SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓAPHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHÂN LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN HÓA HỌC 9 Ở TRƯỜNG
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÂN LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN HÓA HỌC 9 Ở TRƯỜNG
THCS TRẦN MAI NINH THÀNH PHỐ THANH HÓA
Người thực hiện: Nguyễn Văn Thịnh Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Trần Mai Ninh SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Hóa học
THANH HÓA NĂM 2018
Trang 2MỤC LỤC
PHỤ LỤC 1
PHẦN I MỞ ĐẦU 2
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2.Mục đích chọn đề tài 3
1.3.Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.Những điểm mới của skkn 3
PHẦN II NỘI DUNG .4
2.1.Cơ sở lí luận 4
2.2.Thực trạng 5
2.3.Giải pháp 6
2.4.Kết quả đạt được 16
PHẦN III KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 17
3.1 KẾT LUẬN 18
3.2 KIẾN NGHỊ 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
DANH MỤC 20
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Lớ do chọn đề tài
Bồi dưỡng cho học sinh năng lực sỏng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lýluận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trớ chủ thể hoạtđộng nhận thức, học trong hoạt động Học sinh bằng họat động tự lực, tớch cựccủa mỡnh mà chiếm lĩnh kiến thức Quỏ trỡnh này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽgúp phần hỡnh thành và phỏt triển cho học sinh năng lực tư duy sỏng tạo
Hoỏ học là bộ mụn khoa học quan trọng trong nhà trường phổ thụng.Mụn hoỏ học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thụng, cơbản và thiết thực đầu tiờn về hoỏ học, giỏo viờn bộ mụn hoỏ học cần hỡnhthành ở cỏc em một kỹ năng cơ bản, thúi quen học tập và làm việc khoa họclàm nền tảng cho việc giỏo dục xó hội chủ nghĩa, phỏt triển năng lực nhậnthức, năng lực hành động Cú những phẩm chất thiết như cẩn thận, kiờn trỡ,trung thực, tỉ mỉ, chớnh xỏc, yờu chõn lớ khoa học, cú ý thức trỏch nhiệm vớibản thõn, gia đỡnh, xó hội cú thể hoà hợp với mụi trờng thiên nhiên.Việc nắmvững cỏc kiến thức cơ bản gúp phần nõng cao chất lượng đào tạo ở bậc phổthụng, chuẩn bị cho học sinh tham gia cỏc hoạt đụng sản xuất và cỏc hoạt độngsau này
Trong mụn hoỏ học thỡ bài tập hoỏ học cú một vai trũ cực kỳ quan trọng
nú là nguồn cung cấp kiến thức mới, vận dụng kiến thức lớ thuyết, giải thớch cỏchiện tượng cỏc quỏ trỡnh hoỏ học, giỳp tớnh toỏn cỏc đại lượng: Khối lượng, thểtớch, số mol giỳp giỏo viờn kiểm tra đỏnh giỏ đợc kết quả học tập của học sinh,
Từ đú phõn loại học sinh để cú kế hoạch sỏt với đối tượng Việc giải bài tập sẽgiỳp học sinh được củng cố kiến thức lớ thuyết đó được học, vận dụng linh hoạtkiến thức vào làm bài Để giải được bài tập đũi hỏi học sinh khụng chỉ nắmvững cỏc tớnh chất hoỏ học của cỏc đơn chất và hợp chất đó học, nắm vững cỏccụng thức tớnh toỏn, biết cỏch tớnh theo phương trỡnh húa học và cụng thức hoỏhọc Đối với những bài tập đơn giản thỡ học sinh thường đi theo mụ hỡnh đơngiản: Như viết phương trỡnh hoỏ học, dựa vào cỏc đại lượng bài ra để tớnh số molcủa một chất sau đú theo phương trỡnh hoỏ học để tớnh số mol của cỏc chất cũnlại từ đú tớnh được cỏc đại lượng theo yờu cầu của bài Nhưng đối với nhiềudạng bài tập thỡ nếu học sinh khụng nắm được bản chất của cỏc phản ứng, khụngphõn dạng được bài tập, khụng nắm được phương phỏp giải thỡ việc giải bài húahọc của học sinh sẽ gặp rất nhiều khú khăn và thường là giải sai
Qua nghiờn cứu bài tập Hoỏ học và trực tiếp giảng dạy bản thõn tụi thấyhầu hết học sinh chưa biết phõn dạng và chưa cú phương phỏp giải bài tập húahọc nờn mỗi khi giỏo viờn đưa ra một dạng bài tập nào đú học sinh gặp rất nhiềukhú khăn trong việc xỏc định hướng giải Bờn cạnh đú việc khụng biết giải cỏcbài tập húa học hoặc thường xuyờn giải sai đó làm cho cỏc em cảm thấy mụnhúa là mụn học khú, trở nờn chỏn nản, khụng yờu thớch mụn học ảnh hưởng khụng nhỏ đến kết quả Dạy - Học
Mặt khỏc ở trường THCS Trần Mai Ninh bồi dưỡng học sinh giỏi là mộtnhiệm vụ vụ cựng quan trọng và cần thiết với mỗi giỏo viờn
Trang 4Từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vàoviệc tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp, làm giảm đi những khó khăn củahọc sinh trong quá trình học tập môn hóa, gây hứng thú học tập và lòng yêuthích bộ môn, nhằm phát triển tư duy lôgic giúp các em tích cực, tự lực, chủđộng tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duycủa các em ở các cấp học cao hơn góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo.
Nên tôi đã chọn đề tài: " Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập nhằm nâng cao chất lượng môn hóa học 9 ở trường trung học cơ sở Trần Mai Ninh thành phố Thanh hóa ".
1.2 Mục đích chọn đề tài :
Phân dạng được một số dạng bài tập hóa học và tìm ra được phương phápgiải các dạng bài tập đó một cách dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng học sinh,giúp các em giải tốt các dạng bài tập, từ đó có hứng thú với môn hóa học nhằmnâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sẽ giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyênmôn nghiệp vụ cho bản thân đồng thời tích luỹ thêm kinh nghiệm trong quátrình giảng dạy Đề tài này góp phần nho nhỏ vào việc cung cấp tài liệu thamkhảo cho cán bộ quản lí chỉ đạo chuyên môn Hóa học trong việc kiểm tra đánhgiá chất lượng dạy học ở trường THCS, đánh giá qua các kì thi học sinh giỏi cấptrường,cấp thành phố, đặc biệt là cấp tỉnh Với mục đích đã nêu trên tôi hy vọngnội dung này là tài liệu bổ ích, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng ,phươngpháp dạy và học môn Hóa học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu và tổng kết một số dạng dạng bài tập dùng chogiảng dạy học sinh đại trà và đặc biệt sử dụng trong bồi dưỡng học sinh giỏi cáccấp thành phố, cấp tỉnh bản thân tôi đã sử dụng trong các năm qua
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp thu thập thông tin, phươngpháp thống kê, phương pháp xử lí số liệu
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Sáng kiến kinh nghiệm này được phát triển trên cơ sở của sáng kiến kinhnghiệm ở năm trước nhưng lần này có bổ sung và có đưa vào một số dạng bàitập mới thường có trong các đề thi học sinh giỏi của một số đơn vị gần đây vàđặc biệt là trong mỗi dạng bài đều có những nhận xét, kết luận, tìm ra những bẫy
mà học sinh thường hay mắc sai lầm trong khi làm bài tập
Trang 5PHẦN II : NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận.
Trong giáo dục đại cương, bài tập được xếp trong hệ thống phương phápdạy học, thí dụ phương pháp luyện tập Phương pháp này được coi là một trongnhững phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.Đây cũng là một phương pháp học tập tích cực đối với học sinh Ở nhà trườngTHCS, giáo viên hóa học cần nắm vững các khả năng vận dụng bài tập hóa học,nhưng quan trọng hơn là cần lưu ý tới việc sử dụng bài tập hóa học sao cho phùhợp, đúng mức nhằm nâng co khả năng học tập của học sinh nhưng không làmquá tải hoặc nặng nề khối lượng kiến thức của học sinh Muốn làm được điềunày, trước hết người giáo viên hóa học phải nắm vững các tác dụng của bài tậphóa học, phân loại chúng và tìm ra phương hướng chung để giải
Bài toán hoá học được xếp trong giảng dạy là một trong hệ thống cácphương pháp quan trọng nhất, để nâng cao chất lượng giảng dạy và nó có nhữngtác dụng rất lớn
Làm cho học sinh hiểu sâu các khái niệm đã học: Học sinh có thể họcthuộc lòng các định nghĩa, khái niệm nhưng nếu không thông qua việc giải bàitập, học sinh chưa thể nào nắm vững được cái mà học sinh đã thuộc
Mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng
nề khối lượng kiến thức của học sinh
Củng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên và hệ thống hoá các kiếnthức hoá học
Thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, cần thiết về hoáhọc Việc giải quyết các bài tập hoá học giúp học sinh tự rèn luyện các kỹ năngviết phương trình hoá học, nhớ các ký hiệu hoá học nhớ các hoá trị của cácnguyên tố, kỹ năng tính toán v.v
Tạo điều kiện để tư duy phát triển, khi giải một bài toán hoá học bắt buộcphải suy lý, quy nạp, diễn dịch, loại suy
Giáo dục tư tưởng cho học sinh vì giải bài tập hoá học là rèn luyện chohọc sinh tính kiên nhẫn, trung thực trong lao động học tập, tính sáng tạo khi sử
lý các vấn đề đặt ra Mặt khác rèn luyện cho học sinh tính chính xác của khoahọc và nâng cao lòng yêu thích môn học
Phân dạng bài tập hóa học thực chất chính là việc lựa chọn, phân loại cácbài tập có những đặc điểm tương tự nhau, cách giải giống nhau để xếp vào cùngmột nhóm
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đíchnhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định do đó phương pháp giải bàitập hóa học cũng chính là cách thức, là con đường, phương tiện để giải các bàitạp hóa học
Học sinh phân dạng được các dạng bài tập hóa học và có phương phápgiải các dạng bài tập đó thì việc làm bài tập hóa học không còn là vấn đề khókhăn đối với các em nữa, các em sẽ tránh được những sai lầm trong khi giải bài,khi gặp bất kể một bài toán hóa học nào các em cũng có thể làm được một cáchdễ dàng, không ngần ngại, giáo viên cũng có nhiều thời gian hơn để đào sâu,
mở rộng, nâng cao kiến thức, đưa ra được nhiều cách giải hay, cách giải nhanh
Trang 6giúp các em học tập tốt bộ môn từ đó yêu thích và hứng thú với môn hóa họchơn, chất lượng dạy - học sẽ được nâng lên.
