Đặc biệt, khả năng vận dụng các từ đã họcvào giao tiếp và học tập còn nhiều hạn chế, học sinh còn gặp khó khăn và bịlúng túng trong việc tìm từ và sử dụng từ; làm giàu vốn từ vẫn chưa ph
Trang 1MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO
HỌC SINH LỚP 3 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hồng
Trang 22.2 Thực trạng của việc dạy học làm giàu vốn từ cho học
sinh lớp 3 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà
Trang 31.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng,Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục Một trong nhữngnhiệm vụ cơ bản của giáo dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triển nhâncách cho học sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lựcphục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Mục tiêu quan trọng của chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là dạycho học sinh một công cụ để giao tiếp và học tập Nhưng để sử dụng Tiếng Việtnhư một công cụ giao tiếp và học tập thì trước hết học sinh phải nắm được vốn
từ Tiếng Việt Từ là đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, nếu không làm chủđược vốn từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó để họctập cũng như trong giao tiếp Ngoài ra vốn từ ngữ của một người càng giàu baonhiêu thì khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác và tinh tế bấy nhiêu Vìvậy, làm giàu vốn từ cho học sinh là việc làm quan trọng và cần thiết
Thật vậy, trong quá trình dạy học việc rèn luyện tư duy thích hợp được chútrọng ở tất cả các môn học Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học xác định là môn họccông cụ bởi mục tiêu quan trọng của nó Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 cónhiệm vụ cung cấp cho học sinh vốn từ Học sinh được lĩnh hội kiến thức thôngqua một hệ thống bài tập Như vậy sách giáo khoa tạo điều kiện để giáo viên vàhọc sinh thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong đógiáo viên đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đềuđược hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển
Mặt khác, với học sinh tiểu học, vốn từ mà các em có được chủ yếu dựatrên kinh nghiệm sống và cách hiểu tự nhiên còn nhiều hạn chế Đa số các emchỉ mới hiểu được một số nét nghĩa của từ hoặc chỉ nắm nghĩa một cách chungchung chứ chưa đầy đủ và chính xác Đặc biệt, khả năng vận dụng các từ đã họcvào giao tiếp và học tập còn nhiều hạn chế, học sinh còn gặp khó khăn và bịlúng túng trong việc tìm từ và sử dụng từ; làm giàu vốn từ vẫn chưa phải là côngviệc hứng thú của học sinh và các em chưa có ý thức làm giàu vốn từ cho chínhbản thân mình Làm giàu vốn từ cho học sinh ngoài việc cung cấp thêm các từmới, giúp học sinh hiểu nghĩa của từ còn tạo tính thường trực của từ nhằm nângcao khả năng lựa chọn và sử dụng từ của học sinh
Vai trò của việc làm giàu vốn từ, từ thực tế học tập của học sinh và từnhững khó khăn về các biện pháp làm giàu vốn từ, tôi nhận thấy cần phải có một
số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh để giúp giáo viên thuận lợi hơn trongquá trình làm giàu vốn từ, giúp học sinh nắm từ tốt hơn, sâu sắc hơn, hệ thốnghơn, vận dụng vào giao tiếp hiệu quả và văn hóa hơn Góp phần nâng cao chấtlượng dạy Luyện từ và câu nói riêng và tác dụng của phân môn Luyện từ và câunói chung
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế và tầm quan trọng của việc làm giàu
vốn từ cho học sinh tôi chọn, nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm “Các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 qua phân môn Luyện từ và câu”.
