1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh lớp 8a trường THCS đông cương cách sử dụng yếu tố biểu cảm nhằm tăng sức thuyết phục cho bài văn nghị luận

19 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 175,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài văn nghị luận là “Nêu quan điểm của anh chị về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”, thay vì trình bày chung các quan điểm thì Hiếu đã vận dụng khá nhuần nhuyễn yếu tố tự sự và

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài:

Hiện nay, việc dạy kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh Trung học cơ

sở là một trong những vấn đề trăn trở của không ít các đồng chí giáo viên trực tiếp đứng lớp Hiện tượng học sinh nghị luận khô khan, văn viết thiếu cảm xúc, thiếu hình ảnh vẫn không phải là hiếm trong mỗi kì kiểm tra hay thi chọn học sinh giỏi, thi vượt cấp Việc viết văn đối với học sinh đã thành là một điều khó khăn và cũng gây không ít áp lực, chán nản với ngay cả người chấm

Với mục đích tác động vào lí trí để thuyết phục người đọc (người nghe)

nhận ra sự đúng sai của vấn đề bàn luận, nên văn nghị luận mang tính luận lí, lập luận chặt chẽ Thế nhưng trên thực tế, những bài văn nghị luận có sức thuyết phục cao chính là những bài kết hợp cách hài hòa giữa lí trí với tình cảm Sự mạch lạc, chặt chẽ trong lập luận chứng cứ, chính xác và nhiệt tình của tâm hồn người viết sẽ làm tư tưởng người đọc bừng sáng và trái tim họ rung động Có được điều đó là do người viết biết kết hợp tốt giữa nghị luận với các yếu tố khác

mà đặc biệt là kết hợp với yếu tố biểu cảm Chẳng hạn như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” (Hồ Chí Minh),

“Tiếng nói văn nghệ” của Nguyễn Đình Thi …

Gần đây, có những bài văn nghị luận do chính học sinh viết đã tạo nên sự thu hút mạnh mẽ và quan tâm của xã hội Chẳng hạn, như bài nghị luận về sức mạnh của đồng tiền do học sinh Nguyễn Trung Hiếu – Nhiều độc giả đã không cầm được nước mắt khi đọc bài văn của cậu học trò Nguyễn Trung Hiếu, lớp 11 chuyên Lý, trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam Đề bài văn nghị luận là

“Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”, thay vì

trình bày chung các quan điểm thì Hiếu đã vận dụng khá nhuần nhuyễn yếu tố tự

sự và biểu cảm khi nhìn nhận, phân tích vai trò của đồng tiền, hay bài viết bàn

về thành công của Hà Minh Ngọc – một học sinh lớp 10 Văn một trường chuyên

Hà Nội… Có được sức hút lớn ấy, phải chăng là do yếu tố tình cảm chân thành

mà các em đã biết vận dụng tốt trong bài viết của mình Như vậy yếu tố biểu cảm đóng vai trò không nhỏ trong việc tạo sức thuyết phục và hấp dẫn cho bài văn nghị luận xã hội cũng như nghị luận văn học

Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở cũng đã chú ý dạy học sinh biết vận dụng yếu tố biểu cảm khi viết văn nghị luận Cụ thể là chương trình Ngữ

văn lớp 8, học kì 2 có 2 tiết (Trong đó gồm: Tiết 108: Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận, Tiết 111: Luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận) Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn khối 8 cũng rất

tâm huyết trong việc hướng dẫn học sinh vận dụng yếu tố biểu cảm khi làm bài văn nghị luận

Thạc sĩ Trần Văn Chung - Khoa Ngữ văn (Trường Đại học Sư phạm Huế) cho rằng: “Nếu sử dụng sáng tạo, hợp lí những yếu tố biểu cảm, không chỉ giúp bài văn thêm thuyết phục mà còn tăng thêm tính truyền cảm cho văn nghị luận”

(Trích Báo Giáo dục và Thời đại) Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của

yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận, khi giảng dạy cho học sinh tạo lập kiểu văn bản nghị luận, ngoài việc hướng dẫn cho học sinh đảm bảo những đặc điểm

Trang 2

riêng của văn nghị luận, người giáo viên cần có một phương pháp để học sinh nắm vững được đặc điểm yếu tố biểu cảm để tăng sức thuyết phục khi các em làm bài văn nghị luận Từ thực tế giảng dạy và vận dụng thực hành, bước đầu tôi

đã thu được thành công đáng kể Học sinh các lớp thực nghiệm đã có chuyển biến rõ rệt, có hứng thú viết văn nghị luận, bài viết của các em có sức thuyết phục và có sức hấp dẫn rất riêng, thu hút sự chú ý của người đọc, người chấm

Đề tài mà tôi vận dụng là: Hướng dẫn học sinh lớp 8A trường THCS Đông Cương cách sử dụng yếu tố biểu cảm nhằm tăng sức thuyết phục cho bài văn nghị luận.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về cách đưa các yếu

tố biểu cảm vào bài văn nghị luận và ứng dụng lý thuyết đó trong dạy học văn bản nghị luận ở chương trình Ngữ văn lớp 8

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Cách sử dụng yếu tố biểu cảm nhằm tăng sức thuyết phục cho bài văn nghị luận

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp lí thuyết;

- Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu;

- Phương pháp kiểm tra, khảo sát;

- Phương pháp cố vấn chuyên gia;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại

1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:

- Đề tài được thông qua Tổ bộ môn và được các giáo viên đứng khối 8

môn Ngữ văn của nhà trường trực tiếp áp dụng vào bài dạy

Trang 3

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:

2.1.1 Yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận được thể hiện rõ qua ba yếu tố:

a Các từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm:

Loại từ có khả năng biểu đạt cảm xúc rõ ràng nhất là những từ, ngữ cảm

thán như: Chao ôi, hỡi ôi, than ôi, biết bao, xiết bao, biết chừng nào Loại từ

này được sử dụng để bày tỏ trực tiếp cảm xúc của người viết (người nói) Để tạo

ra tính truyền cảm và thu hút sự chú ý của người nghe (người đọc), chúng ta cũng có thể sử dụng loại từ này để tạo nên các câu cảm thán hay kết hợp với một nội dung thông báo nào đó trong bài văn nghị luận

Bên cạnh đó, các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt cũng có khả năng bộc

lộ thái độ, tình cảm của người nói (người viết) một cách rất mạnh mẽ Vì thế, loại từ này cũng có thể sử dụng và phát huy hiệu quả biểu cảm trong bài văn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội Trong đó, các đại từ ngôi thứ nhất số nhiều

như: Nhân dân ta, đất nước ta, ta, chúng ta, đồng bào thường biểu thị tinh

thần đoàn kết, thống nhất trong suy nghĩ và hành động

Các đại từ ngôi thứ hai, thứ ba số ít hoặc số nhiều như: Bọn, bọn bay, chúng, chúng bay, bọn chúng… thường bày tỏ sự căm thù, khinh bỉ, đối nghịch.

Để công khai bày tỏ quan điểm, thái độ của mình, người làm văn nghị

luận cũng có thể sử dụng các từ mang ý nghĩa khẳng định (sự thật là, tin rằng, chắc chắn rằng, quả quyết rằng ) hay phủ định (không, không chịu, không được ), các từ biểu thị sự quyết tâm, kiên quyết (nhất định, quyết, phải được ).

Những từ này vừa có khả năng biểu đạt cảm xúc, thái độ mạnh mẽ vừa làm cho lời văn trở nên đanh thép hơn

Ngoài ra, trong bài làm văn nghị luận, người viết còn có thể sử dụng thêm những từ, cụm từ đậm phong cách khẩu ngữ vào câu văn nghị luận nhằm tạo được sự chú ý cho người đọc

b Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với các loại câu:

Trong văn nghị luận, người viết phải cố gắng đi tìm những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo Yếu tố biểu cảm được thể hiện ở các kiểu câu:

- Câu cảm thán: bộc lộ cảm xúc trực tiếp

- Câu hỏi tu từ: Câu hỏi tu từ là loại câu có hình thức nghi vấn nhưng nội dung của nó đã bao hàm ý trả lời Xét về hiệu quả biểu cảm, câu hỏi tu từ dùng

để khẳng định hay phủ định một vấn đề nào đó được đề cập đến trong câu và tăng cường tính diễn cảm của lời nói

- Các câu văn dài, nhiều thành phần có kết cấu cân xứng nhằm ra nhịp điệu và sức lan tỏa mạnh hơn

Trong một số trường hợp, người viết có thể dùng câu đơn không gắn với các thành phần phụ hay tách các vế câu ra thành câu độc lập nhằm mục đích nhấn mạnh một nội dung nào đó

Ngoài ra, người viết văn nghị luận cũng cần đặt những câu có tính chất hội thoại, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhằm thu hút sự chú ý và hứng thú của người đọc, từ đó góp phần tăng thêm tính biểu cảm cho lời nói Nhằm tạo ra tính biểu cảm cho bài văn nghị luận, việc sử dụng câu không theo một mô

Trang 4

hình hạn định nào mà phụ thuộc vào năng lực sử dụng ngôn ngữ của người viết Đôi khi, không cần quá cầu kì trong câu văn nhưng người viết vẫn có thể tạo ra một bài văn nghị luận chặt chẽ, sâu sắc và truyền cảm

c Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với một số biện pháp tu từ:

Biểu cảm và tạo hình là hai chức năng chính của các biện pháp tu từ Bất

cứ biện pháp tu từ nào, ngoài tác dụng gợi hình, còn có tác dụng gợi cảm Trong mỗi loại văn bản, biện pháp tu từ được sử dụng với những mục đích khác nhau Nếu như trong ngôn ngữ nghệ thuật, việc sử dụng biện pháp tu từ chỉ cốt yếu tạo

ra tính hình tượng thì trong văn bản nghị luận, nó lại được sử dụng nhằm tăng thêm sức mạnh cho sự đánh giá, bình luận và tăng thêm tính truyền cảm cho lời văn…

Vì vai trò quan trọng đó, không một bài văn nghị luận nào, nhất là các văn bản chính luận lại không sử dụng các biện pháp tu từ Một số biện pháp tu từ thường được sử dụng trong bài văn nghị luận nhằm tạo ra hiệu quả biểu cảm như sau:

- So sánh trong văn nghị luận chủ yếu làm cho vấn đề nghị luận hiện lên

cụ thể, vừa gần gũi vừa ấn tượng, dễ đi vào lòng người đọc hơn

- Điệp ngữ là sự lặp đi lặp lại có ý thức những từ, ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe Nhờ điệp ngữ, câu văn mới tăng thêm tính cân đối, nhịp nhàng, hài hòa, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa, tình cảm nào đó, làm nổi bật những từ quan trọng, khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía, có sức thuyết phục mạnh Với khả năng đó, điệp ngữ được sử dụng nhằm tạo ra được tính truyền cảm cho văn bản nghị luận

- Ngoài ra, người viết cũng có thể sử dụng thêm nhiều phương tiện và biện pháp tu từ khác nhằm tăng thêm tính biểu cảm và thuyết phục cho văn bản nghị luận như phép đối, phép sóng đôi, liệt kê

2.1.2 Vai trò của các yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận:

Các yếu tố biểu cảm có vai trò khá quan trọng trong bài văn nghị luận Tuy nhiên, dù sao chúng cũng chỉ là những yếu tố phụ, được sử dụng nhằm tăng sức thuyết phục, tác động của vấn đề đối với bạn đọc Bởi vậy, tuyệt đối không được lạm dụng các yếu tố này

2.1.3 Sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt và biểu cảm:

Sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nói chung và biểu cảm nói riêng là một việc làm không hề dễ dàng, ngay cả đối với những cây bút chuyên nghiệp Nó không chỉ đòi hỏi kiến thức về các phương thức này mà còn phải có kinh nghiệm giao tiếp và vốn sống, vốn ngôn ngữ nhất định Vì thế, những kiến thức về sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm khó có thể chuyển hóa thành kĩ năng nếu các em vẫn còn học tập một cách đối phó, càng không thể sử dụng được nếu các em tỏ ra hời hợt, vô cảm với đề Văn

2.2 Thực trạng của vấn đề:

Qua khảo sát thực tế (dự giờ thăm lớp) và thực tế giảng dạy của bản thân nhiều năm ở trường THCS Đông Cương, tôi thấy:

