địa phương đã quyết định nghiên cứu về “Thực trạng sử dụng và nhu cầu học chữ Mông của người dân thôn Giàng Tra”, dựa trên giả định như sau: Ở Việt Nam hiện đang tồn tại hai loại chữ Mô
Trang 3MỤC LỤC
D Bình luận về quá trình nghiên cứu cùng cộng đồng 29
I Tính chất giáo dục và hành động của nghiên cứu cùng cộng đồng 29
II Thách thức của nghiên cứu cùng cộng đồng và bài học kinh nghiệm
31
Trang 43
Lời cảm ơn
Nhóm nghiên cứu “Đi tìm chữ Mông” xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện nghiên cứu Chúng tôi đặc biệt biết ơn các thông tin viên, những người dân ở thôn Giàng Tra, xã Tả Phìn, Sa Pa bởi các bác, anh, chị đã tin tưởng, hết lòng chia sẻ thông tin, ý kiến, quan điểm, và tham gia nhiệt thành cùng chúng tôi trong dự án này Chúng tôi chân thành cảm ơn các cán
bộ UBND xã Tả Phìn: sự ủng hộ của UBND xã không chỉ giúp nghiên cứu này diễn ra suôn sẻ, mà còn là nguồn động viên rất lớn đối với chúng tôi
Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn tới anh Nguyễn Trường Giang (Bộ môn Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội), các chị Nguyễn Bích Tâm, Phan Tú Quỳnh, Nguyễn Thùy Linh, Đỗ Bích Thủy (Trung tâm Nâng cao Năng lực Cộng đồng - CECEM) đã giới thiệu với nhóm nghiên cứu địa phương những công cụ như PRA, photovoice (tiếng nói qua ảnh), và videovoice (phim cộng đồng) để nhóm có thể truyền tải ý kiến của mình một cách thuận lợi và hấp dẫn hơn Chúng tôi chân thành cảm ơn anh Thào A Kỷ đã giúp phiên dịch tiếng Mông - tiếng Việt,
và Nguyễn Quang Vũ giúp biên tập phim tài liệu “Đi tìm chữ Mông”
Chúng tôi vô cùng cảm ơn Vụ Địa phương I, Ủy ban Dân tộc, và anh Vừ Bá Thông, Vụ Pháp chế, Ủy Ban Dân tộc đã chia sẻ quan điểm và hết lòng ủng hộ việc nghiên cứu và vận động chính sách liên quan đến chữ Mông của các đơn
vị tổ chức nghiên cứu Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn tổ chức CARE Đan Mạch đã tin tưởng, hỗ trợ chúng tôi thử nghiệm phương pháp nghiên cứu cùng cộng đồng tại Sa Pa, và ủng hộ các sáng kiến của nhóm nghiên cứu địa phương để hiện thực hóa những ước mơ, nguyện vọng của cộng đồng
Trang 5Sa Pa là điểm xuất phát của các du khách để từ đó, họ đi thăm quan, khám phá những bản làng hoang sơ xung quanh, đồng thời cũng là nơi không ít người Mông và Dao tới kiếm sống bằng nghề bán hàng thổ cẩm và một số sản phẩm địa phương khác Mặc dù sống khá gần thị trấn, nơi thống trị của văn hóa Kinh pha lẫn văn hóa phương Tây, nhưng người Mông ở Sa Pa dường như vẫn đang duy trì không gian văn hóa – sinh tồn của riêng họ Tương phản với sự "hoa lệ" của thị trấn Sa Pa, người Mông ở các thôn bản lân cận vẫn nghèo và phải đối mặt với những vấn đề mà những người lạc quan về sự phát triển du lịch không muốn để mắt tới như thiếu nước sạch, thiếu nhà vệ sinh kiên cố, nạn buôn bán phụ nữ qua biên giới, bỏ học, thất nghiệp, thiên tai và sự bấp bênh của mùa màng
Với cách tiếp cận nghiên cứu cùng cộng đồng – trong đó những thành viên đại diện cộng đồng sẽ tham gia vào mọi khía cạnh của quá trình nghiên cứu, từ lựa chọn chủ đề cho tới báo cáo kết quả, nghiên cứu này nhằm mục tiêu khám phá những vấn đề mà cộng đồng Mông ở Sa Pa cho là quan trọng, cấp thiết trong đời sống của họ Đó cũng là những chủ đề mới, gần gũi hơn với đời sống hiện tại của người dân và cung cấp những gợi ý quan trọng cho những chương trình, chính sách phát triển cũng như các nghiên cứu về sau Như vậy, trong khi các nghiên cứu thông thường phục vụ mối quan tâm của nhà nghiên cứu bên ngoài, thì chương trình nghiên cứu cùng cộng đồng này hướng tới mối quan tâm của người trong cuộc, đồng thời giúp họ nâng cao năng lực tìm hiểu, phân tích và chủ động tạo ra những biến đổi xã hội tích cực
