai, giáo viên cũng đã chủ động nắm bắt được nội dung và phương pháp dạy họcmới Trong các hoạt động học tập của học sinh tiết dạy học trên lớp giáo viêncũng đã chú ý lấy học sinh làm trung tâm, tích cực Tuy nhiên khi thiết kế bàidạy cũng như khi giảng dạy trên lớp nhiều khi giáo viên chưa chủ động thiết kế
và dạy theo đối tượng học sinh của mình mà phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướngdẫn Hoặc nếu có chú ý thì giáo viên cũng mới chỉ tập trung vào việc hình thànhkiến thức mới cho học sinh mà vô tình chưa quan tâm đến việc thường xuyênnhận xét, đánh giá khích lệ HS để dễ dàng khai thác và phát triển các bài tậpnhằm bồi dưỡng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho các em
Nhiều khi giáo viên chưa thực sự nghiên cứu, tìm tòi, khai thác và vậndụng để có sự cải tiến, sáng tạo trong cách dạy, hướng dẫn bài tập một cách thụđộng nên các em học sinh có khả năng học tốt môn Tiếng Việt sẽ không thể hiệnđược năng lực tư duy sáng tạo của mình
Trong quá trình tìm hiểu, dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm của đồng nghiệpcũng như nghiên cứu nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chứcdạy môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học Lam Sơn 3, tôi nhận thấy những điều nóitrên là sát thực
* Đối với học sinh:
Đối với trường Tiểu học Lam Sơn 3 nói chung và lớp 5B của tôi nói riêng
số học sinh tự giác, tích cực học tập chưa nhiều Mặc dù chương trình mới chútrọng tới việc “ cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh” để bản thân mỗi họcsinh sẽ nỗ lực suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, tự tìm ra cách giải quyết vấn đề.Song do lứa tuổi các em còn bé nên sự tư duy, sáng tạo còn hạn chế
Nhiều học sinh lớp tôi chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não
mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng khôngnhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được ý nổi bật trong tài liệu đó hoặckhông biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Sử dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chéphiệu quả Đây là một kĩ năng không kém phần quan trọng bởi học sinh lớp 5chuẩn bị bước sang một bậc học cao hơn - Bậc THCS
2 2 Kết quả của thực trạng.
Năm học 2017 – 2018, qua việc khảo sát 40 học sinh lớp 5B về kĩ năng hệ
thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy về Từ loại phân môn Luyện từ và câu
-môn Tiếng Việt, tôi thu được kết quả như sau:
Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy đơn giản
nhưng chưa đầy đủ, chưa khoa học
HS chưa vẽ được sơ đồ tư duy 18 45%
Trang 6Số liệu điều tra được ở bảng trên cho thấy học sinh có năng lực vượt trội,
có khả năng học tốt môn Tiếng Việt, vẽ được sơ đồ tư duy đầy đủ, khoa học ởlớp 5B còn ít Hầu hết học sinh mới chỉ vẽ được sơ đồ tư duy đơn giản, chưa có
hệ thống, chưa tương đồng về mạch kiến thức; vẽ được sơ đồ tư duy nhưng chưađầy đủ, chưa khoa học vẫn còn chiếm tỉ lệ cao Bên cạnh đó là số học sinh chưa
vẽ được sơ đồ tư duy còn khá nhiều Học sinh mới liệt kê được một số kiến thứcnhưng lộn xộn, không đầy đủ, không lô gic…Từ việc xâu chuỗi kiến thức củahọc sinh còn hạn chế kéo theo chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm học cũngchưa được khả quan
Cùng với đó, qua thực tế giảng dạy tại trường, tôi thấy kĩ n ăng ghi chépchắt lọc của học sinh còn hạn chế, cứ đến tiết thứ 4 của buổi học, không khí củalớp học trầm hẳn xuống, dáng vẻ mệt mỏi, uể oải, mất tập trung bộc lộ rõ trênkhuôn mặt của mỗi học sinh Hiệu quả tiết dạy chưa cao, chưa đạt được mongmuốn của giáo viên
3 Các giải pháp thực hiện:
Trước thực trạng trên, để góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy vàhọc môn Tiếng Việt lớp 5B, trong năm học, tôi đã thực hiện những giải pháp cơbản sau:
- Hướng dẫn cho học sinh tập vẽ sơ đồ tư duy.
- Hướng dẫn học sinh đọc và ghi nhớ kiến thức bằng sơ đồ tư duy.
- Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học kiến thức mới nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh
- Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học các dạng bài ôn tập nhằm giúp
học sinh hệ thống hóa kiến thực theo mạch trọng tâm
- Vận dụng sơ đồ tư duy trong việc phát hiện và bồi dưỡng cho những
học sinh có năng lực vượt trội môn Tiếng Việt
Trên cơ sở những giải pháp cơ bản trên, tôi đã đÒ ra các biện pháp để thựchiện việc sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy môn Tiếng Việt lớp 5B, nhằm gópphần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cụ thể như sau:
3.1.Biện pháp 1 Hướng dẫn cho học sinh tập vẽ sơ đồ tư duy:
Sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh trong việc phát triển ý trưởng, ghi nhớ kiếnthức, từ đó sẽ nhớ nhanh, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức bằng cách tự ghi lại mộtbài học theo cách hiểu của mình Tuy nhiên chỉ khi nào các em tự mình vẽ được
sơ đồ tư duy và sử dụng nó, mới thấy rõ được hiệu quả mà khó có thể diễn tảđược bằng lời của sơ đồ tư duy, lúc này học sinh sẽ thích học hơn và đặc biệt làcảm nhận được niềm vui của việc học
- Để các tiết học Tiếng Việt của học sinh đạt hiệu quả, trước tiên tôi đã tựthiết kế một số sơ đồ tư duy bằng việc vẽ trên máy tính hoặc trên bảng phụ, sau
đó tôi giới thiệu cho học sinh làm quen và biết cách vẽ nó
- Tổ chức cho học sinh tập “Đọc hiểu” sơ đồ tư duy, sao cho chỉ cần nhìnvào sơ đồ tư duy bất kì một học sinh nào cũng có thể trình bày được nội dungbài học, hay một chủ đề
- Cho học sinh thực hành vẽ sơ đồ trên giấy, bìa cứng hoặc bảng phụ.Trước tiên tôi chọn tên chủ đề hoặc hình ảnh của chủ đề chính cho vào vị trí
Trang 7trung tâm, chẳng hạn: Các cặp quan hệ từ, tiếng, từ loại, cấu tạo bài văn tả cảnh,
… để cho học sinh có thể tự mình ghi tiếp kiến thức vào tiếp các nhánh “con”theo cách hiểu của học sinh Tôi đã hướng dẫn học sinh tập vẽ theo các bướcsau:
B
ư ớc 1 Chọn từ trung tâm ( hay còn gọi là từ khoá ) là tên của một bài,
chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác
B
ư ớc 2 Vẽ các nhánh cấp 1:
Các nhánh cấp 1 chính là nội dung chính của chủ đề đó
B ư ớc 3 Vẽ nhánh cấp 2, cấp 3, … và hoàn thiện sơ đồ
Các nhánh con cấp 2, 3, … chính là các nhánh con của nhánh con trước nó
Ví dụ : Vẽ sơ đồ tư duy cho bài: Ôn tập về từ loại ( SGK TV 5 tập 1, trang
142)
Mục tiêu của bài: Học sinh ôn lại các từ loại đã học, biết được đặc điểm
của từng loại từ và lấy được ví dụ
Giáo viên đưa ra từ chủ đề là: “ Từ loại ”
Câu hỏi gợi ý để học sinh vẽ được sơ đồ:
Câu 1: Hãy kể tên những từ loại em đã được học
Câu 2: Mỗi từ loại đó có đặc điểm gì ? Nêu ví dụ.
Câu hỏi 1 chính là gợi ý để học sinh ghi các nhánh con cấp 1
Câu hỏi 2 là gợi ý để học sinh ghi các nhánh con cấp 2, 3
Dưới đây là một sơ đồ tư duy cho bài ôn tập về từ loại:
* Lưu ý học sinh khi vẽ sơ đồ tư duy:
- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh hay một cụm từ tên chủ đề
- Vẽ nhánh chính cấp 1 từ trung tâm, vẽ các nhánh cấp 2 từ các nhánh cấp 1…bằng các đường kẻ, đường cong với màu sắc khác nhau Nhánh màu nào thì nênviết chữ cùng màu với nhánh đó để dễ phân biệt Nhánh cấp 1 một nét đậm nhất,các nhánh cấp 2, 3, … theo đó mờ dần
- Mỗi cụm từ hay hình ảnh, hình vẽ… liên quan đến nhánh nào nên đứng độc lập
và được nằm gần với đường cong của nhánh đó
Trang 8- Tạo ra một kiểu sơ đồ tư duy theo sở thích của mình.
- Nên dùng các đường cong thay vì các đường thẳng
- Sắp xếp thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
- Điều chỉnh để hình thức đẹp, chữ viết rõ, vẽ phác bằng bút chì trước để dễ tẩyxoá
- Không viết dài dòng, tránh viết nhiều ý không cần thiết
- Không nên vẽ đơn giản quá, cũng không quá cầu kì, màu sắc hài hoà.