Trang 5

2.2.1 Về phía giáo viên:

- Giáo viên không thích dạy các tiết tập làm văn bằng các tiết văn bản và các tiết tiếng Việt nên ít thày cô chọn các tiết hội giảng, tiết chuyên đề ngoại khóa về tập làm văn Thậm chí ngay trong các kì thi giáo viên giỏi các cấp, các thầy cô cũng không muốn dạy tiết tập làm văn, đặc biệt là văn nghị luận

- Giáo viên đã có ý thức ra bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận nói chung, cách sử dụng yếu tố biểu cảm nhằm tăng sức thuyết phục cho bài văn nghị luận nói riêng cho học sinh, tuy nhiên hệ thống bài tập chưa nhiều, học sinh chưa thuần thục những kĩ năng nghị luận cơ bản và một thực tế nữa là thầy cô giáo chỉ chọn cách dạy học sinh viết văn nghị luận sao cho rõ hệ thống luận điểm, luận cứ Bài viết cứ bám sát và làm sáng tỏ được vấn đề cần nghị luận là đạt yêu cầu mà chưa thật sự chú trọng vào khâu hướng dẫn học sinh biết kết hợp các yêu tố khác như biểu cảm, miêu tả, tự sự Phương pháp này còn nặng về hình thức, học sinh viết văn khô khan, nặng về lí thuyết, cứng nhắc, thiếu đi sự mềm mại, nhiệt tình của cảm xúc, đôi khi suy nghĩ phụ thuộc vào tài liệu làm mất đi tính sáng tạo trong khi tiếp cận vấn đề nghị luận

- Việc hướng dẫn học sinh tạo lập các đoạn văn (bài văn) nghị luận có sự kết hợp với các yếu tố biểu cảm, giáo viên vẫn chưa dành nhiều thời gian, tâm sức Khi giảng dạy các tiết 108, 111, giáo viên thường mới chỉ mang tính giới

thiệu là chủ yếu Giờ học ở các tiết này, vì vậy thiếu chiều sâu, ít có liên hệ thực

tế và so sánh

2.2.2 Về phía học sinh:

- Phần lớn học sinh viết văn nghị luận chủ yếu trình bày những nhận xét, đánh giá về vấn đề nghị luận, chú trọng đến việc xây dựng luận điểm song chưa

có ý thức rõ việc đưa yếu tố biểu cảm vào bài viết Điều đó dẫn đến việc văn nghị luận viết rất khô khan, dập khuôn, thiếu tính chủ quan, sức thuyết phục vì thế không cao

- Hoặc có học sinh cũng biết vận dụng nhưng lại lạm dụng yếu tố biểu cảm, tức là sử dụng yếu tố biểu cảm quá nhiều khiến phá vỡ mạch nghị luận Bài văn nghị luận vì thế mà trở nên sáo rỗng, giọng điệu hô hào thậm chí giả tạo, gượng ép nữa

- Chưa phân biệt rõ yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận Thậm chí đối với học sinh yếu kém, các em còn không hiểu yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận là gì, có vai trò như thế nào dẫn việc văn viết sơ sài, thiếu cảm xúc

Nguyên nhân cơ bản và trực tiếp có thể thấy ngay là:

- Về phía giáo viên: Ít chú trọng đến vai trò của yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận nên bài giảng chưa được đầu tư đúng mức

- Về phía học sinh: Do các em nắm mơ hồ phần lí thuyết nên xem nhẹ việc vận dụng thực hành đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận Chưa chịu phát huy tính sáng tạo, hứng thú trong khi làm bài văn nghị luận

Như trên đã phân tích, thì hệ quả của nó là hầu hết các bài viết của học sinh viết dập khuôn, chưa thể hiện được cách nhìn nhận riêng, cảm xúc riêng của người viết Dẫn đến việc giáo viên đếm ý khi chấm văn (Bài viết có luận điểm, có luận cứ là có điểm), rất ngại đọc chi tiết, tỉ mỉ Điều này rất khó phát

Trang 6

hiện những sáng tạo của học sinh, đặc biệt khó phát hiện cảm xúc riêng của các

em trước vấn đề nghị luận

Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn giải pháp: Hướng dẫn học sinh lớp 8A trường THCS Đông Cương sử dụng yếu tố biểu cảm nhằm tăng sức thuyết phục khi các em làm bài văn nghị luận.

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:

2.3.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm riêng của bài văn nghị luận:

Bài văn nghị luận cần có hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, những luận cứ đúng đắn, sinh động và lập luận thuyết phục Một bài văn nghị luận hay thường có hệ thống luận điểm rõ ràng được kết dính một cách tự nhiên, liền mạch, ý nọ gọi ý kia Đòi hỏi hệ thống luận điểm mạch lạc, màu sắc cá nhân của các nhận xét, đánh giá, mặt khác, bài văn nghị luận cũng yêu cầu tính cụ thể, thuyết phục của những luận cứ Nếu cứ sa đà vào dẫn chứng, phân tích cụ thể

mà không nâng lên được tầm khái quát, không đúc kết được thành các nhận định, bài văn sẽ nhạt tính tư tưởng, khó gây ấn tượng Mặt khác, nếu cứ nêu nhận định, ca ngợi hay phê phán một cách chung chung mà không qua các căn

cứ cụ thể, dẫn chứng sinh động thì bài văn cũng yếu sức thuyết phục, dễ trở nên sáo rỗng Kết hợp linh hoạt, tự nhiên giữa phân tích, chứng minh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát vừa là phương pháp tư duy, vừa là kĩ năng làm bài mà người viết văn nghị luận cần rèn luyện

Như vậy, một bài văn nghị luận hay vừa đòi hỏi sự thâm nhập, thẩm bình sâu tác phẩm vừa yêu cầu kĩ năng tổng hợp, khái quát thành nhận định, đánh giá riêng Lời văn của một bài nghị luận cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết

* Biện pháp thực hiện: Tôi sử dụng dạng bài tập nhận biết đặc điểm của

văn nghị luận để củng cố và ôn tập cho học sinh kiến thức về văn nghị luận

Ví dụ: Khoanh tròn vào chữ cái đầu đoạn văn biểu đạt theo phương thức

nghị luận:

a Có bao lí do đế tôi yêu mùa thu - một mùa đẹp trong vòng tuần hoàn của thời gian trôi chảy: Xuân - Hạ - Thu - Đông Yêu lắm các vòm trời cao trong xanh vời vợi, vắt ngang vài dải mây trắng lơ lửng trôi! Yêu lắm nắng mùa thu sao dịu dàng đến thế! Nắng thu mỏng mảnh như tơ trời vàng óng phù khắp mọi nơi Vạn vật được đắm mình tha hồ vùng vẫy trong cái nắng dịu, tươi sáng, trong trẻo như đôi mắt trong veo của bé thơ Nắng thu không chói chang như nắng mùa hạ, không hanh hao, vàng vọt, yếu ớt như nắng mùa đông Có ai bảo: Sao giống nắng xuân đến thế! Nhưng không phải ! Mùa xuân nắng mong manh không thành màu, đâu trong sáng như nắng mùa thu Không những thế, nắng thu còn đánh thức cả lương tâm cây trái, báo hiệu một mùa quả chín đỏ mọng hay vàng ươm đang trĩu trên cành

(Bài làm của học sinh)

b Biết nói gì với mùa thu khi bầu trời trong veo và xanh thẳm, bao la Những dải mây mỏng như những chiếc khăn voan vắt ngang bầu trời Gió thu mát rượi, nhè nhẹ thổi, mang theo hương lúa nếp, hương cốm mới từ các cánh đồng quê Sau một đêm mưa, trời thu như dịu lại, nắng trở nên vàng hoe Trăng

Trang 7

thu sáng trong vằng vặc Hoa cúc thêm vàng, cây hồng thêm ửng đỏ, quả bưởi vàng óng căng tròn Lá vàng bay vào khung cửa sổ, giàn trầu lại xanh trước ngõ, vài quả cam cười chúm chím trên cây Má các cô gái quê em lại thêm ứng hồng

vì mùa thu vội đến

(Bài làm của học sinh)

c Câu chuyện kết thúc Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt” Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón

“ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm” Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn Có thể nói, An-đéc-xen đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ;

đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người

(Bài làm của học sinh)

Ở dạng bài tập này, học sinh sẽ dựa vào các tiêu chí sau để xác định đoạn văn trình bày theo phương thức nghị luận (Đáp án: đoạn c) Từ đó, giúp các em củng cố kiến thức về đặc điểm của đoạn văn nghị luận Cụ thể:

- Đoạn văn nghị luận là trình bày những nhận xét đánh giá của người viết

về bài văn bài thơ hoặc về một vấn đề xã hội

- Thường có câu chủ đề (Câu mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường có hai thành phần chính, nêu luận điểm Câu chủ đề thường đặt ở đầu đoạn văn hoặc cuối đoạn văn)

- Sau hoặc trước câu chủ đề là các câu chứa luận cứ để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận Nắm vững đặc điểm này, học sinh sẽ dễ dàng vận dụng các yếu tố khác khi nghị luận mà không sa vào lạm dụng hay phá vỡ mạch lập luận

2.3.2 Giúp học sinh tìm hiểu để phân biệt và nhận diện yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

Chúng ta sẽ sử dụng hệ thống bài tập theo mức độ khác nhau từ dễ đến khó để học sinh từ chỗ hiểu khái niệm, đặc điểm, bản chất của các yếu tố biểu cảm để nhận biết, phân biệt và hiểu được vai trò, tác dụng của yếu tố đó rồi đi đến vận dụng sáng tạo

Bài tập 1: (dạng thông hiểu) Chỉ ra yếu tố biểu cảm và nêu rõ vai trò của

nó trong các đoạn văn nghị luận sau:

a Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống Những dòng chữ đầy chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con người Người ta thường nói nhà văn, nhà thơ cần có ba yếu tố chủ quan : tài, trí và tâm Có cây bút chỉ mạnh về tài, về trí Đọc Nguyên Hồng, thấy tài và tâm, nhất là tâm, nổi lên hàng đầu Mà « chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài », ở những nhà văn chân chính xưa nay, tâm bao giờ cũng là cái gốc Tài và trí chỉ là cành, là ngọn Nguyên Hồng viết văn như là đạt luôn cái « tâm » nóng hổi của mình lên trang sách.Nếu cần nói thật khái quát một cái gì chung nhất cho mọi

Trang 8

chủ đề tác phẩm của Nguyên Hồng, thì đó là lòng nhân đạo, một chủ nghĩa nhân

đạo bao giờ cũng thống thiết, mãnh liệt

(Nguyễn Đăng Mạnh)

b Ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn

thuyền, hơi thơ băng băng, phơi phới Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần

lắng lại theo niềm vui no ấm và bình yên của dân làng Chính từ đây, xuất hiện

những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của Quê hương:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

Chỉ ai là người con của vạn chài mới viết được những câu thơ như thế Tế

Hanh như khắc tạc bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lộng gió với hình

khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn: bức tượng đài nồng thở vị xa xăm

-vị muối mặn mòi của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ thường chinh

phục Chất muối mặn mòi ấy ngấm vào thân hình người dân chài quê hương,

thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã ngấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm

hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kì diệu ?

(SGK Ngữ văn 9, tập 2)

c Cảnh đất trời vào hè trong tâm tưởng người tù cách mạng được thể hiện

qua sáu dòng đầu của bài thơ Viết Khi con tu hú gọi bầy là Tố Hữu đã dùng

phép hoán dụ, lấy một dấu hiệu – tiếng tu hú, để nói mùa hè đã đến rồi Cho nên,

tiếng tu hú cũng như gọi mùa hè dậy lên trong lòng người tù trong bốn bức

tường bưng bít, với bao hình ảnh, màu sắc Đó là màu « vàng » của bắp, màu

« đào » (hồng) của nắng, màu « xanh » của trời, thật tươi sáng biết chừng nào !

