Bản thân tôi là một giáo viên toán cũng đã có nhiều năm trực tiếp giảng dạy toánTHCS song dạy toán cho đối tượng học sinh yếu kém là một vấn đề vô cùng khó khănvới bản thân tôi cũng như
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC SINH YẾU KÉM NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH ĐẠI
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:
Trong các môn học, môn toán là một môn học khó nhưng môn toán đóng vai tròhết sức quan trọng Bởi lẽ môn toán có ứng dụng rất lớn trong cuộc sống hàng ngày,ngoài ra môn toán có liên quan mật thiết đến các môn học khác một cách chặt chẽ,giúp cho con người hình thành và phát triển được sự linh hoạt, sáng tạo và tư duy trừutượng
Thực tế, có nhiều học sinh ngại học toán so với các môn học khác, đặc biệt làhọc sinh đầu cấp THCS Do lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường mới, phương phápmới, Với đối tượng học sinh yếu kém việc học toán còn là một vấn đề hết sức khókhăn và nan giải đối với các em
Bản thân tôi là một giáo viên toán cũng đã có nhiều năm trực tiếp giảng dạy toánTHCS song dạy toán cho đối tượng học sinh yếu kém là một vấn đề vô cùng khó khănvới bản thân tôi cũng như đối với những giáo viên trực tiếp giảng dạy khác Vì vậy đểnâng cao chất lượng học sinh, tôi luôn tìm tòi để tìm ra những phương pháp giảng dạysao cho phù hợp với các em, khi dạy học sinh yếu kém tôi cũng đã phát hiện để họcsinh yếu kém nắm được bài thì giáo viên phải thực hiện tốt những yêu cầu sau:
- Giáo viên dạy phải tạo được tình cảm gần gũi, thân thiện với các em
- Tạo cho các em sự thoải mái , tin tưởng vào bản thân
- Các em phải được cũng cố và bổ sung những kiến thức cơ bản đã học bị thiếu hụt
- Kiến thức giảng dạy cho các em phải mang tính vừa sức
- Phải dùng những từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ để khắc sâu kiến thức
Đã là giáo viên ai nghe cũng nghĩ những việc trên thì ai mà chẳng đã và đanglàm nhưng thực tế không phải vậy bởi:
- Không phải học sinh nào cũng có thể tâm sự và nói lên những suy nghĩ nguyệnvọng của mình cho thầy cô biết
- Không phải học sinh nào cũng mạnh dạn hỏi những điều các em chưa hiểu và khôngnhớ
- Không phải bài nào dù là rất dễ thì mọi học sinh cũng đều có thể hiểu được như nhau
- Không phải khi cùng nghe một bài giảng thì mọi em đều có thể nhớ được dù vấn đề
đó cực kì đơn giản
Bởi vì năng khiếu bộ môn của mỗi học sinh hoàn toàn khác nhau
Trên những cơ sở tưởng như đơn giản ấy nhưng khi áp dụng vào thực tế thì lại rất khó khăn và nếu ta thực hiện tốt những yêu cầu trên thì nó sẽ mang lại hiệu quả đáng kể Sau những tìm tòi nghiên cứu và thực hành với đối tượng học sinh lớp 6 củatrường THCS Minh Khai.Tôi thấy chất lượng học sinh yếu kém của lớp 6A năm học 2017-2018 của trường do tôi phụ trách cũng đã có nhiều cải thiện , tôi mạnh dạn đưa
ra “ Một số biện pháp dạy học sinh yếu kém môn toán 6” để các đồng chí đồng
nghiệp tham khảo và góp ý
Trang 31.2 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp kiến thức và phương pháp tự học cho học sinh khi học bộ môn Toán
- Hình thành tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh Khơi dậy tính sáng tạo và giải toán của học sinh - Phát triển năng lực tự học, biết liên kết và mở rộng các bài toán từ đó giúp các em hình thành phương pháp giải
- Giúp học sinh hứng thú hơn trong học tập
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp dạy học sinh yếu kém môn toán 6
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc tài liệu nghiên cứu
- Khảo sát, đối chiếu thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm
Trang 42 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
Để nâng cao chất lượng giáo dục THCS, nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà là hếtsức quan trọng Môn Toán lại là một trong những bộ môn trọng tâm được mọi người quan tâmhàng đầu Toán 6 là cơ sở ban đầu góp phần hình thành cội nguồn để các em học toán trongcấp THCS Nó là cơ sơ ban đầu để các em có sức mạnh vươn lên trong học tập bộ môn toán.Không những thế đối tượng học sinh lớp 6 cũng là học sinh đầu cấp bước đầu làm quen vớicách học mới cách dạy mới nên các em cũng gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là học sinh yếukém