2.2 Thực trạng
Qua các giờ giảng dạy trên lớp, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi Giáo viên
tổ chức, hướng dẫn học sinh phân dạng bài tập hóa học trong chương trình hóahọc lớp 9 đồng thời hướng dẫn các em xây dựng phương pháp giải cho các dạngbài tập đó nhằm phát triển kỹ năng làm bài tập hóa học, giúp các em chủ độnggiải quyết các bài tập hóa học một cách dễ dàng
Khi được phân công giảng dạy môn hóa học của 2 lớp 9B, 9F tôi d y v iạy với ới
t ng s h c sinh l 100 em ã ti n h nh kh o sát ch t lđã tiến hành khảo sát chất lượng bộ môn và thu ến hành khảo sát chất lượng bộ môn và thu ảo sát chất lượng bộ môn và thu ất lượng bộ môn và thu ượng bộ môn và thung b môn v thuộ môn và thu
Từ kết quả của bảng trên cho thấy số lượng học sinh trung bình bộ mônhóa học ở 2 lớp 9B, 9F còn rất cao chiếm tới 24% Qua điều tra và thực tế giảngdạy cho thấy số học sinh này hầu như chưa có kỹ năng làm bài tập, chưa cóhứng thú trong học tập bộ môn, các em luôn cảm thấy sợ khi giáo viên giao bàitập cho làm tại lớp hoặc bài tập về nhà
* Để nắm được học sinh có hứng thú với môn hóa hay không tôi đã tiếnhành làm phiếu thăm dò 100 em học sinh của 2 lớp 9B,9F của trường Trần MaiNinh
a, Có b, Bình thường c, Không muốn
Trả lời: a =65 em(100%); b = 35 em(0%); c = 0 em(0%)
Trang 7* Nhận xét: Qua kết quả điều tra cho thấy phần lớn các em học sinh thích
học môn hoá nhưng khi hỏi các em có biết phân dạng và xác định được hướnggiải các bài tập hóa học không thì hầu hết các em trả lời là không và tất cả các
em học sinh đều muốn giáo viên giúp các em phân dạng và xác định phươngpháp giải Như vậy có nghĩa là trong quá trình dạy học người giáo viên ngoàiviệc truyền thụ đủ kiến thức theo yêu cầu của chương trình còn cần sáng tạo hơntrong việc truyền tải kiến thức đến học sinh, cần có những phương pháp tích cựctrong quá trình giảng dạy để đến được đích cuối cùng là học sinh hiểu bài, làmđược các bài tập có liên quan và vận dụng tốt trong học tập, lao động và trongcuộc sống
Nguyên nhân học sinh không phân dạng được bài tập và không xác địnhđược hướng giải các bài tập
- Khả năng nhận thức, phân tích tổng hợp của học sinh còn hạn chế
- Nhiều học sinh chưa chủ động trong học tập, còn lười làm bài tập ở nhà
- Sách giáo khoa đã đưa dược ra các dạng bài tập hóa học áp dụng vớitính chất là để củng cố lại phần kiến thức đã học trong bài như củng cố tính chấthóa học của oxit, axit, bazơ, muối mà các dạng bài tập lại không nằm gọn trongmột phần kiến thức nào cả, có thể trong một phần kiến thức rất nhỏ cũng có rấtnhiều dạng bài tập để học sinh luyện tập, điều đó đòi hỏi học sinh phải tích cực,
tự giác trong việc tự học ở nhà, làm đi làm lại nhiều lần để có kỹ năng từ đó mớiphân dạng được bài tập và rút ra được phương pháp giải các dạng bài tập đó
- Thời gian trên lớp chỉ đủ cho giáo viên truyền thụ hết lượng kiến thứcmới mà chương trình yêu cầu hoặc chỉ giải được rất ít bài tập nên khó khăn choviệc phân dạng và đưa ra phương pháp giải cho học sinh
Để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, đúcrút kinh nghiệm, tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, phân dạng được một
số dạng bài tập hóa học đơn giản và xác định được phượng pháp giải các dạngbài tập đó
2.3 Giải pháp
a Đề xuất biện pháp giúp học sinh học tốt bộ môn hóa học
Trước những thực trạng và nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đưa ra một sốgiải pháp giúp học sinh học tốt bộ môn hóa học nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc đó là:
- Biết phân dạng các dạng bài tập hóa học
- Xác định được phương pháp giải các dạng bài tập đó
Muốn vậy không ai khác giáo viên phải nghiên cứu và đưa vào thực tế giảngdạy
b Một số dạng bài tập hóa học lớp 9 và phương pháp giải
Dạng 1: Hoàn thành sơ đồ chuyển hóa
Dạng 2: Phương pháp giải bài tập nhận biết
Dạng 3: Phương pháp giải bài tập tách chất
Dạng 4: Bài tập về oxit axit tác dụng với dung dịch bazơ
c Phương pháp giải các dạng bài tập:
Trang 8
Dạng 1 : Hoàn thành sơ đồ chuyển hóa
a.Phương pháp: Nắm chắc kiến thức về tính chất hóa học của các chất
vô cơ ,mối quan hệ giữa các hợp chất, điều chế các hợp chất.
b Các ví dụ cụ thể:
Ví dụ1: Viết phương trình hóa học theo sơ đồ chuyển hóa sau:
(4) FeCl3 + 3AgNO3 3AgCl + Fe(NO)3
(5) Fe(NO3)3 + 3NaOH Fe(OH)3 + 3NaNO3
b Viết phương trình hóa học theo sơ đồ trên
c Sơ đồ chuyển hóa:
Na Na2O NaOH NaHCO3 Na2CO3 NaCl
Đây là dạng bài tập dùng cho đối tượng học sinh đại trà
Trang 9Ví dụ 3: Có những chất sau: Zn, Zn(OH)2, NaOH, Fe(OH)3, CuSO4, NaCl,HCl Hãy chọn chất thích hợp điền vào mỗi sơ đồ phản ứng sau và lập phươngtrình hóa học:
Sử dụng tính chất hóa học khác nhau
Sử dụng tính chất vật lí
2 Các dạng toán tách riêng chất ra khỏi hỗn hợp
a) Tách một chất ra khỏi hỗn hợp, làm sạch chất
Dạng toán này chỉ cần tách riêng một chất ra khỏi hỗn hợp, loại bỏ cácchất khác, ta có một trong hai cách giải sau:
* Cách 1: Dùng hóa chất phản ứng tác dụng lên các chất cần loại bỏ, còn
chất được tách riêng không tác dụng sau phản ứng được tách ra dễ dàng
Ví dụ 1: Có hỗn hợp Cu, Zn, Fe Hãy tách Cu ra khỏi hỗn hợp.
2Al + 2NaOH +2H2O 2NaAlO2 + 3H2
Ví dụ 3: Có hỗn hợp khí CO2 và O2 làm thế nào có thể thu được khí O2 ừhỗn hợp trên? Trình bày cách làm và viết phương trình hóa học
Bài giải:
t0
t0
Trang 10Dẫn hỗn hợp vào dung dịch nước vôi trong dư, lúc đó CO2 bị hấp thụhoàn toàn theo phản ứng:
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O
Còn O2 Không phản ứng, thoát ra khỏi dung dịch được thu lấy
Dùng hóa chất tác dụng với chất cần muốn tách riêng tạo ra sản phẩmmới, sản phẩm dễ tách khỏi hỗn hợp và dễ tái tạo lại chất ban đầu
Ví dụ: Có hỗn hợp ba muối rắn BaCl2, KCl, NaCl Hãy tách riêng BaCl2
khỏi hỗn hợp
Bài giải:
Cho hỗn hợp vào cốc đựng dung dịch Na2CO3 dư
BaCl2 + Na2CO3 BaCO3 + 2NaCl
Lọc tách BaCO3, rồi cho tác dụng với dung dịch HCl dư:
BaCO3 + 2HCl BaCl2 + CO2 + H2O
Dạng 3: BÀI TẬP VỀ OXIT AXIT TÁC DỤNG VỚI KIỀM:
1- Khi cho oxit axit (CO 2 , SO 2 ) vào dung dịch kiềm (NaOH, KOH )
có các trường hợp sau xảy ra:
n
NaOH KOH
CO SO ≤ 1 Kết luận: Sản phẩm tạo ra muối axit và CO2 hoặc SO2 còn dư