Đó là âm thanh từ những vườn cây phát ra những bản nhạc của dàn hợp xướng

ve sầu Mùa hè, đó còn là cảm nhận hương vị quả chín : hương thơm của « lúa

thơm đang chín », vị ngọt của trái cây Biết bao dấu hiệu mùa hè thân quen rực

lên trong lòng, dẫn nhà thơ đến với hình ảnh đẹp nhất của những ngày hè : một

bầu trời « càng rộng càng cao » bao la, bỗng xuất hiện « đôi con diều sáo lộn

nhào tầng không » Tuy đang bị giam cầm trong lao tù, vậy mà bầu trời trong

suy nghĩ của tác giả vẫn mênh mông Và cánh diều Ôi cánh diều tự do bay bổng

không gì cản trở được nó ! Đó cũng là sự tự do trong tâm hồn Tố Hữu, dù bị

giam cầm thể xác nhưng tâm hồn ông vẫn bay bổng, giống như nhà thơ Hồ Chí

Minh trong bài Ngắm trăng vậy.

(Bài làm của học sinh)

* Biện pháp thực hiện:

Đối với dạng bài tập này, giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm, sau đó

gọi đại diện trình bày kết quả

Đoạn văn a (Bài tập 1):

- Yếu tố biểu cảm trong đoạn:

+ Sử dụng các từ ngữ giàu tính biểu cảm: cựa quậy, phập phồng, bám riết

lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con người, cái « tâm » nóng hổi,

Trang 9

- Tác dụng: Yếu tố biểu cảm nhằm khẳng định văn Nguyên Hồng lấp

lánh sự sống Đọc văn Nguyên Hồng, sự sống luôn dâng trào, thống thiết, mãnh liệt

Đoạn văn b (Bài tập 1):

- Yếu tố biểu cảm trong đoạn:

+ Sử dụng câu nghi vấn: Chất muối mặn mòi ấy ngấm vào thân hình

người dân chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã ngấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kì diệu ?

- Tác dụng: Yếu tố biểu cảm nhằm khẳng định vẻ đẹp mặn mòi, riêng

biệt của những người dân chài nơi quê hương vừa ca ngợi tâm hồn tinh tế và dạt dào yêu quê hương của nhà thơ Tế Hanh

Đoạn văn c (Bài tập 1):

- Yếu tố biểu cảm trong đoạn:

+ Sử dụng từ ngữ biểu cảm: bao, biết bao thật tươi sáng biết chừng nào + Sử dụng các câu cảm thán: Ôi cánh diều tự do bay bổng không gì cản

trở được nó !

- Tác dụng: Yếu tố biểu cảm giúp người đọc cảm nhận bức tranh mùa hè

đầy sức sống được đánh thức dậy trong tâm trí nhà thơ khi nghe tiếng tu hú kêu

* Bài tập 2: (Dạng thông hiểu)

Điền vào chỗ trống những từ ngữ cần thiết để đoạn văn nghị luận có sức biểu cảm thuyết phục hơn.

Đoạn văn:

“Những ngày thơ ấu” là một tập hồi kí …về tuổi thơ… của Nguyên Hồng trong chế độ cũ Ở đoạn trích “Trong lòng mẹ”, tác giả đã miêu tả một cách… những rung động … của một tâm hồn trẻ dại Đó là nỗi nhớ thương, yêu quý sâu sắc của bé Hồng với người mẹ của mình”

* Biện pháp thực hiện: Tôi đưa ra nhiều đoạn văn tương tự trên, rồi tổ

chức cho học sinh trao đổi thảo luận và cùng nhau thống nhất điền từ ngữ biểu cảm và câu cảm thán vào chỗ trống hoặc thêm câu văn nhằm khẳng định hoặc phủ định cho phù hợp để đoạn văn nghị luận trở nên giàu cảm xúc, tăng sức thuyết phục hơn

* Đánh giá chung: Như vậy yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận sẽ giúp

cho bài văn có sức thuyết phục, hấp dẫn và gợi cảm xúc hơn Trong đó, người viết thật sự có cảm xúc và biết diễn đạt cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn có sức truyền cảm