1 2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trang 4Nghiên cứu nội dung dạy Luyện từ và câu giúp mở rộng, hệ thống vốn
từ của học sinh lớp 3, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản, rèn chohọc sinh kỹ năng dùng từ đặt câu một cách tốt nhất Luyện từ và câu có vaitrò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ vàtrí tuệ của các em Trong Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu làm giàuvốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em
1 3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các giải pháp làm giàu vốn từ qua phân môn Luyện từ và câu cho họcsinh lớp 3
1 4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê chất lượng
1.4.4 Phương pháp luyện tập, thực hành, trò chơi
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “Giúp học sinh hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,phẩm chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơsở”
Ngôn ngữ nói chung, Tiếng Việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết vớiphương pháp dạy học Tiếng Việt Ngôn ngữ bao gồm một hệ thống, bao gồmcác bộ phận ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Mỗi bộ phận của ngôn ngữ là một hệthống nhỏ, có cơ cấu tổ chức riêng, có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thốngngôn ngữ
Với mục tiêu chung của môn Tiếng Việt thì mục tiêu của phân mônLuyện từ và câu là một bộ phận nhỏ của môn Tiếng Việt hết sức cần thiết đểgiúp học sinh mở rộng và phát triển vốn từ làm cho vốn từ ngôn ngữ của các emngày càng phong phú, việc giúp học sinh nắm ý nghĩa của từ, tích cực hóa vốn
từ để bồi dưỡng cho các em thói quen dùng từ chính xác, nói – viết thành câu, có
ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong học tập và giao tiếp
Thông qua mục tiêu chương trình cũng như cụ thể hóa được vai trò củanhân tố ngôn ngữ trong việc sử dụng Tiếng Việt Bên cạnh đó, phân môn Luyện
từ và câu ở lớp 3 còn góp phần quan trọng giúp học sinh mở rộng và phát triển
từ Từ đó, học sinh sẽ có một vốn từ nhất định để hình thành thói quen dùng từ,nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong học tập, giaotiếp và thích học Tiếng Việt
Trang 5Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt thông qua tất cả các phân mônTập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu Qua phân môn Luyện từ vàcâu học sinh được mở rộng, hệ thống hoá vốn từ, được trang bị kiến thức sơ giản
về từ, câu, kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu Nhiều học sinh thích vậndụng từ ngữ hay để nói, viết Thế nhưng tư duy các em phát triển chưa hoànthiện, các em chưa hiểu nghĩa từ, chưa nắm chắc kiến thức ngữ pháp tiếng Việt
Vì vậy, việc giúp các em hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt làrất quan trọng Các em nắm được nghĩa của từ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn vàvận dụng để học tốt các phân môn Tiếng Việt và các môn học khác, là cơ sở.nền tảng cho việc học tập các bậc học trên
Sử dụng từ, câu tiếng việt giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng, nănglực tư duy: Thông qua các bài Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ vàcâu học sinh được rèn luyện và phát triển trí tưởng tượng ngay từ các bài thơ,bài văn Các em hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu đểnói, viết đúng, viết hay Từ đó, các em có thể trau dồi kĩ năng vận dụng từ ngữđưa vào ngữ cảnh phù hợp, sinh động, có thói quen dùng từ đúng, nói viết thànhcâu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp và thích học TiếngViệt
Giúp học sinh ý thức và thói quen sử dụng Tiếng Việt, văn hóa trong giaotiếp để trẻ tích luỹ những hiểu biết cần thiết về Tiếng Việt: Quá trình học
"Luyện từ và câu" giúp các em biết sử dụng từ ngữ phù hợp trong giao tiếp hàngngày với bạn bè, bố mẹ và mọi người xung quanh Bồi dưỡng cho các em biếtthưởng thức cái đẹp, biết thể hiện những buồn, vui, yêu, ghét của con người Từ
đó, học sinh biết phân biệt đẹp, xấu, thiện, ác để hoàn thiện nhân cách cho bảnthân
Theo quan điểm của giáo dục học, tự học là quá trình tự mình hoạt độnglĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướngdẫn trực tiếp của cơ sở giáo dục Tự học có thể bằng cách đọc tài liệu, sách giáokhoa, nghe đài, đọc báo, xem truyền hình, thăm bảo tàng, triển lãm… Tự họcgắn liền với tự ý thức và tự giáo dục Ở học sinh Tiểu học, tự ý thức và tự giáodục của các em đang hình thành và phát triển Do vậy, tự học của học sinh Tiểuhọc khác với tự học của học sinh các cấp trên về yêu cầu, mức độ, phạm vi… Tựhọc của học sinh Tiểu học chỉ giới hạn ở việc trẻ tự giác hoàn thành các nhiệm
vụ học tập được giao (làm các bài tập được giao, chuẩn bị để học bài mới…)
Dù trực tiếp hay gián tiếp, hoạt động tự học của học sinh tiểu học đều có sựhướng dẫn của giáo viên Tự học của học sinh tiểu học không những diễn ra ởnhà mà còn diễn ra ngay trong lớp học với hình thức dạy học cá nhân trên lớp Ởhình thức dạy học này, học sinh thực hiện theo nội dung, cách thức và tiến độkhác nhau tùy thuộc vào năng lực cá nhân, dưới sự hướng dẫn của giáo viên
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2 2.1 Thực trạng dạy của giáo viên:
Trang 6Qua quá trình giảng dạy lớp 3, trong các tiết mở rộng vốn từ cũng như tiếtkiểm tra, cùng với việc dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy:
- Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến dạy học mở rộng vốn từ cho họcsinh Trong quá trình dạy học, giáo viên ít tạo điều kiện cho học sinh được hoạtđộng nhiều với từ nên khả năng tìm từ ở học sinh và sử dụng khi cần thiết chưacao Có bài tập cần phải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm, thì giáo viên lại tổchức học sinh làm việc chung cả lớp, có bài tập tập cần có sự thi đua, tạo khôngkhí sôi nổi trong lớp thì giáo viên lại tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân.Thời gian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệ thống câu hỏi và hình thứcthực hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu, chưa tạo hứng thú học tập thực sự chohọc sinh, chưa phân loại đối tượng học sinh để áp dụng phương pháp dạy họccho phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp nhằm góp phần nâng chấtlượng dạy và học
- Giáo viên ít sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá trìnhdạy học làm giàu vốn từ, đặc biệt là trong nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho họcsinh Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp cá nhân làm việcđộc lập, phương pháp vấn đáp để dạy các bài tập mở rộng vốn từ, giáo viên ítvận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong giờ học, không tạo đượcđiều kiện để học sinh có thể hoạt động nhiều hơn với từ, lặp đi lặp lại các thaotác với từ để có thể nhớ từ một cách bền vững
2 2 2 Thực trạng học của học sinh:
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, số lượng từ ngữ học sinh nắm đượctrong giờ học chưa cao và không bền vững Khi huy động vốn từ theo chủ đề,mỗi học sinh chỉ huy động được khoảng 1-2 từ, nhiều nhất là 4-5 từ Thậm chí
có học sinh không huy động được một từ ngữ nào
- Hơn nữa, khả năng giao tiếp của học sinh còn yếu, học sinh diễn đạtchưa rõ ràng, mạch lạc
- Nhiều học sinh tìm từ bị lạc chủ đề
Ví dụ: Em hãy tìm các từ ngữ chỉ trẻ em Có học sinh đã tìm các từ như:
bạn bè, sinh viên, đoàn kết…
Ví dụ: Em hãy tìm các từ ngữ chỉ người trong cộng đồng Có học sinh đã
tìm các từ như: bệnh viện, bưu điện, nhi đồng…
Ví dụ: Em hãy tìm các sự vật thường thấy ở nông thôn Có học sinh đã
tìm các từ như: tốt bụng, hiền lành, thật thà,…
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn nên dẫn đến việc viết câu, đoạn văncủa học sinh chưa sinh động, chưa hay…
Ví dụ: Hôm qua mẹ cho em về quê chơi, em thấy làng quê có rất nhiều
cây cối rất đẹp, nhưng em thích nhất là những chú trâu đang gặm cỏ Chị ra đồng hái rau.
- Nhiều học sinh chưa tích cực trong giờ học mở rộng vốn từ
Từ thực trạng trên tôi thấy nếu không có biện pháp mở rộng vốn từ chohọc sinh thì vốn từ của học sinh không phong phú, việc dùng từ đặt câu không
đa dạng, thiếu hình ảnh dẫn đến chất lượng dạy học Tiếng Việt sẽ không cao
Trang 72.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 3
2.3.1 Vận dụng khéo léo, linh hoạt phương pháp thảo luận nhóm để
mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ.
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học dưới sự hướng dẫncủa giáo viên mà các thành viên trong nhóm thực hiện việc trao đổi, thảo luận,chất vấn và chia sẻ lẫn nhau
Trong quá trình dạy học tôi đã vận dụng linh hoạt phương pháp thảo luậnnhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh trong quátrình luyện tập sử dụng từ
Cách thực hiện:
Để vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào giảng dạy đạt hiệu quả,giáo viên cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị bài trước khi lên lớp.
- Giáo viên chuẩn bị kỹ bài dạy, nghiên cứu kỹ nhiệm vụ của bài dạy Xácđịnh bài tập sẽ sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
- Giáo viên thiết kế phiếu bài tập để giao việc cho các nhóm học sinh Khithiết kế phiếu bài tập, giáo viên lưu ý xây dựng thêm các bài tập xây dựng nghĩacủa từ đối với những học sinh chưa hiểu nghĩa Tùy thuộc vào trình độ nhậnthức của lớp mình, giáo viên thiết kế thêm các bài tập bổ sung để cụ thể hóa yêucầu của bài tập tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều được hoạt động hết khảnăng của mình
- Chuẩn bị các phương tiện dạy học như: phiếu bài tập, bảng để học sinhghi kết quả theo thảo luận nhóm…
Bước 2: Vận dụng linh hoạt phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học.