*Lưu ý giáo viên: Sơ đồ tư duy mà học sinh vẽ ban đầu có thể chưa chính xác
về nội dung nhưng nên cho học sinh tự thảo luận, tự vẽ, viết ra, sau đó để cả lớpxem, thảo luận và chỉnh sửa Nếu viết sai thì sau này các em sẽ nhớ lâu và tránhđược những sai lầm đó GV không nên xây dựng sơ đồ rồi giảng giải để học sinhcông nhận, điều này mang tính hình thức, áp đặt không hiệu quả
3.2.Biện pháp 2 Hướng dẫn học sinh đọc và ghi nhớ kiến thức bằng sơ đồ
Ví dụ: Bài Ôn tập về từ và cấu tạo từ ( TV5 tập 1, trang 166)
Mục tiêu của bài: Học sinh củng cố kiến thức về từ và cấu tạo từ ( Từ
đơn, từ phức, từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ trái nghĩa)
Sau khi học sinh giải quyết xong các bài tập trong sách giáo khoa, đến hoạt độngnối tiếp tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4 để vẽ sơ đồ tư duy với chủ đề
chính là “Các lớp từ” qua đó học sinh sẽ tự xây dựng kiến thức về các lớp từ
( nghĩa của từ), việc làm này sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, giúpcác em hệ thống được kiến thức trọng tâm đã học, trí nhớ sẽ bền vững hơn
Dưới đây là một sơ đồ tư duy về “ CÁC LỚP TỪ” mà một nhóm học sinhlớp 5B đã vẽ:
Trang 9Nhìn vào sơ đồ tư duy học sinh sẽ hiểu được nội dung kiến thức:
Xét về nghĩa có:
- Từ nhiều nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm
- Từ nhiều nghĩa bao gồm nghĩa gốc và nghĩa chuyển
- Có từ đồng nghĩa hoàn toàn nhưng có từ lại đồng nghĩa không hoàn toàn
Tôi đã tổ chức theo các bước sau:
B
ư ớc 1 Trình bày về sơ đồ tư duy:
- Yêu cầu đại diện của các nhóm lên trình bày sơ đồ tư duy mà nhóm mình đãlập được
B
ư ớc 2 Thảo luận, bổ sung, hoàn thiện sơ đồ tư duy:
- Tổ chức cho học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thiện sơ đồ tư duy về “ Các lớp từ”, lúc này tôi là người cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn thành sơ đồ tư
- Cho 1 học sinh trình bày về kiến thức “Các lớp từ” thông qua sơ đồ tư
duy mà các em vừa hoàn thành và chỉnh sửa
3.3 Biện pháp 3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học các dạng bài:
3.3.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học dạng bài hình thành kiến thức mới:
Khi dạy dạng bài hình thành kiến thức mới, để sử dụng sơ đồ tư duy cóhiệu quả, từ nội dung bài học, tôi thiết lập một sơ đồ tư duy bằng phần mềm trênmáy tính ( nếu dạy bằng bài giảng điện tử ) hoặc trên bảng phụ (nếu không trìnhchiếu ) Trong tiết dạy, tôi sẽ sử dụng sơ đồ đã chuẩn bị để hướng dẫn học sinh
Trang 10khai thác từng nội dung của bài học Mỗi nội dung tương ứng với một nhánh concủa sơ đồ.
Ví dụ: Khi dạy bài tập làm văn “ Cấu tạo của bài văn tả cảnh” ( TV 5 tập
1 trang 11)
Mục tiêu của bài:
- Học sinh biết được cấu tạo bài văn tả cảnh gồm ba phần: Mở bài, thânbài, kết bài
- Biết phân tích cấu tạo của một bài văn tả cảnh
Khi dạy bài này trước tiên tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần “Nhậnxét”, phân tích ngữ liệu bài “ Hoàng hôn trên sông Hương”, qua đó học sinhnắm được các phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn
Ở bài tập 2, học sinh thấy rõ sự khác nhau giữa hai cách miêu tả Bài “ Quangcảnh làng mạc ngày mùa” tả từng bộ phận của cảnh, bài “ Hoàng hôn trên sôngHương” tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian
Đến phần “ Rút ra ghi nhớ ” về cấu tạo bài văn tả cảnh ( phần kiến thứctrọng tâm của bài học) tôi dẫn dắt học sinh phát hiện, khai thác nội dung chínhcủa bài bằng sơ đồ tư duy
Các nhánh thể hiện những nội dung nhỏ hơn tôi cho xuất hiện sau để lầnlượt theo thứ tự cấu tạo của một bài văn Sau khi cùng học sinh thiết lập xong sơ
đồ, tôi yêu cầu một số em dựa vào sơ đồ trình bày cấu tạo bài văn tả cảnh
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc: Sắc màu em yêu ( TV 5 tập 1, trang 19) ở câu
hỏi 2 phần tìm hiểu bài có nội dung: Mỗi sắc màu gợi ra những hình ảnh nào ?Tôi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4 để vẽ sơ đồ tư duy, sau đó đại diện cácnhóm trình bày trước lớp Các nhóm còn lại nhận xét để hoàn chỉnh sơ đồ
Dưới đây là sơ đồ học sinh đã thực hiện: