PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠNPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5A - TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔN
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠNPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5A - TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG SƠN SỬA LỖI DÙNG TỪ, ĐẶT CÂU
TRONG VĂN MIÊU TẢ
Người thực hiện: Lê Thị Luyến Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Sơn SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
BỈM SƠN, NĂM 2018
Trang 2B NỘI DUNG
2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học 4
Trang 3A MỞ ĐẦU I.Lí do chọn đề tài.
Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy họcTiểu học Tập làm văn giúp cho học sinh tạo ra văn bản nói và viết theo cácphong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngônbản Nhiệm vụ cụ thể của phân môn Tập làm văn bao gồm:
- Cung cấp kiến thức và hình thành,phát triển các kĩ năng bộ phận, gópphần hình thành và phát triển năng lực tạo lập, sản sinh ngôn bản
- Cung cấp tri thức về các dạng nghi thức lời nói, rèn kĩ năng nói theo cácnghi thức đó
- Rèn kĩ năng nói, viết các ngôn bản thông thường và một số văn bản nghệthuật như kể chuyện, miêu tả
- Rèn các kĩ năng đặc thù phù hợp với mỗi dạng bài, kiểu bài Tập làm văn(như kĩ năng quan sát trong văn miêu tả; kĩ năng xây dựng cốt cốt truyện, chitiết, tình tiết trong văn kể chuyện)
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duylogic, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhâncách cho học sinh
Trong chương trình Tập làm văn lớp 5, phần lớn nội dung kiến thức dànhcho văn miêu tả: Tả cảnh, tả người, tả đồ vật, tả con vật, tả cây cối Là lớp cuốicấp nên các em chính thức được học môn Tập làm văn thông qua việc phát triểncác câu trả lời thành đoạn, thành bài văn Thêm vào đó, giai đoạn này các em đãbắt đầu tiếp thu khái niệm về một bài Tập làm văn viết, đồng thời được họctương đối có hệ thống về kỹ năng xây dựng một bài Tập làm văn viết hoànchỉnh Có thể nói, đây chính là giai đoạn nền tảng để các em có thể học tốt mônTập làm văn viết ở các cấp học tiếp theo
Trong thực tế dạy học tại lớp 5A-Trường Tiểu học Đông Sơn, tôiđọc rấtnhiều bài văn miêu tả của học sinh thể hiện được khả năng tái hiện đời sống, tưduy linh hoạt, sáng tạo và trí tưởng tượngphong phú của các em Tuy nhiên,những lỗi mà các em mắc phải khi làm mộtbài Tập làm văn miêu tả cũng không
ít, trong đó các lỗi mà học sinh thường gặp nhiềunhất chính là lỗi dùng từ, đặtcâu Về phần cá nhân, tôi nhận thấy rằng,để dạy và học phân môn Tập làm vănđược tốt thì việc nghiên cứu các lỗi vềdùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văncủa học sinh là công việc rất cần thiết Việc làm này giúp cho giáo viên cũngnhư các bậc phụ huynh có thể phát hiện ra nhữnghạn chế của học sinh khi làmbài Tập làm văn, từ đó có phương pháp dạy họcTập làm văn nói chung và dạngbài văn miêu tả nói riêng cho các em phù hợp và hiệu quả hơn
Chính vì những lí do trên, tôi đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu các lỗi dùng từđặt câu trong văn miêu tả của học sinh lớp tôi chủnhiệm, tôi xin trình bày nộidung này dưới dạng văn bản với tiêu đề: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn sửa lỗi dùng từ đặt câu trong văn miêu tả.
II Mục đích nghiên cứu.
- Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng các bài tập làm văn viết của học sinh lớp
5, tôi đã thống kê, khảo sát, phân tích, từ đó tìm ra các lỗi dùng từ, đặt câu mà
Trang 4học sinh thường mắc phải, nguyên nhân và cách chữa các lỗi đó Từ đó gópphần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng và dạy họcTiếng Việt nói chung ở Tiểu học.