ở địa phương
II Quá trình lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Những nghiên cứu trước đây về người Mông ở Việt Nam nói chung và người Mông ở Sa Pa nói riêng thường tập trung vào những chủ đề như sinh kế
từ ngành du lịch và giao thương với miền xuôi (Dương Bích Hạnh, 2008, Tugault-Lafleur và Turner, 2009, Michaud và Turner, 2000, Turner và Michaud, 2008, Turner, 2012), sở hữu và sử dụng đất – rừng (Vương Duy Quang, 2004, Corlin, 2004, Nguyen Tien Hai, 2009), sự cải đạo sang Tin Lành (Tapp, 1989, Ngô Thị Thanh Tâm, 2010), và văn hóa truyền thống (Vương Duy Quang, 2005, Mã A Lềnh, 2009) Bản thân nhóm nghiên cứu chúng tôi cũng rất quan tâm đến những vấn đề vĩ mô như đất rừng, khai khoáng, định kiến tộc người vì cho rằng đó là những chủ đề “hấp dẫn”, “quan trọng”, có tính khái quát cao Mặc dù đặt mục tiêu chuyển quyền lựa chọn đề tài nghiên cứu sang cho người dân theo đúng tinh thần của cách tiếp cận nghiên cứu cùng
Trang 6địa phương đã quyết định nghiên cứu về “Thực trạng sử dụng và nhu cầu học
chữ Mông của người dân thôn Giàng Tra”, dựa trên giả định như sau:
Ở Việt Nam hiện đang tồn tại hai loại chữ Mông: Chữ Mông Việt Nam là bộ chữ chính thức, và chữ Mông quốc tế là bộ chữ mới du nhập và được sử dụng rộng rãi trong những người Mông theo đạo Tin Lành Người Mông ở
xã Tả Phìn đang có phong trào học chữ Mông quốc tế để theo đạo Tin Lành Một khi đã theo đạo, người dân sẽ xóa bỏ những phong tục tập quán truyền thống của người Mông, làm mất đi bản sắc của dân tộc Mông
Do đó, cần tìm cách khôi phục và truyền bá chữ Mông Việt Nam vì đây mới đúng là chữ viết truyền thống của người Mông ở Việt Nam, giúp khẳng định và đề cao văn hóa Mông Trong khi đó, thông tin về chữ Mông Việt Nam và người dạy loại chữ này còn rất hạn chế, cần được tìm hiểu sâu thêm
Ban đầu, chúng tôi cảm thấy khá lo lắng trước chủ đề “xa lạ” này bởi khi tiến hành nghiên cứu về một lĩnh vực mình chưa từng biết đến, nhà nghiên cứu sẽ khó có thể biết trước mình sẽ đi xa được đến đâu Chúng tôi cũng tự hỏi liệu sau này nhóm nghiên cứu có thể thực hiện vận động chính sách với một chủ đề “vi mô” như vậy không Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chấp nhận cùng cộng đồng đi tiếp chủ đề này, xác định rằng nghiên cứu chữ Mông sẽ là một quá trình thử nghiệm và học tập đối với cả hai bên Hơn nữa, việc quyết định
đi tiếp chủ đề mà cộng đồng cho là quan trọng sẽ giúp cộng đồng có động lực lớn hơn khi thực hiện nghiên cứu Như vậy, trong dự án này, thẩm quyền quyết định chủ đề nghiên cứu đã được chuyển hoàn toàn về phía người dân Cùng thảo luận với chúng tôi, nhóm nghiên cứu thôn Giàng Tra đã xác định 3
khía cạnh nghiên cứu: (i) Thực trạng việc biết, sử dụng, dạy và học chữ Mông
Việt Nam và chữ Mông quốc tế ở thôn Giàng Tra; (ii) Nhu cầu học chữ Mông của bà con; (iii) Bà con muốn học và sử dụng chữ Mông Việt Nam hay chữ Mông quốc tế? Vì sao?