- Giáo viên chia các nhóm học sinh
Tùy theo đặc điểm của bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinhthảo luận theo những cách khác nhau như: Chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi, chianhóm theo hình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độnắm vốn từ của học sinh…Mỗi học sinh được chia nhóm đều có ưu, nhược điểmnhất định, khi lựa chọn giáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hìnhthức để tránh nhàm chán cho học sinh
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh
Nhiệm vụ thảo luận nhóm được cụ thể hóa trong phiếu bài tập (hoặc phiếugiao việc) cho cả nhóm
Ví dụ 1: Khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài 1, mở rộng vốn từ: Thiếu
nhi (TV3- Tập 1- trang 16), ta có thể sử dụng phiếu học tập sau:
PHIẾU THẢO LUẬNThảo luận nhóm 4, tìm các từ:
a Chỉ trẻ em:
Trang 8b Chỉ tính nết của trẻ em: ………
c Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc của người lớn đối với trẻ em: ………
Ví dụ 2: Đối với bài tập 1, mở rộng vốn từ: Gia đình, Tuần 4 (TV3-Tập 1 – Trang 33) ta có thể sử dụng phiếu thảo luận sau: PHIẾU THẢO LUẬN Thảo luận nhóm 4, tìm các từ chỉ gộp những người thân trong gia đình: ………
………
Ví dụ 3: Khi dạy bài 1, Tuần 15 (TV3-Tập 1- trang 126), mở rộng vốn từ: các dân tộc, GV sử dụng phiếu thảo luận: PHIẾU THẢO LUẬN Thảo luận nhóm 4, nói cho bạn nghe và nghe bạn nói tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta mà em biết Sau đó ghi lại vào chỗ chấm dưới đây: ………
………
Ví dụ 4: Ở bài tập 1, 2 mở rộng vốn từ: Thành thị - Nông thôn, tuần 16 (TV3- Tập 1- trang 135), ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu học tập sau: PHIẾU THẢO LUẬN Thảo luận nhóm 4, tìm các từ: a Tìm từ thường thấy ở nông thôn:………
b Tìm từ thường thấy ở thành thị:………
c Chỉ các công việc thường thấy ở nông thôn:……….………
d Chỉ các công việc thường thấy ở thành thị……… ………
- Học sinh thảo luận nhóm:
Trang 9Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáoviên quan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết, đảm bảo mọi nhómđều thảo luận sôi nổi, hiệu quả.
- Các nhóm báo cáo kết quả:
Trong thời gian các nhóm báo cáo kết quả, giáo viên tạo điều kiện cho cácnhóm khác nhận xét, bổ sung để đi đến kết quả thảo luận cuối cùng của lớp
- Giáo viên tổng kết, chốt lại kiến thức cần ghi nhớ sau khi thảo luậnnhóm và tuyên dương những nhóm, cá nhân tiêu biểu, nhắc nhở những nhóm,những cá nhân chưa tích cực để lần sau các em cố gắng hoạt động hiệu quả hơn
Phương pháp thảo luận nhóm nhằm hình thành năng lực giao tiếp, kỹnăng hợp tác, khả năng suy nghĩ độc lập Với phương pháp này, học sinh cònđược học từ bạn và tất cả học sinh đều được tham gia hoạt động giao tiếp Tôi đãvận dụng những ưu điểm của phương pháp dạy học này như một biện pháp làmgiàu vốn từ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả mở rộng vốn từ và tạo môi trườnggiao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ
2.3.2 Sử dụng trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn từ một cách chủ động, tích cực, hiệu quả.
Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và chủyếu là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng Nhưngqua trò chơi, người chơi có thể rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội giao lưu vớimọi người cùng hợp tác với đồng đội trong nhóm, tổ
Ở bậc Tiểu học, sử dụng trò chơi trong quá trình học tập làm cho việc tiếpthu trí thức, rèn luyện kỹ năng, củng cố tri thức bớt đi sự khô khan, có thêm sựsinh động, hấp dẫn Từ đó hiệu quả học tập của học sinh tăng lên
Trong giờ mở rộng vốn từ, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ để làmgiàu vốn từ cho mình Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiếthọc thì hiệu quả giờ học không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ Sử dụngtrò chơi học tập là phương pháp dạy học tích cực Từ đó làm thay đổi không khítrong lớp học, tạo sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ vũ nhiệttình của các bạn trong lớp Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú hơn vớiviệc học từ ngữ trong các bài tập mở rộng vốn từ, làm giảm bớt sự khô khan củabài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại, quản lý vốn từđúng, sử dụng từ chính xác, linh hoạt, hợp lý
Trong quá trình giảng dạy tôi thường sử dụng trò chơi như sau:
a Sử dụng phương pháp trò chơi trong học tập đối với các bài tập phân loại, quản lý vốn từ và bài tập sử dụng từ:
Đối với nhiệm vụ phân loại, quản lý vốn từ, tôi thấy đa số các bài tập đềucho trước một số lượng từ nhất định, nhiệm vụ của học sinh là dựa vào một tiêuchí nào đó để xếp từ vào các nhóm như bài tập ở ví dụ sau đây:
Ví dụ 1: Dưới đây là một số từ có tiếng cộng hoặc tiếng đồng và nghĩa
của chúng Em có thể xếp những từ nào vào mỗi ô trống trong bảng phân loạisau?
Trang 10- Cộng đồng: Những người cùng sống trong một tập thể hoặc một khu vực, gắn bó với nhau
- Cộng tác: Cùng làm chung một việc
- Đồng bào: người cùng một nòi giống
- Đồng tâm: Cùng một lòng
- Đồng hương: Người cùng quê
Những người trong cộng đồng Thái độ, hoạt động trong cộng đồng
………
………
………
………
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 65)
Ví dụ 2: Xếp những từ ngữ sau vào hai nhóm: cây đa, gắn bó, dòng sông, con đò, nhớ thương, yêu quý, mái đình, thương yêu, ngọn núi, phố phường, tự hào.
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 89)
Từ chỉ sự vật ở quê hương Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
Nhiệm vụ của bài tập ở ví dụ này làm nổi bật đặc điểm chung của các từ ngữ trong hệ thống, từ đó làm cơ sở, làm điểm tựa cho hoạt động ghi nhớ, sắp xếp từ thành hệ thống trong trí nhớ của học sinh
Đối đối với loại bài tập này, tôi thường sử dụng trò chơi học tập để khắc
sâu kiến thức cho học sinh, đó là trò chơi: “Trò chơi tiếp sức”
+ Tác dụng của trò chơi :
- Giúp học sinh phân loại, quản lý vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh
- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh
+ Chuẩn bị:
- Bảng phụ hoặc kẻ bảng chính của lớp, trong bảng đó ghi đề bài và các tiêu chí phân loại từ
Ví dụ 3: Xếp các từ vào hai nhóm thích hợp.
Nhóm 1:
Từ chỉ sự vật ở quê hương Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
Nhóm 2:
Trang 11Từ chỉ sự vật ở quê hương Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
- Các băng giấy ghi sẵn các từ cần xếp loại
Ví dụ: cây đa, gắn bó, dòng sông, con đò, nhớ thương, yêu quý, mái đình, thương yêu, ngọn núi, phố phường, tự hào.
- Nam châm hoặc băng dính
+ Cách tiến hành:
- Học sinh được chia làm hai đội, mỗi đội 3, 4 học sinh
- Khi giáo viên có hiệu lệnh “Bắt đầu” lần lượt mỗi em của hai độichạy lên dán từ vào đúng nhóm theo tiêu chí phân loại Khi dán xong, học sinhchạy xuống chạm tay vào học sinh thứ hai thì học sinh thứ hai mới được chạylên dán từ tiếp theo vào bảng Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi hai đội dán xongcác từ, trò chơi kết thúc Đội nào dán đúng và nhanh đội đó sẽ giành chiếnthắng
Ưu điểm của trò chơi đối với loại bài tập phân loại quản lý vốn từ là kếtquả làm việc của học sinh sẽ tạo ra biểu tượng cụ thể (trên bảng lớp) cho họcsinh so sánh và ghi nhớ
tự hào
Các từ theo một dấu hiệu được xếp thành một cột trên bảng để học sinhghi nhớ từ thuận lợi trong trí nhớ của mình Khi sử dụng, học sinh có thể liêntưởng nhanh đến từ trong trò chơi đã được chơi
Khi học sinh chơi xong, giáo viên có thể kết hợp với các bài tập để họcsinh tìm hiểu nghĩa của từ, phân biệt sắc thái nghĩa của các từ cùng hệ thống đểkhi học sinh sử dụng từ chính xác và tinh tế hơn
Trò chơi học tập để học sinh tìm ra tri thức mới đa dạng Giáo viên có thể
sử dụng thêm các trò chơi khác để phù hợp và thay đổi không khí lớp học làmcho học sinh hứng thú hơn với việc làm giàu vốn từ của mình
b Sử dụng trò chơi học tập để củng cố kiến thức và mở rộng vốn từ.
Khi thực hiện xong các nhiệm vụ của bài học, vào cuối tiết học, giáo viên
sẽ củng cố lại nội dung đã học cho học sinh Hiện nay, ở trường tiểu học ít chú ýđến khâu này trong bài dạy, điều này cũng ảnh hưởng đến chất lượng vốn từ củahọc sinh
Trang 12Khi dạy mở rộng vốn từ cho học sinh, muốn từ ngữ vừa được cung cấptồn tại sâu sắc, bền vững trong trí nhớ của học sinh, giáo viên phải tìm cách đểhọc sinh được thao tác nhiều với từ, tạo điều kiện cho học sinh nghe, nói, đọc,viết nhiều với từ, đặc biệt là từ mới Để củng cố bài học cho học sinh, tôi sử
dụng trò chơi “Ai đúng, ai nhanh”.
+ Mục đích: Giúp học sinh củng cố lại những từ vừa học trong bài mở
rộng vốn từ
+ Cách tiến hành:
- Tổ chức trò chơi vào cuối tiết học
- Một số học sinh đứng tại vị trí của mình, lần lượt nêu các từ đã họctrong bài Giáo viên và các học sinh khác sẽ là trọng tài, khi học sinh nêu đúngmột từ, cả lớp đồng thanh nói “đúng” và học sinh được nêu tiếp từ khác Nếuhọc sinh nói chưa đúng thì cả lớp nói “sai” và học sinh đó không được chơi nữa,nhường quyền chơi lại cho các bạn khác trong lớp Học sinh nào nêu đúng vànhiều từ sẽ thắng cuộc…
Sau trò chơi, giáo viên và học sinh sẽ tuyên dương những học sinh nêuđược nhiều từ đúng
Ưu điểm là loại trò chơi này là tạo điều kiện cho học sinh nói từ Nói cáchkhác, giúp học sinh hoạt động với nhiều từ hơn để ghi nhớ từ hiệu quả hơn
Những trò chơi này khá đơn giản, giáo viên không phải chuẩn bị nhiều, ítgây ồn ào nhưng lại có tác động tích cực đến việc ghi nhớ từ ngữ của học sinh.Nếu giáo viên tổ chức tốt hai trò chơi thì ngoài tác dụng củng cố tốt kiến thứccủa bài học, Trò chơi còn có tác dụng trở lại với bài học mới để ghi nhớ kiếnthức của bài học Học sinh phải cố gắng để khi chơi tìm được nhiều từ nhất Từ
đó, hiệu quả của giờ học được nâng cao, số lượng từ và chất lượng từ sau mỗibài học sẽ được chuyển biến rõ rệt
Để học sinh mở rộng được nhiều từ ngữ trong một chủ điểm tôi sử dụng
trò chơi: “Truyền điện”
+ Mục đích: Mở rộng vốn từ cho học sinh khi học chủ điểm: “NGÔI NHÀ
CHUNG”
+ Cách tiến hành:
- Giáo viên giới thiệu trò chơi
- Trò chơi được thực hiện với 2, 3, 4 đội tùy vào điều kiện lớp học (mỗi đội
3, 4, 5 học sinh… hay nhiều hơn đều thực hiện được.)
- Giáo viên nêu yêu cầu: Kể tên các nước trên thế giới mà em biết
Một đội được chỉ định nêu trước, sau khi nêu đúng tên 1 nước đội đó có quyềntruyền điện cho đội bạn (chạm tay vào 1 bạn của đội khác), đội nào được truyềnđiện sẽ phải nêu tên 1 nước khác, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi đội nào khôngnêu được tên nước nữa đội đó sẽ thua cuộc
Trò chơi này có thể thực hiện ở nhiều chủ điểm khác nhau, tạo hứng thú
và luôn đạt kết quả cao ngoài mong đợi
Trò chơi học tập phần lớn được xem là một thủ thuật, biện pháp củng cốkiến thức mà học sinh vừa học Đồng thời giúp học sinh tìm hiểu những từ ngữ