- Giúp học sinh có cách nhìn sự vật theo hướng tích cực, ham thích quansát, tìm tòi khám phá
- Giúp giáo viên tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm tronggiảng dạy Tập làm văn nói chung và giảng dạy học sinh viết văn miêu tả nói riêng
- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học
III Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng: Các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn miêu tả củahọc sinh lớp 5; Nguyên nhân và cách chữa các lỗi đó
-Phạm vi: Thống kê, phân loại, chữa lỗi dùng từ và đặt câu trong c¸c bµitËp lµm v¨nmiêu tả của học sinh Tiểu học lớp 5A trường Tiểu học Đông Sơnnăm học 2017- 2018
IV Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp khảo sát, phân tích thực trạng:
+ Khảo sát bài kiểm tra giữa kì 1 năm học 2017- 2018 của khối 5
+ Khảo sát các bài tập làm văn miêu tả của lớp 5A
- Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ
Từ có hai chức năng cơ bản:
- Chức năng biểu nghĩa (biểu thị sự vật, hiện tượng…)
- Chức năng tạo câu
Tóm lại, từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bấtbiến,mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạonhấtđịnh, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việtnhỏnhất để tạo câu.[2]
1.2 Khái niệm câu
Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp tự lập và có ngữ điệu kếtthúcmang một tư tưởng tương đối trọn vẹn kèm theo thái độ của người nóihoặc biểu
Trang 5thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện truyền đạt tưtưởng, tìnhcảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất.
Câu là đơn vị dùng từ đúng hơn là dùng ngữ mà cấu tạo bên trongquátrình tư duy thông báo, nó có nghĩa là hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp,cótính chất độc lập Câu là một tập hợp từ được nối với nhau để diễn tả một ýtưởng tươngđối trọn vẹn Khi nói phải ngắt giọng với câu, khi viết phải đánh dấucuối câubằng một trong các dấu “.”, “?”, “!”.Có rất nhiều định nghĩa về câu, từnhững định nghĩa trên ta đi đến mộtđịnh nghĩa tương đối đầy đủ về câu: Câu làmột đơn vị ngôn ngữ được cấu tạobằng một cụm từ chứa đựng một nòng cốt cúpháp nhất định, diễn tả một nộidung thông báo hoàn chỉnh và có quan hệ vớithực tế khách quan.[2]
1.3 Quy tắc sử dụng từ:
1.3.1 Dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
Từ là một đơn vị có nhiều bình diện, trong đó không thể thiếu mặtâmthanh và hình thức cấu tạo Chonên, khi viết văn bản cần ghi lại đúng âmthanh và hình thức cấu tạo của từđược sử dụng Nếu không sẽ không biểu hiệnđược chính xác và không làmcho người đọc văn bản lĩnh hội được chính xác nộidung, ý nghĩa
1.3.2 Dùng từ phải đúng về nghĩa
Nghĩa của từ bao gồm cả nghĩa sự vật cả nghĩa biểu thái, bao gồm cảnghĩa đen, nghĩa bóng (nghĩa chuyển đổi,nghĩa phát sinh) Đây là hiện tượngnhiều nghĩa của từ Khi muốn sử dụngmột từ theo cách chuyển đổi ý nghĩa, cầnphải dựa vào nghĩa đen, nghĩa gốccủa từ, giữ được mối liên hệ với nghĩa gốc.Nếu không việc dùng từ sẽ mắc lỗi
1.3.3 Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
Các từ khi được dùng trong câu, trong văn bản luôn luôn có mối quanhệvới nhau về ngữ nghĩa và ngữ pháp Vì thế, khi dùng từ trong văn bản cần thiếtlậpcho đúng các quan hệ kết hợp của các từ, vì các quan hệ này do bản chấtngữnghĩa – ngữ pháp của các từ quy định Nếu không sẽ mắc lỗi khi dùng từ
1.3.4 Dùng từ phải đúng phong cách ngôn ngữ
Mỗi phong cách ngôn ngữ văn bản được sử dụng trong một phạm vinhấtđịnh của cuộc sống xã hội và nhằm thực hiện một chức năng nhất định,hướng tớimột mục tiêu giao tiếp nhất định Vì thế, khi dùng từtrong văn bản cần ý thức rõ
về phong cách văn bản để dùng từ cho đúng vàphù hợp Nếu không sẽ mắc lỗi
về phong cách
1.3.5 Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản.
1.3.6 Dùng từ cần tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáorỗng công thức.Dẫnđến những câu văn “đao to búa lớn” mà chung chung,
nội dung nghèo nàn [2]
Trang 61.4.2 Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa phù hợp với tư duy người Việt
Tức là, các nét nghĩa trong câu không mâu thuẫn nhau, thể hiện:
- Phản ánh đúng quan hệ trong thế giới khách quan
- Quan hệ giữa các thành phần câu, các vế câu phải hợp logic
- Quan hệ giữa các thành phần đẳng lập là quan hệ đồng loại (cùngmộtphạm trù ngữ nghĩa)
1.4.3 Câu phải có thông tin mới: đây là một yêu cầu đủ để đặt câu đúng 1.4.4 Câu phâỉ đánh dấu câu phù hợp:
Đây là yêu cầu quan trọng để làmcho các quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩađược tách bạch, rõ ràng, tránh chongười đọc có thể hiểu sai ý nghĩa của câu