2 2 Thực trạng
Một bộ phận học sinh học yếu toán Việc học môn toán đối với các em là khókhăn Chất lượng môn toán qua các đợt kiểm tra khảo sát tỷ lệ yếu, kém còn cao làvấn đề rất đáng lo ngại
Có nhiều nguyên nhân làm cho học sinh học yếu, kém môn toán, song nguyênnhân chính chủ yếu là :
- Học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, có nhiều lỗ hổng về kiếnthức, kỹ năng
- Do điều kiện hoàn cảnh, gia đình quan tâm chưa đúng mực
- Năng lực một số học sinh hạn chế việc tiếp thu kiến thức bộ môn toán
- Môn toán là bộ môn mang tính trừu tượng, logic cao việc diễn đạt đúng hiểubiết của các em đối với một bài toán cũng là rất khó khăn
Dẫu là do nguyên nhân nào đi nữa thì đối với các em về kiến thức cũng có nhiều
lỗ hổng bản thân các em học yếu nên cũng có nhiều mặc cảm, các em không có tự tinnhiều trong việc tiếp thu kiến thức mới, không mạnh dạn nêu ra những ý kiến của bảnthân, ngoài ra các em còn yếu cả về kĩ năng trình bày chữ viết và diễn đạt lời giải củamột bài toán
Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán khi lên lớp trên càng tăng vàcàng nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác
Qua khảo sát cho học sinh làm bài kiểm tra ở lớp 6A của trường THCS
Minh Khai năm học 2017- 2018 (khi chưa áp dụng đề tài )
Qua chấm chữa bài cho HS Tôi rút ra được một số kết luận như sau:
Khả năng tính toán của nhiều em còn chậm, chưa chính xác , chưa linh hoạt, chưa vậndụng hợp lí các phương pháp giải, hợp logic, khả năng phân tích, dự đoán kết quả củamột số em còn yếu và khả năng diễn đạt bài giải của nhiều em còn rất nhiều hạn chế
Trang 5Bởi vậy muốn nâng cao được chất lượng Giảm thiểu được số học sinh
yếu kém bộ môn toán người giáo viên cần làm tốt các biện pháp sau:
Lỗ hổng kiến thức- chỗ trống do thiếu hụt cần phải được bù đắp thườngxuyên,liên tục và nhanh chóng các kiến thức ấy Các đồng nghiệp dạy toán đều thấyhọc sinh học yếu toán thì có nhiều lỗ hổng kiến thức, học sinh học kém toán thì lỗhổng kiến thức càng nhiều Học sinh học trung bình vẫn còn hổng kiến thức Khi họcsinh đã mất gốc thì càng học lên lớp trên thì lỗ hổng kiến thức ngày càng rộng, càngsâu, càng nhiều Các em càng không hiểu, không nhớ, không biết vận dụng lý thuyết
để giải bài tập Các nguyên nhân học sinh hổng
kiến thức cũng là nguyên nhân học sinh học yếu, kém môn Toán
Học sinh yếu thường chậm hiểu, có khi bị buộc chặt vào lời giảng của giáo viênhoặc cách phát biểu trong sách giáo khoa Thay cho việc tiếp thu nội dung bài bằngphương pháp tìm tòi để lĩnh hội kiến thức mới thì học sinh lại nắm kiến thức một cáchmáy móc Học sinh có thể đọc vanh vách quy tắc, định lý, tính chất nhưng học sinhkhông hiểu nên từ đó dẫn đến học sinh không vận dụng được vào làm bài tập là điềuhiển nhiên
Với giáo viên việc sử dụng phương pháp đặc trưng của bộ môn: Vận dụng vàphối hợp các phương pháp truyền thống với phương pháp “lấy học sinh làm trungtâm” phải hết sức linh hoạt, để nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao hiệu quả đàotạo học sinh
Đối với học sinh yếu kém, giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức,
kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức và tăng cường luyện tậpvừa sức
Đặt ra những yêu cầu nhất định với học sinh.Để học sinh phải vận dụng kiếnthức vào giải bài tập
Giáo viên cần cung cấp cho học sinh các kiến thức sơ đẳng về cách thức học tậpnhư: phải nắm vững lý thuyết mới tiến hành làm bài tập, cần phải đọc kỹ đề bài, phântích các yêu cầu của bài toán, định hướng được cách giải khi làm bài
*) Các em phải học và làm bài đầy đủ theo yêu cầu của thầy cô, không chỉ yêucầu ở các tiết học chính khoá mà cả những giờ học phụ đạo,học thêm học sinh cầnlàm tất cả các bài tập mà giáo viên yêu cầu
*) Khi có chỗ nào không hiểu thì có thể nhờ bạn bè giúp đỡ hoặc trực tiếp hỏi lạithầy cô, nhờ thầy cô hướng dẫn
*) Chú ý: không nên học thuộc lòng theo kiểu học vẹt mà phải hiểu được nộidung của bài giảng rồi dùng lời văn diễn đạt theo sự hiểu biết của mình
Trang 6*) Mỗi ngày nên bỏ ra một ít thời gian để làm bài tập, lâu dần các em sẽ quen vàkhông gặp khó khăn khi tính toán ,giải bài toán thông thường.