III Điểm luận tài liệu
Chữ viết của người Mông ở Việt Nam chưa từng được nghiên cứu một cách có hệ thống Lịch sử của chữ Mông Việt Nam chỉ được đề cập một cách chung chung trong một số tài liệu dạy chữ và bài viết trên báo mạng hoặc
Trang 76
website của cơ quan nhà nước (Đỗ Anh Vũ, 2010, Cao Văn Tư, 2006) Về thực trạng sử dụng chữ Mông Việt Nam, phần lớn các bài trên báo mạng mang tính chất ca ngợi, đề cập đến những cá nhân - tấm gương điển hình trong việc sử dụng và truyền bá loại chữ này (Đỗ Anh Vũ, 2010, Cao Văn Tư, 2006, Hồng Phúc, 2014, Nguyễn Hiên, 2005) Bên cạnh đó, đã có những bài nghiên cứu thể hiện quan điểm của tác giả về thực trạng chữ Mông Việt Nam không được sử dụng rộng rãi, không được người Mông đón nhận Lý Tùng Hiếu (2009) và Hoàng Thị Châu (2006) cho rằng từ thập niên 1960, khi chữ Mông Việt Nam
ra đời, nhà nước đã có quan niệm chữ viết dân tộc thiểu số chỉ là một công cụ
để “bắc cầu” sang việc học ngôn ngữ phổ thông Đến khoảng cuối thập niên
1970, các cơ quan quản lý giáo dục cho rằng việc dạy chữ dân tộc thiểu số làm chậm trễ việc học tiếng Việt nên đã bỏ lửng hoạt động này Từ 1990 đến nay,
Bộ Giáo dục đã quay lại quan tâm hơn tới chữ Mông nhưng tình hình vẫn không có nhiều tiến triển (Hoàng Thị Châu, 2006, Lý Tùng Hiếu, 2009) Chữ Mông quốc tế lại được nhắc đến ít hơn, hầu như chỉ xuất hiện chút ít trong những nghiên cứu về đạo Tin Lành trong cộng đồng người Mông Việt Nam như là một loại chữ viết mà các nhà truyền giáo sử dụng để dạy Kinh thánh (Ngô Thị Thanh Tâm, 2010, Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Thị Tâm, 2013) Nghiên cứu của Trần Trí Dõi (2013) về vấn đề xóa mù chữ cho người Mông ở bản Pú Tỉu, xã Ẳng Tở và bản Tát Hẹ, xã Ẳng Nưa, huyện Mường Áng, tỉnh Điện Biên cho thấy gần 99% người dân ở Pú Tỉu đã xóa mù chữ thành công bằng tiếng mẹ đẻ nhờ việc học chữ Mông quốc tế qua các bản Kinh thánh Trong khi đó, người dân ở Tát Hẹ hầu như không biết chữ Mông do họ sinh hoạt theo tín ngưỡng dân gian chứ không theo đạo Tin Lành Trước thực
tế này, tác giả đề xuất nhà nước nên quan tâm đến giáo dục ngôn ngữ (cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc) thông qua sinh hoạt tôn giáo Ví dụ, nhà thờ có thể dùng Kinh thánh bằng chữ phổ thông hoặc chữ Mông Việt Nam thay cho chữ Mông quốc tế Tác giả cũng cho rằng cơ quan quản lý giáo dục nên “dứt khoát
xử lý tình trạng ‘chưa thân thiện’ đối với người dùng ở trường hợp chữ Mông Latinh Việt Nam” (Trần Trí Dõi, 2013)
Trong bài viết trên Báo Điện tử Chính phủ (2010) và Tạp chí Dân tộc của
Ủy Ban Dân Tộc (2011), Vừ Bá Thông nhận định rằng mặc dù không phải là loại chữ được chính thức công nhận nhưng chữ Mông quốc tế được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong cộng đồng người Mông ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên vì dễ sử dụng Tác giả cũng đề xuất nhà nước cần có sự lựa chọn chữ viết để đưa vào giảng dạy sao cho có hiệu quả và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của đồng bào Sau khi hoàn thành nghiên cứu cùng cộng đồng Mông ở Sa Pa, chúng tôi mới được biết Ủy ban Dân tộc cũng đang thực hiện một cuộc điều tra về việc học chữ của đồng bào Mông, trong đó có đặt vấn đề so sánh chữ Mông Việt Nam và chữ Mông quốc tế (Hờ Bá Hùa, 2014) Tuy nhiên, nghiên cứu này của
Ủy ban Dân tộc mang tính chất nội bộ, không công bố rộng rãi mà chỉ dành cho các cơ quan hữu quan tham khảo nhằm xây dựng chính sách về việc dạy
và học chữ Mông
Trang 87
Như vậy, hệ thống tài liệu hiện có về chữ Mông đã đề cập đến một số vấn
đề cơ bản như nguồn gốc và mức độ phổ biến của hai loại chữ Mông ở Việt Nam Nghiên cứu định tính của nhóm nghiên cứu thôn Giàng Tra sẽ làm rõ hơn về nhu cầu học chữ mẹ đẻ, sự lựa chọn chữ viết của người dân và những
