PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓASÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN TRONG GIỜ TẬP LÀM VĂN Người thực hiện : Hoàng Phương Chức vụ : Giáo viên Đơn
Trang 1PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN TRONG GIỜ TẬP LÀM VĂN
Người thực hiện : Hoàng Phương Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Ba Đình SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2018
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN TRONG GIỜ TẬP LÀM VĂN
Người thực hiện : Hoàng Phương Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Ba Đình SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2018
Trang 2Mục lục
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 1
2 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1.1 Nhiệm vụ mục tiêu của môn Tiếng Việt 2 2
2.1.2 Mục tiêu phân môn Tập làm văn lớp 2 2
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 2.2.1.Về phía giáo viên 3
2.2.2 Về phía học sinh 3
2.3 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 2.3.1.Hướng dẫn học sinh quan sát 4
2.3.2 Cung cấp vốn từ cho học sinh 5
2.3.3 Rèn học sinh kĩ năng diễn đạt câu văn 6
2.3.4 Bước đầu giúp học sinh nắm được bố cục của một đoạn văn 7
2.3.5 Rèn kĩ năng nói cho học sinh 7
2.3.6 Xây dựng cho học sinh một hệ thống câu hỏi gợi ý phù hợp với từng đoạn văn: 7
2.3.7 Hướng dẫn học sinh hình thành đoạn văn trên cơ sở các câu hỏi gợi ý 10
2.3.8 Quan tâm, chú trọng đến việc chấm, chữa bài cho học sinh: 11
2.4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 11
3 KẾT LUẬN 12
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt là môn học giữ vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết Môn học này giúp học sinh không chỉ hoàn thiện hơn trong giao tiếp mà còn phát triển được tư duy Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ
sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới
Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ Dạy học Tiếng Việt giúp các
em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt hội đủ 4 kỹ năng trên Học sinh viết một đoạn văn, làm một bài văn theo một chủ đề nào đó là bước nâng cao mà học sinh đã học ở các phần trước về câu, về vốn từ, về cách xây dựng văn bản.Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em được làm quen với đoạn văn và được rèn kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu Đối với HS lớp 2 thì đây là một phân môn khó Bởi để làm được một bài Tập làm văn, học sinh cần phải huy động các kiến thức về tập đọc, luyện từ và câu, các hiểu biết về môi trường xung quanh cuộc sống Nói chung môn tập làm văn đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ các phân môn khác của môn Tiếng Việt Bởi vậy, Tập làm văn mang tính thực hành toàn diện, tổng hợp Ngoài ra môn Tập làm văn còn mang tính sáng tạo vì một bài tập làm văn thể hiện sự suy nghĩ, tư duy của cá nhân, là tác phẩm không trùng lặp của mỗi học sinh Mà ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp , nghèo vốn từ ngữ Điều này thể hiện trong quá trình làm bài, các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai,cách chấm câu còn hạn chế có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý.[ 1]
Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em có thể viết tốt một đoạn văn ngắn? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng học tập cho HS của lớp
mình Đây là lý do tôi chọn và viết sáng kiến kinh nghiệm với nội dung“ “Một
số biện pháp giúp học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong giờ Tập làm văn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Hình thành và rèn luyện các kĩ năng viết được đoạn văn ngắn Biết vận dụng kiến thức vào thực hành trong học tập, đồng thời biết vận dụng vào trong giao tiếp hàng ngày
- Góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tiếng Việt lớp 2 mở đường cho trẻ đi vào thế giới kì diệu của ngôn ngữ