b Nội dung của biện pháp
- Tìm hiểu nguyên nhân học yếu của từng học sinh.Phân loại đối tượng :căn cứ chấtlượng kiểm tra bộ môn phân chia khối 6 thành 2 loại:
*) Loại 1: chất lượng kiểm tra từ trung bình trở lên - có điểm kiểm tra môn Toán từ
5 điểm trở lên
*) Loại 2:chất lượng dưới trung bình - có điểm kiểm tra môn Toán dưới 5 điểm.Chia cả lớp thành 2 loại, mỗi loại là những học có cùng khả năng nhận thức để giáo viên có biện pháp phụ đạo cho học sinh yếu kém
- Tìm hiểu nguyên nhân học yếu môn toán của từng em để có biện pháp phụ đạo phù hợp
- Gần gũi tâm sự tạo mối thân thiện để học sinh tin tưởng Có thể tâm sự những khókhăn của mình trong việc tiếp thu bài
c Yêu cầu của biện pháp
- Trong quá trình tìm hiểu phân loại phải chính xác có thể kiểm tra 2 đến 3 lần
- Cần phân ra từng nhóm theo nguyên nhân yếu kém của học sinh
Nhóm 1: Học sinh có kĩ năng tính toán chậm
Nhóm 2: Học sinh có kĩ năng diễn đạt bài kém
Nhóm 3: Những học sinh phát triển tư duy chậm, năng lực tiếp thu kém
- Lập kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng
+) Trong dạy học chính khóa
+) Giúp đỡ học sinh ngoài tiết học chính khóa
+) Trong thực hiện học thêm, dạy phụ đạo
+) Hướng dẫn tự học buổi tối
2.3.2 Bổ sung kiến thức cơ bản cho HS
a Cơ sở xác định biện pháp
Việc bồi dưỡng kiến thức cơ bản là một công việc cực kỳ quan trọng vì kiếnthức cơ bản là nền tảng quyết định đến khả năng học tập của các em, đặc biệt mônToán càng quan trọng hơn vì lượng kiến thức của bộ môn Toán có mối quan hệ chặtchẽ với nhau Do đó trong quá trình dạy học cần giúp HS bổ sung các kiến thức cơbản bị hổng từ đó có cơ sở để học tập kiến thức mới và giải các
bài toán có liên quan
b Nội dung của biện pháp
Để bồi dưỡng kiến thức cơ bản bị hổng của học sinh có hiệu quả thì chúng ta cần:
- Xác định được đối tượng cần phụ đạo kiến thức
-Xác định nội dung kiến thức cần bổ sung, phụ đạo
-Lập kế hoạch của việc cần phụ đạo kiến thức
Trang 7-Đánh giá hiệu quả qua việc phụ đạo kiến thức.
c Yêu cầu của biện pháp
Trong quá trình học tập đa số những học sinh yếu kém đều nắm kiến thức cơbản một cách sơ sài, do trong quá trình học tập các em tiếp thu chậm nên không hiểuhoặc hiểu vấn đề không thấu đáo cũng có những học sinh do không chú ý trong giờhọc, cũng có những học sinh kĩ năng áp dụng lí thuyết vào bài tập yếu, Bởi vậyGiáo viên cần chú trọng đến việc bổ sung các kiến thức cơ bản cho các em để nhằmgiúp cho các em nắm vững các kiến thức đã học Từ đó các em có nền tảng vững chắc
và cũng là cơ sở giúp cho các em học tập một cách tốt hơn
Muốn vậy, trong quá trình kèm cặp học sinh yếu GV có thể thông qua hệ
thống câu hỏi để HS nắm lại các kiến thức đã học Sau mỗi phần cũng cố cần cho các em rèn luyện một số bài tập ứng dụng để các em được thực hành và ghi nhớ
GV:Yêu cầu học sinh nêu thứ tự thực hiện phép toán
HS: Thực hiện trong ngoặc trước.Ngoài ngoặc sau, nhân chia trước ,cộng trừ sau
• Đối với câu a)
GV:Hãy nêu thứ tự thực hiện phép tính?( Thực hiện trong ngoặc trước)
GV:Trong dấu ngoặc là phép toán gì ? Nêu cách nhân hai phân số ?