ẩn ý đằng sau nguyện vọng đó
B Lý thuyết và phương pháp
I Cách tiếp cận “Nghiên cứu cùng cộng đồng”
Ban đầu, khi bắt tay vào tìm hiểu về nghiên cứu cùng cộng đồng với dự định thử nghiệm nó trong chương trình nghiên cứu của iSEE về dân tộc thiểu
số (6/2013), chúng tôi cảm thấy khá choáng ngợp trước hàng loạt những thuật ngữ mà nhiều nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng để miêu tả cùng một cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội: Nghiên cứu tham gia (participatory research), nghiên cứu hành động tham gia (participatory action research), nghiên cứu hành động (action research), nghiên cứu tham gia dựa vào cộng đồng (community-based participatory research), nghiên cứu cùng cộng đồng (co-research), v.v Mặc dù đây không còn là cách tiếp cận quá mới, nhưng nguồn tài liệu về nghiên cứu cùng cộng đồng vẫn còn khá ít ỏi so với các phương pháp kinh điển và phổ biến trong khoa học xã hội Tuy vậy, sự cản trở lớn nhất đối với chúng tôi vào thời điểm đó có lẽ không nằm ở sự hạn chế của
tư liệu và kinh nghiệm, mà chính là sự đa dạng và linh hoạt trong quan điểm
về nghiên cứu cùng cộng đồng và cách thức thực hiện nó mà các tài liệu này miêu tả Chúng tôi cũng đã có những tranh luận không dứt về việc lựa chọn và
sử dụng thuật ngữ, bởi việc gọi tên dự án của mình là nghiên cứu tham gia, nghiên cứu cùng cộng đồng, hay nghiên cứu hành động… sẽ quyết định việc chúng tôi sẽ thiết kế và thực hiện nghiên cứu như thế nào
Nghiên cứu hành động, hay nghiên cứu hành động tham gia, là thuật ngữ được sử dụng và khai thác nhiều nhất Smith (1997, trích trong Pavlish và Pharris, 2012: 5) miêu tả nghiên cứu hành động tham gia là một quá trình trong đó “một nhóm người cùng nhau tìm hiểu về hiện thực của họ thông qua việc đặt những câu hỏi gai góc, suy tưởng về những giả định liên quan đến các vấn đề và tình huống xảy ra hàng ngày, đề xuất những giải pháp để thay đổi,
và thực hiện những hành động có ý nghĩa.”1 Điểm cốt lõi của nghiên cứu hành động tham gia nằm ở chỗ vấn đề nghiên cứu được xác định bởi chính những cộng đồng người đang tìm kiếm sự thay đổi tích cực trong đời sống của họ (Pavlish và Pharris, 2012: 5)
Whyte (1991: 20) cho rằng “trong nghiên cứu hành động tham gia, một nhóm người thuộc một tổ chức hay cộng đồng được nghiên cứu chủ động, tích cực tham gia cùng với nghiên cứu viên chuyên nghiệp trong suốt quá trình nghiên cứu, từ thiết kế ban đầu cho tới việc trình bày kết quả cuối cùng và thảo luận về giải pháp.” Còn theo Greenwood và Levin (1998: 5-7), nghiên cứu
1 Trong báo cáo này, những trích dẫn từ các tác phẩm nước ngoài do nhóm tác giả dịch sang tiếng Việt
Trang 98
hành động, dù có chữ “tham gia” trong tên gọi của nó hay không, là sự kết hợp của ba yếu tố: hành động, nghiên cứu và tham gia, với mục tiêu tạo ra những kiến thức làm nền tảng cho việc phân tích và thay đổi xã hội một cách dân chủ Thông qua quá trình này, những người tham gia nghiên cứu cũng sẽ được nâng cao năng lực để kiểm soát tốt hơn vận mệnh của mình Như vậy, đúng như Fals Borda và Rahman (1991: 3) nhận xét, nghiên cứu hành động tham gia bao trùm
cả ba thành tố là nghiên cứu, giáo dục và hành động chính trị - xã hội
Ít gặp hơn nghiên cứu hành động tham gia hay nghiên cứu hành động là thuật ngữ “nghiên cứu tham gia dựa vào cộng đồng” Nghiên cứu tham gia dựa vào cộng đồng được Israel và cộng sự (2005: 5) định nghĩa là một cách tiếp cận trong nghiên cứu, theo đó “các thành viên của cộng đồng, đại diện các tổ chức và các nhà nghiên cứu tham gia một cách bình đẳng trong tất cả các khía cạnh của quá trình nghiên cứu, cùng nhau đóng góp năng lực chuyên môn, ra quyết định và sở hữu bản quyền.”