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giúp học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong giờ Tập làm văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phưong pháp thống kê, xử lí số liệu
Trang 42 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Nhiệm vụ, mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 2:
Môn Tiếng Việt là một môn học góp phần quan trọng trong việc giúp các
em học tốt các các môn học khác Dạy Tiếng việt ở tiều học là dạy phát triển ngôn ngữ cho người bản ngữ vì bản thân các em đã biết tiếng mẹ đẻ Chúng ta cần dạy cho các em biết cách sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp Trong môn Tiếng Việt ở tiểu học bao gồm nhiều phân môn như : Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn, tập viết và Luyện từ và câu Mỗi phân môn đều có những vai trò quan trọng riêng Tuy nhiên phân môn Tập làm văn đóng vai trò quan trọng trong việcgiúp học sinh có năng lực sử dụng Tiếng Việt để học tập, giao tiếp Trau dồi những ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy Là chìa khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội của con người Dạy phân môn Tập làm văn được tốt tức là người giáo viên đã thâm nhập cả chuỗi kiến thức từ các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu Chính
vì thế mà phân môn tập làm văn có tính chất tổng hợp, là kết quả lĩnh hội các kiến thức của môn Tiếng Việt Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản(nói và viết) Nhờ vậy Tiếng Việt không chỉ là một
hệ thống cấu trúc được xem xét trong từng phần, từng mặt qua từng phân môn
mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói một cách khác,Tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt Học sinh sử dụng tiếng mẹ đẻ trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học[2]
2.1.2 Mục tiêu của phân môn Tập làm văn lớp 2:
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết phục vụ cho việc học tập và giao tiếp Cụ thể là:
- Học sinh nắm được các nghi thức nói tối thiểu như chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn, biết sử dụng chúng trong một số tình huống giao tiếp trong gia đình, trong trường và nơi công cộng.[3]
- Nắm được một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày như: Khai bản tự thuật ngắn, viết những bức thư ngắn để nhắn tin, chia vui, chúc mừng, chia buồn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sách, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu
- Kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người về vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi.[3]
- Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh tốt đẹp qua nội dung bài học.[3]
Dạy Tập làm văn cho học sinh là dạy các em biết thực hành vận dụng một cách sáng tạo các kiến thức từ nhiều phân môn học khác nhau của môn Tiếng Việt Bài Tập làm văn chính là sản phẩm tổng hợp có sáng tạo của học sinh và việc dạy Tập làm văn cho học sinh vì thế phải đạt được mục tiêu giúp học sinh
có năng lực vận dụng sáng tạo mới là dạy có chất lượng
Trang 52.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Trường Tiểu học Ba Đình nơi tôi công tác là một ngôi trường có đội ngũ cán
bộ giáo viên có tay nghề chuyên môn cao, là một trong những trường nằm trong tốp dẫn đầu của Thành Phố về chất lượng giáo dục Tuy nhiên qua thực tế công tác và qua tham khảo ý kiến của các bạn đồng nghiệp đặc biệt là ở khối 2 tôi nhận thấy số đông các đồng chí giáo viên đều thấy trăn trở, đôi khi còn lúng túng khi dạy học sinh viết đoạn văn ngắn Xuất phát từ đó tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và thấy rằng:
2.2.1 Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn viết đoạn văn cho học sinh cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học sinh Cách dạy của giáo viên có phần khuôn mẫu Sự dập khuôn máy móc như vậy dẫn đến không phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Khi dạy về cách hướng dẫn học sinh làm bài tập "Viết đoạn văn ngắn" đa
số giáo viên đều dạy theo các bước:
Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu của bài.
Bước 2: Giáo viên nêu yêu cầu của bài
Bước 3: Học sinh viết vào vở
Bước 4: Chấm chữa lỗi
+ Gọi 1 hoặc 2 học sinh đọc bài viết
+ Giáo viên chấm bài, chữa một số lỗi sai về câu từ
Với cách hướng dẫn như trên học sinh khó có thể nhận ra nội dung đoạn viết cần có những gì? Liên kết câu như thế nào? Cách diễn đạt làm sao cho thoát ý Đến bước 4 chấm lỗi như vậy chưa có kết quả thiết thực đối với học sinh vì đối tượng học sinh lớp 2 các em dễ nhớ nhưng nhanh quên Do đó , cái sai của học sinh vẫn được lặp lại trong bài sau
- Giáo viên dạy phần lý thuyết chưa tốt Nhiều giáo viên chưa chuẩn bị kĩ nội dung bài trước khi lên lớp, chưa thực sự đổi mới phương pháp, chưa tự giác tự nghiên cứu trau dồi thêm chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ công tác giảng dạy
2.2.2 Về phía học sinh:
- Các em học sinh lớp 2 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất
sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết văn câu còn cụt lủn Hoặc câu có thể đủ
ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng Việc trình bày, diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược, đặc biệt là khả năng miêu tả
- Học sinh có hứng thú trong giờ Tập làm văn song chủ yếu tập trung vào các bài tập làm miệng với các yêu cầu nói lời cảm ơn, xin lỗi Học sinh thích thú nói về các con vật , người, quang cảnh và những gì diễn ra xung quanh Song vốn từ các em còn chưa nhiều, kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế đôi khi các em chưa nhận ra được sự khác biệt giữ các ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ viết
- Nguyên nhân là do học sinh chưa có kỹ năng quan sát Do tâm lý lứa tuổi, do chưa được rèn luyện thường xuyên nên các em chưa có cách quan sát cụ thể chi tiết Các em chỉ quan sát thoáng qua, hời hợt, thậm chí có em còn không
Trang 6để ý đến đối tượng cần quan sát Thêm vào đó khả năng tưởng tượng còn hạn chế, thiếu vốn sống thực tế Do vậy khi viết đoạn văn còn có những câu văn lạc lõng không sát thực với yêu cầu của đề bài Phần đông các em chưa biết dùng
từ, đặt câu,
- Các em chưa có kỹ năng sắp xếp câu thành đoạn Từ chỗ nói chưa thành câu, nói câu cộc lốc nên khi viết các em bị chi phối nhiều Hơn nữa các em còn không biết viết câu nào trước, câu nào sau, viết chưa thành câu đã chấm hết câu, viết xuống dòng tùy tiện do vậy nhiều bài văn của các em viết không thành đoạn theo nội dung yêu cầu
Để có cơ sở xây dựng các biện pháp phù hợp, giúp học sinh lớp 2 viết
đoạn văn ngắn trong giờ Tập làm văn một cách hiệu quả tôi đã tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra ở bài tuần 10 với đề bài : Em hãy viết đoạn văn ngắn kể
về một người thân của em Và thu được kết quả như sau:
Từ thực trạng trên, cùng với việc tôi cũng đã có rất nhiều trăn trở là làm thế nào để giúp học sinh có thể viết tốt được đoạn văn ngắn Vì vậy tôi đã giành thời gian tìm hiểu qua sách, thông tin, qua đồng nghiệp nhằm mục đích đưa ra các biện pháp để giúp học sinh viết tốt đoạn văn ngắn Và trong năm học này tôi đã áp dụng những điều mà mình đă tích lũy được cho học sinh lớp tôi và cũng đã mang lại những dấu hiệu khả quan Cụ thể với những giải pháp như sau
2.3 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
2.3.1 Hướng dẫn học sinh quan sát:
Để giúp học sinh có thể viết được một đoạn văn hay và sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạo cho học sinh thâm nhập, quan sát, phân tích từ thực tế Vì vậy tôi thường yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượng xung quanh để ghi nhận lại
và sử dụng khi thật cần thiết Vì qua thực tế đôi khi bài tập yêu cầu tả về một sự vật nào đó nhưng sự vật đó học sinh chưa bao giờ được nhìn thấy trong thực tế
Ví dụ như bài yêu cầu tả con chim, có em bảo là con chưa bao giờ nhìn thấy con chim Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên ở thành phố nên các
em không được nhìn thấy con chim Bởi thế tôi đã sưu tầm những phim ảnh để
có thể trình chiếu cho các em, cho các em quan sát , … và gợi ý cho các em về tìm hiểu thêm con chim mình sẽ tả qua sách hay qua mạng internét
Khi yêu cầu học sinh quan sát thì tôi luôn đưa ra các gợi ý để học sinh
có thể quan sát theo gợi ý, hướng dẫn của giáo viên, yêu cầu các em tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tượng, để tránh hiện tượng kiểu kể theo liệt kê
Ví dụ: - Khi dạy học sinh viết 2 đến 3 câu về loài chim mà em thích Từ hôm trước tôi yêu cầu mỗi học sinh quan sát kỹ con chim trong thực tế mà mình yêu thích Cụ thể là : Các bộ phân đầu, mình, chân, hoạt động, tiếng hót… của chim để tiết học hôm sau đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, tôi cũng hướng dẫn HS cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một cách có cảm xúc về sự vật Sau khi đã quan sát
Trang 7kĩ, học sinh sẽ dễ dàng nói những điều mình quan sát được, những điều mình biết về đối tượng quan sát Từ đó, học sinh sẽ viết được các đoạn văn hợp lý, hay về đối tượng quan sát
2.3.2 Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:
Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ phong phú Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài tập làm văn còn nhiều hạn chế Hầu hết học sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa chính xác vì vốn từ của các em còn nghèo nàn
Vốn từ để cung cấp cho học sinh tôi khai thác trong các bài tập đọc Bởi
vì mỗi chủ đề của môn Tiếng Việt thì môn tập đọc đều có những bài văn, bài thơ nói về chủ để đó Trong các tiết dạy, tôi đã chú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn Từ đó học sinh có thể rút ra những câu văn hay, từ ngữ đẹp và ghi nhớ sau này vận dụng Và vốn từ còn có cả trong phân môn luyện từ và câu
Ví dụ : Qua bài Cây đa quê hương học sinh rút ra được đoạn văn tả về cây đa
trong bài “Thân cây to như cột đình Rễ cây nổi lên mặt đất thành những hình thù quái lạ như những con rắn hổ mang giận dữ ” Hay khi học về chủ đề “ Ông bà“ “Cha mẹ”, “Anh em” ( từ tuần 10 đến tuần 16), với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia đình, cùng với những tiết học phân môn Luyện từ và câu cung cấp, mở rộng vốn từ ngữ cho HS, ngoài việc giúp HS hiểu rõ và nắm chắc người thân của mình là những ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho HS thông qua các nhân vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài, hướng cho HS liên hệ đến bản thân, gia đình, người thân của mình, tôi còn cung cấp thêm từ ngữ, hướng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ phù hợp với đề tài ( ông bà, cha mẹ, anh em ) để chuẩn bị cho bài làm văn sắp tới ( viết về người thân ), tôi luôn nói với các em sự cần thiết phải học thuộc và lựa chọn những từ ngữ đã học
để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi gợi và kích thích tinh thần học tập của các em
Bên cạnh đó tôi còn giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý Tôi cũng giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn
Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về con vật thì HS sẽ có nhiều bài làm khác
nhau, tôi đã giúp HS chọn lựa từ ngữ cho phù hợp, khi kể về con mèo thì phải có các từ ngữ khác khi viết về con chó, về con gà; viết về tình cảm của em đối với với cha mẹ, ông bà thì từ ngữ dùng phải khác với viết về tình cảm của mình đối với bạn bè; Hay khi tả về mùi hương của các loại quả: thơm thoang thoảng, thơm ngòa ngạt, Tả về màu của hoa phượng: đỏ rực, đỏ thắm, đỏ lung linh Tả
về + Thân hình : mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả … + Nước da : đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, đỏ đắn, ngăm đen … + Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, loăn xoăn… + Khuôn mặt: Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương, vuông vức Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay những từ ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự , ví dụ: Bác