1.4.5 Câu đặt ra phải phục vụ cho mục đích giao tiếp của văn bản.
1.4.6 Phải phù hợp với quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp.
1.4.7 Phải phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp [2]
2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh tiểu học
Trẻ em là một thực thể hồn nhiên, vô tư và tiềm tàng khả năng pháttriển.Các em tiếp xúc với xung quanh, với xã hội và đánh giá, nhận xét mốiquan hệ
đó theo chuẩn mực của bản thân Tất cả hiện tại và tương lai trướcmắt các emvừa đơn giản nhưng cũng hết sức bí ẩn và hấp dẫn đối với các em
Dạy Tập làm văn cho học sinh tiểu học là cần thiết, phù hợp với tâm lícủatrẻ: ưa tìm tòi, thích quan sát, khám phá và nhận xét cuộc sống xung quanh
Đối với học sinh lớp 5, các em đã có vốn sống nhấtđịnh, đã bước đầu biếtphân tích mối quan hệ giữa người với người trongnhững môi trường khác nhau,
có thể thể hiện những sự kiện mà các em đãquan sát thấy trong cuộc sống bằngngôn từ của chính các em
Mặt khác, bước vào giai đoạn này (thời kì từ 10 đến 11 tuổi), sự cânbằngtrong cơ thể trẻ đang bị phá vỡ, các em dễ xúc động cao Tình trạngdâng caocảm xúc khiến cho trẻ ở độ tuổi này có sự thay đổi đáng kể Nếunhư ở giai đoạntrước, hoạt động sáng tạo mà trẻ yêu thích là vẽ thì ở giaiđoạn này lại là hoạtđộng sáng tạo bằng lời Ở giai đoạn này, trẻ yêu thíchsáng tạo văn học, điều nàythể hiện qua những trang văn miêu tả của các em.Những trang văn của trẻ là mộtthế giới trong sáng vô ngần mà ở đó ta sẽ thấynhững cái vừa đơn giản vừa mới
lạ, hiểu và sẻ chia những cảm xúc, nhữngrung động, những lời đề nghị hết sứcthân ái và xúc động mà đôi khi chúng takhông để ý, thờ ơ…
3 Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5
Trong chương trình Tập làm văn lớp 5 bao gồm những kiểu bài sau:
- Nói, viết phục vụ cuộc sống hàng ngày gồm 16 tiết
Trang 7học sinh phải gửigắm tình yêu thương của mình với những gì mình miêu tả Bàivăn có đảm bảo yêu cầu này không còn phụ thuộc vào cách dùng từ, đặt câu củahọc sinh.
Sau khi tìm hiểu những vấn đề về đặc điểm của từvà câu, quy tắc thànhlập câu, quy tắc sử dụng từ Đây là một trong số nhữngvấn đề rất quan trọng đểthấy được những quy tắc chuẩn và các lỗi mà họcsinh dễ nhầm lẫn Từ đó làm
cơ sở khoa học để nghiên cứu khảo sát thựctrạng các lỗi dùng từ, đặt câu trongbài Tập làm văn miêu tả của học sinh lớp 5và tìm ra các nguyên nhân, biện phápkhắc phục Qua đó góp phần nâng caokhả năng dùng từ, đặt câu trong bài Tậplàm văn viết cho học sinh lớp 5.
II Thực trạng vấn đề.
1 Thuận lợi.
Trường Tiểu học Đông Sơn nằm phía Đông Bắc của thị xã Hiện tại nhàtrường đã có khu phòng học 2 tầng, khu nhà hiệu bộ, khu nhà bán trú đượcthiết kế đúng tiêu chuẩn phù hợp với học sinh tiểu học Nhìn chung cơ sở vậtchất đảm bảo cho việc dạy và học.Chất lượng học sinh của trường luôn đượcchú trọng và nâng cao do Ban giám hiệu nhà trường có năng lực chuyên môn vànăng lực quản lí tốt Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình
độ chuẩn trở lên, nhiệt tình trong công tác Các em học sinh chăm ngoan, tíchcực tham gia các hoạt động học tập Năm học 2013 - 2014 và năm học 2014 -
2015 trường đạt được nhiều thành tích xuất sắc và được UBND tỉnh Thanh Hóatrao cờ thi đua, năm học 2015 - 2016 nhà trường vinh dự được Thủ tướng Chínhphủ tặng bằng khen, đến năm học 2016 - 2017 trường Tiểu học Đông Sơn đãchính thức được công nhận trường chuẩn Quốc gia mức độ II
2 Khó khăn.
2.1 Về học sinh.
Trong năm học này, tôi được phân công dạy lớp 5A, lớp có 38 em họcsinh Chất lượng học sinh trong lớp được đánh giá là đều hơn so với lớp 5B và5C Nhiều học sinh trong lớp là con em các gia đình thuần nông, gia đình côngnhân và gia đình buôn bán nhỏ lẻ của thôn Sơn Nam, thôn Trường Sơn , một số
em bố mẹ đi làm ăn xa nhà phải ở nhà với ông bà như em Duy Bình, emNguyên Một số em bố mẹ đi làm trong nhà máy Giày da, Công ty May 10 từsáng sớm đến tối mới về như em: Trần Hiếu, Nhật, Gia Bảo, Quyết sự quantâm của cha mẹ còn hạn chế phần nào làm ảnh hưởng đến kết quả học tập củahọc sinh Nhiều em được gia đình cho sử dụng các thiết bị điện tử thông minh tự
do như: điện thoại, máy tính các em nghiện các trò chơi trên mạng xã hội, ítquan tâm, ít giao tiếp với môi trường xung quanh nên vốn từ hạn chế, kĩ nănggiao tiếp kém
Mặt khác, học sinh lớp 5 thuộc lứa tuổi từ 11 đến 12 tuổi, là giai đoạn cónhiều biến đổi tâm lí, hoạt động Ở lứa tuổi này, nhận thức của học sinh cónhững đặc điểm sau:
+ Về tri giác: vẫn còn mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và khôngchủ động, do đó nhiều khi các em phân biệt đối tượng trong bài Tập làm văn viếtcủa mình bị nhầm lẫn
Trang 8+ Về tư duy: tư duy của các em còn mang màu sắc cụ thể và hình thứcbằng cách dựa vào các đặc điểm của đối tượng, hiện tượng và chi tiết của sựviệc, hiện tượng cụ thể.
+ Về trí nhớ: về phát triển trí nhớ từ ngữ- logic vẫn còn chịu ảnh hưởngcủa trí nhớ máy móc, làm được bài tập ứng dụng là do làm đi làm lại nhiều lần,làm được lúc đó nhưng thời gian sau thì lại quên
+ Về khả năng chú ý: chú ý có chủ định phát triển hơn,nhưng một khi giờhọc không hấp dẫn thì chú ý có chủ định lại không bền
+ Về khả năng tưởng tượng: khả năng tưởng tượng phát triển phong phú mangtính hiện thực hơn Tuy nhiên tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức
2.2 Về giáo viên.
Qua thực tế giảng dạy của bản thân và khảo sát bài kiểm tra của lớp 5C và 5Btại trường tiểu học Đông Sơn, tôi nhận thấy mỗi giáo viên đều làm đúng vai tròhướng dẫn, tổ chức cho học sinh tiếp cận kiến thức trong sách giáo khoa Tuy nhiên
do thời lượng 1 tiết học có hạn mà số lượng học sinh đông nên giáo viên chưa thểchữa hết lỗi dùng từ đặt câu cho từng học sinh trong mỗi bài văn miêu tả
Để tìm hiểu vấn đề này, tôi đã thu các bài tập làm văn viết của học sinh,bài kiểm tra định kì giữa kì 1 năm học 2017 - 2018 của học sinh lớp 5A để thống
kê các lỗi dùng từ, đặt câu của các em:
Sĩ số học sinh trong lớp là: 38 em
Số lượng bài được tổng hợp là: 114 bài
Các lỗi dùng từ, đặt câu mà học sinh mắc phải được thống kê như sau:
Trang 9Qua bảng thống kê trên, tôi thấy học sinh mắc nhiềulỗi về lặp từ (25 lỗilặp từ, chiếm 43,1% tổng số lỗi dùng từ), làm cho câu văn rườm rà, tối nghĩa.
Ví dụ: Em Trần Phương Linh đã lặp lại cụm từ “của mình” ở hai câu liên tiếp.
Ví dụ nàycho thấy: Học sinh mắc cả lỗi về dùng từkhông đúng nghĩa,
nhầm lẫn từ đồng nghĩa: thị xã và thị thành.
Bảng thống kê lỗi đặt câu
1 Câu thiếu thành phần chủ ngữ hoặc vị ngữ 18 35,2%
4 Câu thiếu dấu câu hoặc sai dấu câu 2 3,9%
5 Câu không tương hợp giữa các thành phần diễn đạt 12 23,7%
Từ bảng thống kê trên ta có thể nhận ra ở lớp 5A học sinh ít mắc lỗi về sửdụng dấu câu, nhưng lỗi về viết câu thiếu thành phần chính lại tương đối nhiều
Ví dụ: Em Đặng Hà Linh viết câu thiếu vị ngữ:
Với phạm vi hạn hẹp của bản Sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ tổng hợpnhững lỗi dùng từ, đặt câu trong bài văn miêu tả mà học sinh lớp 5A mắc phảivàcác ví dụ cụ thể tôi sẽ trình bày kết hợp với phần biện pháp sửa lỗi Tuy nhiênnhìn vào những con số thống kê trên chúng ta có thể thấy số lỗi dùng từ, đặt câu
mà học sinh mắc phải trong bài văn miêu tả của học sinh là tương đối nhiều.Đây là hạn chế đối với quá trình dạy học Tập làm văn
Trang 104 Nguyên nhân:
Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trên gồm:
- Vốn kiến thức và kinh nghiệm viết văn miêu tả còn hạn chế, nhiều emchưa phân biệt được kể khác với miêu tả
- Học sinh chưa có được kĩ năng quan sát sự vật thực tế, kĩ năng quan sátkhông được rèn luyện thường xuyên, quá trình quan sát hời hợt thiếu địnhhướng, thiếu tinh tế, khả năng liên tưởng còn hạn hẹp
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, không hiểu nghĩa từ, dùng sai từđồng nghĩa
- Học sinh chưa biết bộc lộ cảm xúc trong quá trình miêu tả
- Giáo viên chưa có biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗi
- Chương trình sách giáo khoa hiện hành xây dựng chưa liền mạch còn cónhiều bất cập khiến học sinh khó tiếp cận
Có nhiều nguyên nhân cả về khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạngtrên Vì vậy việc tìm ra nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục các lỗi đó làviệc làm rất cần thiết và quan trọng
III Các biện pháp giải quyết vấn đề.
Để giúp học sinh sửa được lỗi dùng từ đặt câu trong bài văn miêu tả nóiriêng và góp phần năng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn nóichung, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:
1.Biện pháp 1: Làm giàu vốn từ cho học sinh bằng thực tế cuộc sống hằng ngày xung quanh các em
Làm giàu vốn từ cho học sinh là nhiệm vụ cơ bản và lâu dài của việc dạyTiếng Việt ở tiểu học, nhiệm vụ này không phải riêng của giáo viên mà cần có sựchung tay góp sức của cả cha mẹ các em Hiện nay nhiều em học sinh lớp 5không phân biệt và gọi đúng tên một số sự vật gần gũi trong đời sống xung quanh
Ví dụ: Không phân biệt được rau đay và rau mồng tơi, không phân biệtđược củ gừng và củ nghệ
Chính vì vậy, trong cuộc họp cha mẹ học sinh lần thứ nhất, tôi đã trao đổinhững vấn đề học sinh còn hạn chế về kĩ năng dùng từ, kĩ năng viết câu và cha
mẹ học sinh thống nhất cao một số vấn đề:
- Cha mẹ dành thời gian quan tâm tới các con nhiều hơn
- Không cho con sử dụng điện thoại, máy tính một cách tự do, khuyếnkhích động viên các con ngoài giờ học ở trường nên tham gia các hoạt động bênngoài như: giúp bố mẹ làm việc gia đình, chơi thể thao, chăm sóc cây rau
Rất nhiều gia đình đã dành thời gian đưa con đi tham quanxung quanh thị xãvào dịp cuối tuần: Ví dụ: Gia đình em Phùng Anh, Gia đình em Bảo Châu
Ở trường, tôi ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, tôi cho các emtham quan phong cảnh của thị xã Bỉm Sơn và các danh lam thắng cảnh trên mọimiền đất nước cũng như các nước khác qua màn ảnh nhỏ Hoạt động này, tôilồng ghép vào phần liên hệ thực tế của các bài học, các môn học thích hợp
Ngoài ra, các em được tham gia nhiều hoạt động bổ ích như:
- Chăm sóc vườn hoa, dọn vệ sinh môi trường
Trang 11- Tham gia sinh hoạt tập thể, tham gia ngày chạy Olympic vì sức khỏetoàn dân v.v
Học sinh lớp 5A tham quan vườn hoa nhà trường
Cô và trò cùng tham gia chạyOlympic Các em tham gia buổi Sinh hoạt tập thể
Tất cả các hoạt động trên đều giúp học sinh có điều kiện quan sát trực tiếpmôi trường sống xung quanh các em Một nguyên tắc quan trọng của khi dạy -học văn miêu tả là phải đảm bảo yêu cầu quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả,