1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp tạo hứng thú và phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập môn khoa học lớp 4

21 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy môn Khoa học không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức đơn thuần mà còn nhằm dạy cho học sinh tập làm quen với cách tư duy chặt chẽ mang tínhkhoa học, hình thành cho học sinh những năng

Trang 1

Mục lục

Trang

1 Mở đầu 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng vấn đề 3

2.3 Các biện pháp thực hiện 4

2.4 Hiệu quả của sáng kiến 18

3 Kết luận, kiến nghị 19

3.1 Kết luận 19

3.2 Kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 21

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Ở Tiểu học, giúp các em có những hiểu biết về thế giới xung quanh,những hiện tượng khoa học, những vấn đề về thiên nhiên là mục tiêu quantrọng Môn Khoa học cung cấp cho các em những kiến thức đó Đó là môn họctích hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vaitrò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đức của conngười Việc dạy môn Khoa học không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức đơn thuần

mà còn nhằm dạy cho học sinh tập làm quen với cách tư duy chặt chẽ mang tínhkhoa học, hình thành cho học sinh những năng lực cần thiết để thích ứng vớithực tế cuộc sống và tiếp tục học tập sau này Chính vì vậy, Khoa học là mônhọc quan trọng trong nhà trường

Bên cạnh đó, quá trình hội nhập của Việt Nam, các nước trong khu vực

và trên thế giới đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải có những đổi mới trong mụctiêu và nội dung dạy học Sự đổi mới này đòi hỏi phải có những đổi mới vềphương pháp dạy học Theo định hướng đó, phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tích tực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm củatừng lớp học, môn học

Không những thế, học sinh chỉ học tập đạt kết quả tốt khi yêu thích mônhọc đồng thời các em cũng tìm được cảm hứng từ môn học đó Việc đổi mớiphương pháp dạy học, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động là một việc làmkhông phải dễ và cũng không phải ngày một ngày hai mà làm được Nó đòi hỏimột sự đầu tư lâu dài, một quá trình rèn luyện không ngừng của người giáoviên Mỗi một sự cố gắng dù rất nhỏ trong nhận thức của giáo viên về đổi mớiphương pháp, hình thức dạy học đều là động lực tạo hứng thú học tập cho các

em học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

Với những lý do nêu trên, để tạo hứng thú và phát huy tính tích cực củahọc sinh trong học tập môn Khoa học đang là một đòi hỏi cấp bách cần giảiquyết Vì vậy, tôi đã đúc kết cho mình một số kinh nghiệm khi giảng dạy môn

học này Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú và phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập môn Khoa học lớp 4."

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của sáng kiến nhằm:

- Tìm hiểu các nguyên nhân vì sao học sinh chưa hứng thú, chưa tích cựchọc môn Khoa học

- Tìm ra các giải pháp nhằm giúp học sinh có hứng thú để các em tích cựchơn trong quá trình học tập môn học nói trên, từ đó góp phần nâng cao chất

lượng và hiệu quả của phương châm giáo dục toàn diện cho học sinh.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 4A và lớp 4B - Trường Tiểu học Hermann Gmeiner

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứusau:

Trang 3

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sự hứng thú và tính tích cực học tậpcủa học sinh.

- Phương pháp điều tra: Khảo sát đánh giá thực trạng tính tích cực học tậpcủa học sinh

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích tổng hợp

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú

và chủ yếu là cảm tính Đồng thời lứa tuổi này còn mang các đặc điểm tâm lýhồn nhiên, ngộ nghĩnh và hiếu động Các em thích vui chơi, thích các trò chơivui nhộn "vừa chơi, vừa học" Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớthì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó chonên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi

"Chóng nhớ, mau quên" Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việcthường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhớ thì việc tạo cho các emcảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em

sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa

tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể Các em không những

nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác,tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích cácvấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễdàng

Ở trường Tiểu học việc xây dựng chương trình học tập cho học sinh đượcchia theo hai giai đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5 Nếu như ởcác lớp 1, 2, 3 việc nắm bắt kiến thức của học sinh còn ở mức sơ giản thìchương trình của lớp 4, 5 đã mở rộng hơn rất nhiều Kiến thức về tự nhiên, xãhội được mở rộng hơn, thể hiện rõ ở môn Khoa học Với chương trình lớp 4môn Khoa học được tích hợp các kiến thức như: vật lý, sinh học, hoá học vàmột số kiến thức của môn sức khoẻ cũ cũng được tích hợp vào môn học này Do

đó các nội dung kiến thức của môn học này mang tính trừu tượng, yêu cầu họcsinh phải ghi nhớ Đồng thời đối với học sinh lớp 4 là lớp bản lề của hai giaiđoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5 Mặt khác, lớp 4 cũng là lớphọc bắt đầu của việc tách môn học "Tự nhiên - Xã hội" thành các môn Khoahọc, Lịch sử, Địa lý và cũng là lớp tạo nền tảng cho việc học tập và tìm hiểukiến thức các môn học này ở lớp 5 và các lớp trên

Vì vậy để "tạo hứng thú và phát huy tính tích cực" cho học sinh khi học

môn Khoa học ở lớp 4 là hết sức cần thiết

2.2 Thực trạng vấn đề

Qua một số tiết dạy những ngày đầu năm học, tôi nhận thấy một tồn tạitrong việc học môn Khoa học của học sinh lớp 4A là các em ngại học, khônghào hứng Chính vì ngại, không hứng thú nên tính tích cực học tập của các emcòn rất yếu, thể hiện qua một số dấu hiệu sau:

Trang 4

+ Học sinh ít giơ tay phát biểu ý kiến của mình về các vấn đề giáo viênnêu ra (chỉ có khoảng 10% số học sinh cả lớp tham gia phát biểu ý kiến xâydựng bài trong mỗi tiết học).

+ Nếu được hỏi, học sinh chủ yếu lệ thuộc vào sách giáo khoa, ít tư duy.+ Không thắc mắc hay đòi hỏi giáo viên phải giải thích cặn kẽ những vấn

Vào đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra các tiết học Khoa học tại lớp4A (25 học sinh) tôi thu được kết quả như sau:

Tổng số

học sinh

Hứng thú, tích cực với tiết học Thờ ơ với tiết học

có niềm yêu thích và tích cực học môn Khoa học hơn, tôi xin mạnh dạn trìnhbày một số biện pháp như sau:

Trang 5

học tập đồng thời bước đầu hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học,chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các lớp trên.

* Ví dụ bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn?

Học sinh sưu tầm các đồ chơi bằng nhựa như: gà, cá, tôm, cua, Mụcđích của việc sưu tầm là giúp các em phân loại nhóm thức ăn cần ăn đủ, ăn cómức độ, ăn ít và ăn hạn chế Đồng thời đó cũng là dụng cụ để các em tham giatrò chơi học tập theo nhóm

* Ví dụ bài 54: Nhiệt cần cho sự sống.

Học sinh sưu tầm ảnh về các loài động vật, thực vật Học sinh làm việctheo nhóm với yêu cầu sau:

- Phân loại tranh ảnh sưu tầm theo sự phân bố của chúng trên trái đất nhưsau:

+ Động vật, thực vật sống ở xứ lạnh, băng tuyết quanh năm

+ Hướng dẫn học sinh phân loại tranh theo yêu cầu của bài học

+ Sử dụng tư liệu sưu tầm của học sinh các khoá trước

+ Đánh giá, động viên việc sưu tầm tư liệu của học sinh

+ Giáo viên thường xuyên bổ sung tư liệu, kiến thức ngoài sách giáo khoatrong các tiết học

* Ví dụ bài 58: Nhu cầu nước của thực vật

Học sinh sưu tầm tranh, ảnh, một số cây thật Học sinh sẽ làm việc theonhóm với các yêu cầu:

- Phân loại các loại cây đã sưu tầm theo 4 nhóm sau đây;

+ Cây chịu được khô hạn

+ Cây sống trên cạn ưa ẩm ướt

+ Cây sống dưới nước

+ Cây vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước

- Nhận xét về nhu cầu nước của mỗi loài cây

Sau khi tìm hiểu và phân loại từ những tranh, ảnh, cây đã sưu tầm, họcsinh tự rút ra được kết luận về nhu cầu nước của mỗi loài cây (Mỗi loài cây cónhu cầu về nước khác nhau)

Biện pháp 2: Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản.

Ở lớp 4, chủ đề “Vật chất và năng lượng” giúp học sinh bước đầu làmquen với kiến thức hóa học vô cơ Nội dung này được thể hiện nhiều là qua cácthí nghiệm, vì vậy khi giảng dạy, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến việc làmthí nghiệm

* Phương pháp thí nghiệm có tác dụng :

Trang 6

+ Giúp học sinh đi sâu vào tìm hiểu bản chất các sự vật, hiện tượng, sựvật tự nhiện.

+ Thí nghiệm được sử dụng như “nguồn” dẫn học sinh đi tìm tri thứcmới, vì thế các em sẽ hiểu sâu nhớ lâu

+ Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng: đặt thí nghiệm, lắp ráp dụng cụthí nghiệm, quan sát diễn biến thí nghiệm,

* Để dạy học theo phương pháp thí nghiệm thông thường cần tuân theocác bước sau:

a) Xác định mục đích của thí nghiệm:

Các thí nghiệm trong chương trình khoa học 4 có thể phân thành 3 loạichính:

- Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

- Loại nghiên cứu điều kiện (cái này là điều kiện của cái kia hoặc hiệntượng kia)

- Loại nghiên cứu tính chất của một vật

b) Vạch kế hoạch tiến hành thí nghiệm:

Liệt kê những dụng cụ thí nghiệm cần có và những điều kiện để tiến hànhthí nghiệm.Vạch kế hoạch cụ thể (Làm gì trước? Làm gì sau?)

- Thực hiện thao tác gì? Trên vật nào ?

- Quan sát dấu hiệu gì? Ở đâu? Bằng giác quan nào hoặc phương tiệnnào?

c) Tiến hành thí nghiệm

Bố trí, lắp ráp và làm thí nghiệm theo các bước đã vạch ra

* Khi làm thí nghiệm, giáo viên cần nắm vững và thực hiện các yêu cầusau:

+ Học sinh phải chọn ra được một số yếu tố riêng có thể khống chế được

để nghiên cứu hoặc phải tác động lên hiện tượng, sự vật cần nghiên cứu

+ Học sinh cần phải theo dõi, quan sát các hiện tượng xảy ra trong thínghiệm

+ Học sinh cần biết thiết lập các mối quan hệ (nguyên nhân - kết quả) giảithích các kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận

+ Các điều kiện và quá trình được kiểm soát là thiết yếu đối với một sốthí nghiệm

+ Chú ý đảm bảo an toàn cho học sinh khi làm thí nghiệm

d) Phân tích kết quả và kết luận: Phần này, giáo viên cần hướng dẫn họcsinh chú ý đến các dấu hiệu bản chất Dạy học sinh cách so sánh, suy luận kháiquát để rút ra kết luận

- Lưu ý: Tuỳ từng thí nghiệm, tuỳ trình độ học sinh, giáo viên có thể yêucầu học sinh làm thí nghiệm ở các mức độ khác nhau:

- Học sinh nghiên cứu thí nghiệm được trình bày trong sách giáo khoa đưa ra giả thuyết, giải thích và kết luận

- Giáo viên làm mẫu, học sinh làm theo

- Giáo viên giao nhiệm vụ, giúp đỡ học sinh từng bước tiến hành thínghiệm thông qua phiếu học tập hoặc chỉ dẫn bằng lời

Trang 7

- Giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự làm, giáo viên theo dõi và đưa rachỉ dẫn kịp thời nếu thấy cần thiết.

Vì thế trừ một số thí nghiệm đòi hỏi tính chính xác cao phải do giáo viênthực hiện (ví dụ bài 31: thí nghiệm chứng minh tính chất của không khí: Khôngkhí nở ra khi nóng lên và co lại khi lạnh đi; bài 37: Thí nghiệm chứng minhkhông khí chuyển động từ nơi lạnh đến nơi nóng, không khí chuyển động tạothành gió) các thí nghiệm nêu ở sách giáo khoa, tôi chia lớp thành nhiều nhóm

để thực hành

Đối với mỗi thí nghiệm yêu cầu học sinh thực hiện đúng theo các bướcsau:

Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ.

Bước 2: Tiến hành thí nghiệm.

Bước 3: Quan sát thí nghiệm.

Bước 4: Giải thích thí nghiệm

* Ví dụ bài 35: Không khí cần cho sự cháy

Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò của ô - xi đối với sự cháy

Mục tiêu: Làm thí nghiệm chứng tỏ: Càng có nhiều không khí càng cónhiều ô - xi để duy trì sự cháy được lâu hơn

Bước 1: Chuẩn bị:

+ Hai lọ thủy tinh ( 1 lọ to, 1 lọ nhỏ)

+ Hai cây nến bằng nhau

Bước 2: Cách tiến hành

Giáo viên cho học sinh đọc cách tiến hành trong SGK để học sinh nắmđược cách làm thí nghiệm như sau:

+ Lấy 2 lọ thủy tinh cùng úp đồng thời vào 2 cây nến đang cháy

+ Quan sát sự cháy của các ngọn nến

Bước 3: Quan sát thí nghiệm

- Học sinh quan sát để thấy được ngọn nến trong lọ thủy tinh to thời giancháy dài hơn, ngọn nến trong lọ thủy tinh nhỏ thời gian cháy ngắn hơn

Bước 4: Giải thích hiện tượng

Học sinh dựa vào các thành phần của không khí để giải thích hiện tượngcây nến trong lọ thủy tinh to cháy lâu hơn cây nến trong lọ thủy tinh nhỏ nhưsau:

Nến trong lọ thủy tinh cháy lâu hơn vì lượng không khí ở trong lọ nhiềuhơn nên lượng ô - xi nhiều hơn Còn nến trong lọ thủy tinh nhỏ tắt nhanh hơn vìlượng không khí trong lọ nhỏ ít hơn nên lượng ô - xi ít hơn

Sau đó học sinh rút ra kết luận: Ô - xi trong không khí cần cho sự cháy Càng có nhiều không khí thì càng có nhiều ô - xi để duy trì sự cháy lâu hơn Vì vậy cần có không khí để duy trì sự cháy

Trang 8

(Học sinh quan sát thí nghiệm để rút ra nhận xét)

* Ví dụ bài 52: Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt.

Hoạt động 2: Chứng minh không khí là vật cách nhiệt

Bước 1: Chuẩn bị:

+ Hai chiếc cốc như nhau

+ Hai tờ giấy báo

+ Nước nóng

+ Nhiệt kế

Bước 2: Cách tiến hành:

+ Lấy một tờ giấy báo quấn thật chặt vào cốc thứ nhất

+ Lấy tờ báo còn lại làm nhăn và quấn lỏng vào cốc thứ hai để có nhiềuchỗ chứa không khí giữa các lớp giấy

+ Đổ vào hai cốc nước một lượng nước nóng như nhau

+ Sau một thời gian đo nhiệt độ nước trong hai cốc

- Nhận xét: Nước trong cốc nào nóng hơn

Giáo viên chỉ làm mẫu cách quấn giấy vào cốc sau đó yêu cầu học sinhtiến hành thí nghiệm theo nhóm 4

Bước 3: Quan sát thí nghiệm

Học sinh đo và ghi lại nhiệt độ của từng cốc sau mỗi lần đo

Lần 1: Nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và không buộc chặt cónhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặt

Lần 2: Đo cách lần một 5 phút, nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn

và chặt vẫn có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thườngchặt

Bước 4: Giải thích hiện tượng

Học sinh dựa vào tính chất của không khí để giải thích hiện tượng nướctrong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn nước trong cốc quấn giấybáo thường và quấn chặt như sau:

Nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn vì giữa cáclớp báo quấn lỏng có chứa rất nhiều không khí nên nhiệt độ của nước truyền

Trang 9

qua cốc, lớp giấy báo và truyền ra ngoài môi trường ít hơn, chậm hơn nên nócòn nóng lâu hơn.

Sau đó học sinh tự rút ra kết luận không khí là vật cách nhiệt

* Ưu điểm của biện pháp này là:

- Học sinh có kỹ năng thao tác thành thạo trong việc thực hiện thí nghiệmdưới sự hướng dẫn của giáo viên

- Học sinh được trực quan (mắt thấy, tai nghe hoặc cảm nhận qua các giácquan) các hiện tượng, kết quả thí nghiệm, chứ không bị áp đặt, chấp nhận kếtquả thí nghiệm một cách gián tiếp thông qua sách giáo khoa

Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh.

Dạy học theo nhóm là hình thức giảng dạy học sinh vào môi trường họctập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành các nhóm một cách thíchhợp Trong nhóm, học sinh được khuyến khích thảo luận và hướng dẫn làm việchợp tác với nhau

Hoạt động nhóm là một hoạt động học tập tích cực Cụ thể là:

- Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kỹ năng màcác em được lĩnh hội và rèn luyện

- Cho phép học sinh diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình

- Mở rộng suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy (so sánh, phân tích,tổng hợp, đánh giá )

- Hoạt động nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc,

kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai tròtrách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác Thông qua hoạtđộng nhóm, các em có thể cùng làm với nhau những công việc mà một mìnhkhông thể tự làm được trong một thời gian nhất định

- Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mốiquan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tintưởng lẫn nhau trong học tập

- Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm giúp các em học sinh nhútnhát, khả năng diễn đạt kém có điều kiện rèn luyện, tập dượt, từ đó tự khẳngđịnh mình trong sự hấp dẫn của hoạt động nhóm

- Khi dạy học nhóm, giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sựsáng tạo của học sinh trong học tập

* Muốn hoạt động nhóm đạt kết quả tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Mỗi thành viên trong nhóm đều biết và hiểu công việc của nhóm, củabản thân

- Mỗi thành viên đều tích cực suy nghĩ và tham gia vào các hoạt động củanhóm (như phát biểu ý kiến, tranh luận )

- Mọi thành viên đều lắng nghe ý kiến của nhau, thoải mái khi phân tích

và nói ra những điều mình suy nghĩ

- Toàn nhóm làm việc hợp tác và đồng lòng với quyết định của cả nhóm

- Mọi người biết rõ việc cần làm, giúp đỡ lẫn nhau, đều lo lắng tới côngviệc chung

Trang 10

- Vai trò của nhóm trưởng, thư ký, báo cáo viên được thực hiện luânphiên.

Chính vì thế giáo viên cần có sự chuẩn bị kỹ càng từ việc tự làm thử thínghiệm trước khi lên lớp đến cách tổ chức, giao việc để tránh gây lôn xộn hoặchọc sinh không nắm bắt được yêu cầu kiến thức của tiết học Muốn vậy, giáoviên cần chú ý:

+ Mệnh lệnh đưa ra rõ ràng, ngắn gọn (chia nhóm nhỏ, lớn)

+ Giao việc cụ thể cho từng nhóm

+ Phân công nhiệm vụ cho các em

Trong nhóm thường có các thành phần:

+ Trưởng nhóm: Quản lý chỉ đạo, điều khiển nhóm hoạt động

+ Thư ký nhóm: Ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm sau khi đạtđược sự đồng tình của nhóm

+ Báo cáo viên: Trình bày trước lớp kết quả công việc của nhóm

+ Các thành viên khác trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vàocác hoạt động của nhóm

Mỗi nhóm chỉ nên có khoảng từ 2 đến 6 em

Bước 2: Làm việc theo nhóm

+ Nhóm trưởng điều khiển các bạn quan sát và lần lượt trả lời câu hỏi;Cốc nào đựng nước, cốc nào đựng sữa ? (học sinh dễ dàng nhận ra cốcđựng nước và cốc đựng sữa trên vật thật)

Làm thế nào để bạn biết điều đó ? (đối với câu hỏi này, giáo viên cần đitới các nhóm giúp đỡ để học sinh sử dụng các giác quan của mình phát hiện racốc nào đựng nước và cốc nào đựng sữa) Cụ thể là:

Nhìn vào 2 cốc: Cốc nước thì trong suốt và có thể nhìn thấy rõ cái thìa đểtrong cốc; cốc sữa có màu trắng đục nên không nhìn rõ cái thìa để trong cốc

Nếm lần lượt từng cốc: Cốc nước không có vị, cốc sữa có vị ngọt

Ngửi lần lượt từng cốc: Cốc nước không có mùi, cốc sữa có mùi sữa.Bước 3: Làm việc cả lớp

+ Giáo viên gọi đại diện cả nhóm lên trình bày những gì học sinh đã pháthiện ra ở bước 2

Ngày đăng: 20/03/2019, 09:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w