HS: Nhân tử với tử,mẫu với mẫu
15
7 : 5
4 5
7 3
1 : 5
GV: Để thực hiện phép chia hai phân số ta làm như thế nào ?
HS: Nhân số bị chia với nghịch đảo của số chia
GV: Trong quá trình thực hiện các phép tính ta cũng cần chú ý đến việc rút gọn đểgiúp cho bài toán trở nên dễ tính hơn
15
7 : 5
4 5
3 4 7
15 5
4 − = − = −
=
• Đối với câu b)
GV: Nêu thứ tự thực hiện phép toán ?(Thực hiện trong ngoặc trước)
GV: Hãy cho biết thứ tự thực hiện dấu ngoặc ?
GV: Trong dấu ngoặc gồm những phép toán nào? Thứ tự thực hiện của chúng ra
sao ?
GV: Để cộng phân số không cùng mẫu ta làm như thế nào ?
HS: Ta quy đồng mẫu sau đó cộng các tử với nhau và giữ nguyên mẫu
3 35
Trang 8a)
15
7 : 5
4 5
7
3 4 7
15 5
Qua bài toán trên nhằm cũng cố cho các em thứ tự thực hiện phép tính, cộng trừnhân chia các phân số đồng thời cũng rèn luyện khả năng tính toán cho các em Đặcbiệt trong quá trình dạy học GV cần đặt nhiều câu hỏi cho học sinh
nhằm giúp cho các em cũng cố kiến thức đã học
−
B =
4
1 : 5
3 1 8
1 3 5
4 2
hướng giải bài toán là một vấn đề rất cần thiết và rất quan trọng
b Nội dung biện pháp
Khi giải bài toán thì chúng ta cần phải biết đường lối giải nhưng không phải bàitoán nào cũng dễ tìm thấy đường lối giải Do đó việc tìm ra đường lối giải cũng là mộtvấn đề nan giải nó đòi hỏi cả một quá trình rèn luyện lâu dài Ngoài việc nắm vữngcác kiến thức cơ bản thì việc thực hành cũng rất quan trọng Nhờ quá trình thực hành
đó giúp cho HS hình thành nên những kỹ năng, kỹ xảo và định hướng được đường lốigiải bài toán Do đó nó đòi hỏi người dạy, người
học phải có tính nghiêm túc, cẩn thận và kiên nhẫn cao
c Yêu cầu của biện pháp
Việc xác định đường lối giải chính xác sẽ giúp cho HS giải quyết các bài toánmột cách nhanh chóng, dễ hiểu, ngắn gọn và tránh mất thời gian Chính vì vậy, đòi hỏimỗi GV cần phải rèn luyện cho HS khả năng định hướng đường lối
giải bài toán là điều không thể thiếu trong quá trình dạy học toán
d Ví dụ minh họa
Ví dụ 1 ( Bài tập 168 d- ôn tập Toán 6 tr 92 )
Trang 9Tính: 5 18 0, 75
24 27 + +
Hướng dẫn giải bài toán
GV: Để thực hiện được phép tính trên, trước tiên chúng ta cần làm gì ?
HS: Đổi số thập phân ra thành phân số 5 18 75
24 27 100 + + GV: Ta có nhận xét gì về các phân số trên ?(Có phân số chưa tối giản )
GV : Vậy ta phải làm gì để quá trình tính toán được tiện lợi ?
HS: Rút gọn phân số chưa tối giản : 5 2 3
24 3 4 + +GV: Để thực hiện phép cộng phân số không cùng mẫu ta làm như thế nào ?
HS: Quy đồng các phân số cùng mẫu, sau đó lấy tử cộng tử và giữ nguyên mẫu
Ví dụ 2 ( Ví dụ 64 ôn tập Toán 6 tr 99 )
Tính nhanh: 7 11 2 7 8
15 13 13 15 15. .
Hướng dẫn giải bài toán
GV: Hãy quan sát và nhận xét các số hạng của biểu thức ?