Hồ thành Bác, Người… thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn Ví dụ: buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh Viết về
Trang 8cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như: bình minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình có các từ như đoàn tụ, sum họp, quây quần…; để diễn
tả mặt trời mùa hè có các từ: chói chang, gay gắt, đỏ rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa…Để hỗ trợ cho học sinh, tôi cũng đã cung cấp cho học sinh : Nhiều từ ngữ gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình … Ví dụ : Mặt biển xanh
và rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông
Tôi đã yêu cầu học sinh của mình tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đó vào một quyển từ điển riêng của mình
Với những cách làm như trên tôi đã giúp vốn từ của các em ngày càng nhiều, càng phong phú Hơn nữa còn giúp các em có kĩ năng sử dụng từ một cách phù hợp trong mỗi bài văn của mình
2.3.3 Rèn học sinh kĩ năng diễn đạt câu văn:
Đối với học sinh lớp 2 các em chưa hiểu nhiều về cấu tạo của câu, chưa
biết dùng từ, đặt câu Kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế nên đôi khi các em chưa nhận ra được sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Do vậy khi viết đoạn văn còn có những câu văn lạc lõng không sát thực với yêu cầu của đề bài Hay có những câu văn còn cụt lủn, không có hình ảnh cho nên khi viết đoạn văn các em còn nhiều hạn chế Xuất phát từ những hạn chế đó tôi đã đưa ra một số biện pháp giúp các em có thể viết đúng
và biết cách diễn đạt sao cho câu văn mượt mà, giàu hình ảnh
Trước hết tôi hướng dẫn các em cách viết câu đúng bằng cách dựa vào các mẫu câu mà các em đã được học trong phân môn Luyện từ và câu: “ Ai là gì?”, “
Ai làm gì?”, “ Ai thế nào?” để nhận biết được câu của mình viết đã có đủ hai bộ phận chưa :Bộ phận trả lời cho câu hỏi Ai?( hoặc cái gì?/ con gì)?, bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì (hoặc làm gì?/ như thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo ) Và với câu đó thì người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa? ( Đảm bảo về mặt nghĩa ) Trên cơ sở đó, tôi hướng dẫn HS dùng dấu chấm khi hết câu
Tôi đã giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt câu khác nhau để bài làm các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu
Ví dụ: Khi dạy học sinh viết bài kể về cô giáo dạy em hồi lớp 1 tuần 8
để trả lời cho câu hỏi : Cô giáo( hoặc thầy giáo) dạy em hồi lớp 1 tên là gì? thì
có nhiều cách trả lời khác nhau như: Cô giáo dạy em hồi lớp 1 tên là Hương Hay: Hồi lớp 1, em học với cô Hương Hoặc : Người mẹ thứ hai của em chính
là cô giáo dạy em hồi lớp 1, đó là cô Hương
Trong khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn tôi cũng đã đưa một số câu văn hay đến với học sinh một cách tự nhiên không gò ép Để từ đó các em biết vận dụng vào bài viết của mình
Ví dụ: Khi dạy học sinh viết đoạn văn tả cảnh biển tuần 26 gợi mở : Câu
“Ông mặt trời như một quả bóng màu đỏ treo lơ lửng giữa không trung, chiếu những tia nắng vàng rực rỡ xuống mặt biển làm cho mặt biển nhuốm màu hồng ngọc” Hay khi tả về cây bàng: " Tán lá bàng xòe rộng như một chiếc ô màu xanh khổng lồ che mát cả một khoảng sân rộng."
Trang 9Khi đó, học sinh sẽ thấy được vẫn là ý tưởng cũ nhưng câu văn đã được lột xác, thêm thắt những từ ngữ trau chuốt hơn làm cho câu văn đẹp hơn, nghệ thuật hơn
2.3.4 Bước đầu giúp học sinh nắm được bố cục của một đoạn văn:
+ Câu mở đầu: Các em sẽ giới thiệu về đối tượng mà mình sẽ viết
+ Phần phát triển nội dung: Các em sẽ kể về đối tượng mà mình đang
kể.Ở phần này các em có thể dựa vào các câu hỏi gợi ý để kể
+ Câu kết bài: Nói lên suy nghĩ, tình cảm của mình về đối tượng đang
nêu trong bài, hoặc nêu ích lợi, ý nghĩa của đối tượng đó với cuộc sống, với con người
Ví dụ: Viết đoạn văn ngắn kể về anh, chị em ruột ( hay anh, chị em họ)
của em:
- Em định kể về ai?