Như vậy, dù mang những tên gọi khác nhau, nhưng các cách tiếp cận này đều dựa trên một nền tảng cơ bản: đó là sự bình đẳng trong việc tạo ra, sử dụng và sở hữu kiến thức giữa nhà nghiên cứu bên ngoài và các thành viên của cộng đồng được nghiên cứu Trong quá trình này, tiếng nói và quan điểm của tất cả các bên đều được tôn trọng như nhau Việc các bên liên tục tương tác, chia sẻ và phối hợp trong nghiên cứu không chỉ giúp khai thác tối đa các nguồn lực vô hình (ý tưởng, kiến thức, mối quan hệ) và hữu hình (cơ sở vật chất, kỹ thuật), mà còn tạo ra rất nhiều cơ hội nâng cao năng lực cho những người tham gia Hơn nữa, nó cũng giúp nâng quyền và vị thế của người dân tham gia nghiên cứu, đặc biệt là những người thuộc các nhóm thiểu số, thiệt thòi trong xã hội
Trong nghiên cứu thông thường, đối tượng nghiên cứu (người dân) giữ vị trí thụ động và lệ thuộc vào nhà nghiên cứu Họ thường chỉ có nhiệm vụ cung cấp thông tin, thậm chí chỉ tuân theo yêu cầu của nhà nghiên cứu, chứ không
hề có quyền và vai trò trong quá trình phân tích và sử dụng thông tin Nhà nghiên cứu có toàn quyền phân tích và trình bày thông tin qua lăng kính của mình tới công chúng, giới truyền thông, học thuật hay các nhà hoạch định chính sách Nghiên cứu cùng cộng đồng (hay nghiên cứu hành động tham gia, nghiên cứu hành động, nghiên cứu tham gia dựa vào cộng đồng…) đặt mục tiêu xóa bỏ mối quan hệ bất cân xứng này thông qua việc thúc đẩy sự tham gia của người dân (Fals Borda và Rahman, 1991: 5) Đó là lý do tại sao người ta coi đây là cách tiếp cận dân chủ trong nghiên cứu Kiến thức được tạo ra một cách dân chủ sẽ là nền tảng vững chắc cho những can thiệp, chính sách dân chủ, mang lại lợi ích tối ưu cho người dân
Cộng đồng sẽ tham gia ở mức nào?
Khi dự án nghiên cứu cùng cộng đồng này ở trong giai đoạn khởi động,
chúng tôi luôn tự hỏi liệu cộng đồng sẽ hoặc có thể tham gia nghiên cứu ở mức
nào, hay nói cách khác, quyền lực nên được chia sẻ như thế nào giữa nhà nghiên cứu bên ngoài và cộng đồng Việc người dân chỉ tham gia vào dăm ba
Trang 109
thảo luận nhóm thì cũng là tham gia, nhưng như thế đâu có khác gì nghiên cứu truyền thống? Nếu người dân có quyền lựa chọn chủ đề nghiên cứu, điều gì sẽ xảy ra nếu họ chọn một chủ đề “không hay”, “không mang tính chất chiến lược”, hay không vừa ý chúng tôi? Nếu người dân tự tổ chức, điều hành và tham gia thảo luận nhóm, thì chúng tôi có được phát biểu ý kiến của mình không? Chúng tôi có nên ẩn mình một chút để họ có cơ hội nói và thực hành nhiều hơn không? Chúng tôi có sẵn sàng từ bỏ quyền lực của mình không? Mặc dù các định nghĩa về nghiên cứu tham gia hay nghiên cứu hành động đều khẳng định vị thế bình đẳng giữa các bên tham gia nghiên cứu, nhưng về mặt ngôn ngữ, từ “tham gia” không thể hiện được ý nghĩa ấy Đúng như băn khoăn của chúng tôi, việc người dân trả lời phỏng vấn sâu do nghiên cứu viên bên ngoài thực hiện cũng là tham gia vào nghiên cứu Pavlish và Pharris (2012: 6) đề xuất sử dụng từ “phối hợp” (collaboration), bởi từ này hàm chứa
quan hệ đối tác bình đẳng hơn Chúng tôi cũng quyết định gọi nghiên cứu của
mình là nghiên cứu cùng cộng đồng (collaborative research, co-research) Sự
lựa chọn thuật ngữ này thể hiện mục tiêu của chúng tôi trong việc thực hiện nghiên cứu một cách dân chủ nhất có thể Vì thế, câu hỏi ai là người quyết định chủ đề nghiên cứu đã có lời giải chắc chắn: chủ đề nghiên cứu sẽ do cộng đồng quyết định dựa trên những bằng chứng xác đáng về tính cấp thiết của nó
do các bên cùng nhau tìm kiếm và phân tích Nếu chủ đề ấy rất quan trọng với cộng đồng, nó chắc hẳn là một chủ đề hay Không có chính sách vĩ mô hay chiến lược nào lại không xuất phát từ những điều thiết thực, gần gũi nhất với đời sống của người dân, dù nó nhỏ bé và “tầm thường” đến mấy
Về những câu hỏi khác liên quan đến sự tham gia của cộng đồng và nhà nghiên cứu bên ngoài, chúng tôi sẽ để thực tế giải đáp Nghiên cứu cùng cộng đồng coi trọng sự nâng quyền, sáng kiến và thử nghiệm (Sagor, 1992, trích trong Pavlish và Pharris, 2012: 6) và cũng là một tiến trình dài hơi (Israel và cộng sự, 2005: 9), do đó, quá trình thực hiện nghiên cứu cùng cộng đồng của chúng tôi sẽ diễn ra một cách tự nhiên và thực dụng, miễn là nó không xa rời những nguyên tắc cơ bản đã đề cập ở trên
II Nhóm nghiên cứu địa phương
Chuyến đi thực địa tới Sa Pa để thành lập nhóm nghiên cứu địa phương được thực hiện vào tháng 9/2013, sau khi iSEE đã thảo luận trước và có được
sự đồng thuận, hỗ trợ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai2 và hai người dân đến từ địa bàn nghiên cứu là anh Má A Pho (thôn Má Tra, xã Sa Pả)
và anh Giàng A Của (thôn Giàng Tra, xã Tả Phìn) Với kinh nghiệm nhiều năm tham gia các dự án phát triển của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ, anh Pho, anh Của sẽ là người điều phối nhóm nghiên cứu địa phương, và là cầu nối giữa nhóm này với các nghiên cứu viên bên ngoài đến từ iSEE và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai
2 Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Lào Cai đồng ý hỗ trợ iSEE về mặt thủ tục hành chính (cấp giấy phép nghiên cứu, liên hệ với chính quyền địa phương), đồng thời cử hai nghiên cứu viên tham gia vào dự án này
Trang 1110
Một cuộc họp thôn được tổ chức tại mỗi thôn dưới sự điều phối của anh Pho, anh Của, với sự tham gia tự nguyện của gần 40 người dân, cả nam và nữ Người dân được nghe giới thiệu về dự án và những lợi ích có được khi tham gia nghiên cứu Bên cạnh những lợi ích như nâng cao năng lực bản thân, nâng cao kiến thức về cộng đồng, cơ hội tham gia vào truyền thông và vận động chính sách, các nghiên cứu viên cộng đồng sẽ được hưởng một khoản phụ cấp mỗi tháng làm việc tương đương 10 ngày công lao động tại địa phương Tuy nhiên, khoản phụ cấp này không được đề cập tới trong buổi họp thành lập nhóm nghiên cứu, bởi lợi ích tài chính có thể trở thành động cơ tham gia vào
dự án, chứ không phải tinh thần tình nguyện vì cộng đồng
Việc thành lập nhóm nghiên cứu địa phương (mỗi thôn 7 người)3 được thực hiện trên tinh thần tự nguyện, với điều kiện người tham gia phải nhiệt tình và có thể giao tiếp cơ bản bằng tiếng Kinh Dự án cũng khuyến khích sự tham gia của phụ nữ Cuối buổi họp, mỗi thôn đã chọn được nhóm nghiên cứu gồm 4 nam – 3 nữ Dù họ tự ứng cử hay được đề cử, sự tham gia của họ đều được cộng đồng nhất trí công nhận Các nghiên cứu viên sau đó đã ký thỏa thuận hợp tác với iSEE
Việc đưa ra tiêu chí lựa chọn người tham gia nghiên cứu "có thể giao tiếp bằng tiếng Kinh" là một hạn chế của nghiên cứu này Mặc dù những người dân bình thường cũng có thể biết tiếng Kinh, nhưng một khả năng lớn có thể xảy
ra là người biết tiếng Kinh nắm giữ vị thế, quyền lực lớn hơn ở cộng đồng Trên thực tế, trong nhóm nghiên cứu được bầu chọn có một số người là cán
bộ địa phương, như trưởng thôn, thanh tra, y tế thôn, cựu hội trưởng Hội Phụ
nữ, người làm công tác Mặt trận, và những người này cũng có xu hướng được người dân "tin tưởng" lựa chọn Việc vị thế và công việc của họ có thể ảnh hưởng như thế nào tới quá trình nghiên cứu cần được quan sát thêm để có thể có những điều chỉnh phù hợp Ví dụ, trong khi làm việc, chúng tôi nhận thấy hai người trong nhóm có xu hướng thực hiện những công việc họ vẫn
làm thường ngày, tức là tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, hơn là đi nghiên
cứu, đi hỏi người dân Có trường hợp do quá nhập tâm với nghiên cứu, có người lại đi chụp ảnh một số hoạt động ở cơ quan chính quyền, dẫn đến xung đột với một cán bộ ở đây Những tình huống như vậy đều được trao đổi cởi
mở giữa nghiên cứu viên địa phương và nghiên cứu viên bên ngoài để tìm giải pháp và cách ứng xử phù hợp
Tuy nhiên, việc cán bộ địa phương tham gia nghiên cứu cũng là một điều tích cực đối với dự án Một mặt, họ có thể cung cấp nhiều thông tin và có khả năng kết nối nhóm nghiên cứu với các cán bộ khác và người dân Mặt khác, những công việc liên quan đến dự án đã giúp họ hiểu hơn về cộng đồng của mình thông qua hình thức đối thoại, lắng nghe và tôn trọng quan điểm từ phía
người dân Bằng việc chuyển đổi vai trò từ cán bộ - tuyên truyền viên thành
3 Nhóm nghiên cứu thôn Má Tra, xã Sa Pả lựa chọn chủ đề nghiên cứu là những khó khăn của bà con trong việc chăn thả gia súc Kết quả nghiên cứu của nhóm được thể hiện trong một báo cáo khác Trong báo cáo này, chúng tôi chỉ thuật lại quá trình và kết quả nghiên cứu về nhu cầu học chữ Mông của thôn Giàng Tra
Trang 1211
nghiên cứu viên - người vận động chính sách, những người này đã được tiếp
cận và thực hành tính dân chủ trong học thuật cũng như trong đời sống chính trị của cộng đồng
Một hạn chế khác của nghiên cứu, đó là nhóm nghiên cứu bên ngoài không biết tiếng Mông Điều đó khiến chúng tôi gặp khó khăn trong việc giao tiếp và thấu hiểu cộng đồng Khi không có ngôn ngữ, việc tham gia và gắn bó với cộng đồng như một “người trong nhà” là điều rất khó thực hiện Tuy nhiên, sự thiếu sót này của nhóm nghiên cứu bên ngoài lại là cơ hội để khẳng định vai trò và năng lực của các nghiên cứu viên cộng đồng Trong nhiều trường hợp, nghiên cứu viên cộng đồng có thể khai thác những thông tin mà chúng tôi khó có thể khai thác được khi họ tự thực hiện phỏng vấn bằng tiếng
mẹ đẻ của mình
III Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này nhấn mạnh sự tham gia bình đẳng của nhóm nghiên cứu địa phương trong mọi khía cạnh của nghiên cứu, từ lựa chọn chủ đề cho tới thiết kế bảng hỏi và thực hiện phỏng vấn Vì đây là nghiên cứu trường hợp được tiến hành với quy mô nhỏ, chúng tôi chỉ áp dụng phương pháp định tính với công cụ chủ yếu là phỏng vấn sâu Việc thiết kế bảng hỏi chủ yếu do nghiên cứu viên bên ngoài thực hiện dựa trên những tìm hiểu sơ bộ về chủ đề nghiên cứu thông qua việc trò chuyện với nghiên cứu viên địa phương Nhóm nghiên cứu địa phương sau đó sẽ nhận xét và bổ sung để cho ra bảng hỏi cuối cùng Bảng hỏi được in và phát cho tất cả các nghiên cứu viên Với những người không biết chữ, chúng tôi đã đọc và giải thích cặn kẽ về nội dung và logic của bảng hỏi để giúp họ ghi nhớ Trên thực tế, có người nhớ được một phần, có người nhớ được toàn bộ bảng hỏi và đã thực hiện được những phỏng vấn có chất lượng