HS: Số hạng thứ nhất và số hạng thứ hai có chung phân số là 7
15GV: Để tính nhanh giá trị của biểu thức trên ta cần vận dụng tính chất nào để giải ?HS: Áp dụng tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng để giải
Qua bài toán này rèn luyện khả năng quan sát và vận dụng các kiến thức đã học
để giải bài toán
Ví dụ 3 ( Ví dụ 62 ôn tập Toán 6 tr 94 )
Tính: 1 1 1 1
2.3 3.4 4.5 19.20
S = + + + +
Hướng dẫn giải bài toán
Đối với những bài toán như thế này thì chúng ta không thể tiến hành quy đồng mẫu để tính tổng được vì làm như vậy chỉ làm mất thời gian của ta Khi chúng ta gặp những bài toán như thế này thì cần phải tìm ra quy luật của nó
GV: Hãy phân tích số hạng thứ nhất thành hiệu ?
Trang 10Tóm lại : Công việc định hướng giải bài toán cho HS là một công việc quan
trọng đầu tiên của một bài giải, nó đòi hỏi phải định hướng đúng nên GV cần rènluyện thường xuyên cho HS nhằm làm tăng khả năng suy luận, lập luận một cáchlogic, giải quyết bài toán một cách nhanh chóng và tránh được mất thời
gian khi giải bài toán
2.3.4 Phân loại bài toán
a Cơ sở xác định biện pháp
Phân loại bài toán cũng được coi là một bước quan trọng để bồi dưỡng cho từngđối tượng HS một cách hợp lí nhất Khi chúng ta làm tốt công việc này sẽ giúp nhiềucho việc học tập của HS, nó cũng giúp HS nắm vững các kiến thức đồng thời tăng khảnăng giải toán cho các em và gây được hứng thú nhu cầu ham học toán ở tất cả cácđối tượng HS
b Nội dung biện pháp
Muốn phân loại bài toán có hiệu quả thì chúng ta cần:
-Phân biệt được mức độ của bài toán
-Mức độ và khả năng học tập của mỗi HS
-Hiệu quả của việc phân loại bài toán
c Yêu cầu của biện pháp
Việc phân loại bài toán nhằm giúp cho HS nắm vững các kiến thức đã học Qua
đó cũng đánh giá được mức độ học tập của các em đồng thời cũng tăng khả năng họctoán, giải toán cho các em Từ đó GV có thể xây dựng kế hoạch dạy
học một cách hợp lí nhằm đem lại hiệu quả học tập cho HS một cách tốt nhất
Do đối tượng là HS yếu nên khi giải bài toán cần đặt nhiều câu hỏi gợi mở ởmức độ dễ và xác với yêu cầu
GV: Em có nhận xét gì về mẫu của 2 phân số ( câu a )
HS: Có cùng mẫu ( cùng số ) nhưng chỉ khác nhau về dấu
GV: Vậy để thực hiện phép cộng 2 phân số đó ta làm như thế nào ?
HS: Viết phân số dưới dạng phân số có cùng mẫu dương, sau đó áp dụng quy tắc cộng 2 phân số cùng mẫu
Trang 11a) 1 7 1 7 8
− + = − +− = −
−Riêng câu b, GV có thể cho HS nhắc lại quy tắc cộng 2 phân số không cùngmẫu trước khi thực hiện
HS: Quy đồng cùng mẫu, sau đó lấy tử cộng tử và giữ nguyên mẫu
*Đối với HS yếu nên đặt các câu hỏi dễ hiểu, gợi ý các chi tiết rõ ràng để các
em dễ nắm được cách giải nội dung bài tập một cách hợp lí hơn Câu b tương tự nhưcâu a
6 5
) 5 (
2 12 12
5 2 12
9 12
4 2 4
3 3
1 2
=
⇔
− +
=
x
x x
x x
b
*Qua bài toán này nhằm giúp cho HS vận dụng được các kiến thức cộng 2 phân
số và tùy thuộc vào đối tượng giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý thêm cho HS
Mức độ 3 :
Ví dụ 3 ( Đề số 2 Đề kiểm tra Toán 6 tập 2 tr 30 )
Ba người cùng làm chung một công việc Nếu làm riêng người thứ nhất phảimất 4 giờ, người thứ hai phải mất 6 giờ, người thứ ba phải mất 5 giờ Hỏi nếu làmchung thì mỗi giờ cả ba người làm được bao nhiêu phần công việc
Phân tích bài toán
GV: Người thứ nhất phải mất 4 giờ để làm xong công việc Vậy trong 1 giờ người thứnhất làm được bao nhiêu phần của công việc ?
HS: Người thứ nhất làm được 1
4 công việc