2.3.3 Hướng dẫn cho học sinh cách sử dụng yếu tố biểu cảm khi làm bài văn nghị luận:

Khi viết một bài văn, nhấn mạnh cho học sinh hiểu được: hơn nhau không chỉ ở chỗ viết cái gì mà quan trọng còn là viết như thế nào, bằng thái độ, tình cảm ra sao Cần cân nhắc từ cách dùng từ đến cách ngắt câu Ngôn từ phải làm sao diễn tả sát, trúng bản chất của đối tượng, điều mình muốn nói Giọng văn làm sao phải hợp với vấn đề, với nội dung, nhiều khi như có hình có khối, giàu nhịp điệu Viết văn cũng như giao tiếp trong đời sống, không nên hài hước khi

Trang 10

cần trữ tình cảm thương và ngược lại Tôi thường lưu ý các em học sinh một điều: không nên lầm rung cảm nơi lời văn qua các câu cảm thán, qua những lời

“hô to gọi giật” kiểu “chao ôi…”, “đẹp làm sao…”, “hay biết bao nhiêu…” Nếu lạm dụng một cách ngây thơ, nếu “ngụy trang” cho tâm hồn nghèo nàn của mình theo kiểu ấy, bài văn sẽ trở nên sáo rỗng, lắm lúc buồn cười Rung cảm phải thật

sự xuất phát tự đáy lòng, từ sự “vỡ lẽ” của chính mình Khi ấy, nó tự toát lên trong ý tứ, trong giọng điệu bài văn mà người đọc không khó nhận ra

Ngoài bài tập trong SGK, để rèn kĩ năng này, tôi hướng dẫn cho học sinh các dạng bài tập vận dụng ở hai mức độ: vận dụng thấp và vận dụng cao như sau:

Dạng 1 (vận dụng thấp):

Ví dụ 1:

Hãy thêm những yếu tố biểu cảm để đoạn văn sau đây trở nên có sức thuyết phục hơn:

"Ngắm trăng là đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam Từ ca dao đến

"Truyện Kiều", trăng vẫn xuất hiện như người tri ân Nhưng con người ta thường chỉ ngắm trăng lúc nhàn nhã Vậy mà, trong những ngày bị giam cầm, Bác Hồ vẫn ngắm trăng và làm thơ"

* Biện pháp thực hiện:

- Với học sinh đại trà, ta dùng thảo luận nhóm để đạt được kết quả cao trên bình diện chung là cùng tham gia ý kiến Nhưng đối với học sinh bồi dưỡng khá giỏi ta nên cho học sinh làm bài độc lập để phân loại Bởi vì dạng bài tập này không những nó giúp ta đánh giá được việc nắm các kiến thức về các yếu tố kết hợp trong phương thức nghị luận mà còn biết được khả năng cảm thụ văn

học của các em.

- Với dạng bài tập này, tôi hướng dẫn cho học sinh trình bày trước lớp, tập

thể lớp nhận xét, bổ sung, sửa chữa (nếu có sai sót) để thành đoạn văn hoàn chỉnh Cỏ thể đọc các đoạn văn để học sinh tham khảo, đối chiếu với bài viết của mình, từ đó giúp các em có kĩ năng vận dụng tốt hơn

Ví dụ 2: Với câu chủ đề: “Lão Hạc là người cha rất mực yêu thương

con”, em hãy viết đoạn văn nghị luận để triển khai câu chủ đề trên (Có sử

dụng yếu tố biểu cảm để lập luận)

* Biện pháp thực hiện: Với dạng bài tập này, ta cần chú ý luyện cho học

sinh kĩ năng kiên trì, không nóng vội Được luyện tập viết nhiều đoạn văn nghị luận, các em sẽ vừa sử dụng thành thạo kĩ năng xây dựng đoạn văn và vừa luôn

ý thức xây dựng đoạn văn kết hợp sử dụng yếu tố biểu cảm mà không lấn át mạch lập luận

Trên cơ sở học sinh đã nắm được đặc điểm, bản chất của các yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận, giáo viên hướng dẫn các em đưa các yếu tố này vào bài viết sao cho thật tự nhiên, sinh động Song luôn luôn cần lưu ý, yếu tố này chỉ đóng vai trò bổ trợ cho phương thức nghị luận chứ không được lấn át khiến bài văn trở thành một kiểu bài - phương thức biểu đạt khác Muốn vậy, học sinh cần nắm vững các bước cơ bản sau:

Ngày đăng: 20/03/2019, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w