- Anh (hay chị, em) bao nhiêu tuổi, đã đi làm hay đang đi học, hay còn ở
nhà?
- Nếu đi làm thì làm nghề gì? Nếu đi học thì học lớp mấy?
- Anh( hay chị, em) có những điều gì đặc biệt( về hình dáng, tính cách)?
- Anh( hay chị, em) đối với em như thế nào?
- Tình cảm của em đối với anh (chị, em) như thế nào?
Câu mở đầu :
- Giới thiệu về người em sẽ
kể
- Anh của em tên là Ngọc
Phần phát triển nội dung:
- Kể về anh
Năm nay anh 10 tuổi, học lớp 5 cùng trường với em Da anh ngăm đen, mắt một
mí, tóc húi cua, người gầy chắc, khỏe Anh rất hiền và vui tính Anh học giỏi môn toán
và vẽ cũng rất đẹp Mỗi khi em gặp bài toán khó là anh là anh lại chỉ bảo tận tình Anh rất thương em và nhường em mọi thứ em thích
Câu kết bài :
- Tình cảm của em đối với
anh
Em rất thương và quý anh trai của mình
2.3.5 Rèn kĩ năng nói cho học sinh
Để có thể viết được một bài văn tốt thì trước hết phải giúp cho học sinh có
kĩ năng nói tốt Đó là nói gãy gọn, trọn vẹn ý, không nói câu cụt
Ví dụ: Khi tả về cây có học sinh nói: “ Rễ cây nổi lên mặt đất như những hình thù quái lạ, như những con rắn hổ mang giận dữ ” Giáo viên cần phải phân tích cho học sinh: Ý của em nói: "Rễ cây nổi lên mặt đất ngoằn ngoèo, tạo ra những hình thù kì lạ, nhìn giống như những con rắn hổ mang ” Vậy em cần nói cho gãy gọn và hay hơn: “Rễ cây nổi lên mặt đất thành nhữ hình thù kì lạ, như những con rắn hổ mạng giận dữ” Hoặc khi nói về tình cảm của cô giáo với học sinh không nên nói: "Tình cảm của cô đối với em rất tốt", mà phải nói: "Cô giáo rất yêu quý chúng em " Giáo viên nhắc nhở học sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ viết
Trang 102.3.6 Xây dựng cho học sinh một hệ thống câu hỏi gợi ý phù hợp với từng đoạn văn:
Đối với học sinh lớp 2 thường khi yêu cầu viết một bài văn thì hầu hết các
em cảm thấy rất lúng túng, không biết viết những gì và viết cái gì trước, cái gì sau Vì vậy để giúp các em có thể dễ dàng viết được một đoạn văn ngắn thì giáo viên nên đưa ra các câu hỏi gợi ý Hầu hết các bài văn trong chương trình lớp 2 đều có các câu hỏi gợi ý rõ ràng, tuy nhiên cũng có một số bài không có Với những bài không có câu hỏi gợi ý thì tôi soạn và cung cấp cho các em Ngoài ra
để tiết học có hiệu quả hơn thì tôi thường tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn HS chuẩn bị, đọc câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau Hoặc chuẩn bị phần tự học khi ở nhà, trước khi lên lớp Bên cạnh đó còn cho các em quan sát một số bức tranh , hình ảnh có thật liên quan đến bài dạy để các em có thêm vốn sống tạo cho bài văn thêm sinh động
Ví dụ:
Bài viết về ông bà hoặc người thân của em :
- Ông bà (hoặc người thân) của em bao nhiêu tuổi?
- Ông, bà ( hoặc người thân) của em làm nghề gì ?
- Ông, bà (hoặc người thân ) của em yêu quý, chăm sóc em như thế nào ?
- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của người ấy dành cho em?
Bài viết về một con vật nuôi trong nhà :