Ở công đoạn chọn mẫu, nghiên cứu viên bên ngoài đề xuất và giải thích những yêu cầu chọn mẫu như cỡ mẫu, tỷ lệ nam – nữ, tỷ lệ người già – người trẻ, việc bao gồm một số người như cán bộ địa phương, người theo đạo Tin Lành vào danh sách phỏng vấn Dựa vào đó, nghiên cứu viên địa phương cùng nhau lập danh sách và liên hệ mời phỏng vấn Các phỏng vấn sâu được tiến hành trong 3 đợt:
Đợt 1: Nghiên cứu viên địa phương tự đi phỏng vấn một số người trong thôn (3 người và một nhóm học sinh lớp 5) để có thông tin tổng quan
về chủ đề nghiên cứu
● Đợt 2: Sau khi hoàn thành bảng hỏi và thiết kế mẫu, nhóm nghiên cứu địa phương đã cùng nghiên cứu viên bên ngoài thực hiện phỏng vấn sâu với 16 thông tin viên Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 30 phút
và được thực hiện bởi một nghiên cứu viên địa phương và một nghiên cứu viên bên ngoài, trong đó nghiên cứu viên địa phương đóng vai trò phỏng vấn chính Nghiên cứu viên bên ngoài được phiên dịch lại nội dung phỏng vấn, và hỏi bổ sung những ý mình quan tâm Cuối mỗi buổi phỏng vấn, hai nghiên cứu viên thảo luận về kỹ năng phỏng vấn và
Trang 1312
những thông tin thu thập được, rút kinh nghiệm cho những lần phỏng
vấn sau Cuối đợt phỏng vấn, cả nhóm nghiên cứu cùng nhau tổng hợp
và trình bày lại các phát hiện của nghiên cứu, đồng thời xác định những
khía cạnh cần tìm hiểu sâu hơn dưới sự hướng dẫn của nghiên cứu viên
bên ngoài
● Đợt 3: Nghiên cứu viên địa phương chủ động phỏng vấn thêm 28 người,
tiếp tục bổ sung những thông tin chưa khai thác được trong đợt phỏng
vấn trước Với những kỹ năng phỏng vấn thu được từ đợt 2, lần này
nghiên cứu viên địa phương thực hiện được những phỏng vấn có chất
lượng tốt hơn với nhiều thông tin có giá trị
Sau 3 đợt, các nghiên cứu viên địa phương đã phỏng vấn được 48 người
với số lượng nam – nữ khá cân bằng nhau Độ tuổi trung bình của các thông
tin viên khá trẻ (24 tuổi), bởi nghiên cứu này tập trung vào lĩnh vực giáo dục
ngôn ngữ, vấn đề mà người trẻ (dưới 40 tuổi) quan tâm và cảm thấy cần thiết
hơn Vì nhu cầu học chữ Mông chủ yếu đến từ những người không theo đạo
(phần lớn những người theo đạo đã biết hoặc đang học chữ Mông quốc tế do
nhà thờ dạy), nên nghiên cứu cũng chú ý hơn đến những người dân không
theo đạo Tuy nhiên, để thu thập được đầy đủ thông tin, chúng tôi cũng phỏng
vấn một số người theo đạo Tin Lành, người làm việc trong nhà thờ, cán bộ xã,
và học sinh (xem Bảng 1) Riêng nghiên cứu viên bên ngoài đã tiến hành
phỏng vấn 6 cán bộ cấp tỉnh ở thành phố Lào Cai
Bảng 1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
do nghiên cứu viên địa phương phỏng vấn
Tuổi trung bình 24 (8-75 tuổi)
Nghề nghiệp Làm ruộng, học sinh, cán bộ xã (3 người), người
làm việc trong nhà thờ Tin Lành Tôn giáo, tín ngưỡng Tin Lành (6 người), tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Mông (42 người)
Đáng lưu ý, nghiên cứu viên cộng đồng cũng tham gia vào việc phỏng vấn
cán bộ địa phương Một lần, nhóm nghiên cứu cộng đồng (anh Giàng A Của,
chị Hạng Thị Sa, và chị Lý Thị Tùng) đã chủ động hẹn gặp một cơ quan chính
quyền cấp huyện để hỏi về việc dạy và học chữ Mông nhưng hầu như không
thu được thông tin gì, do cán bộ ở đây cho biết họ chỉ đồng ý tiếp cán bộ phụ
Trang 1413
trách dự án ở Hà Nội Mặc dù không thành công, nhưng việc chủ động tiếp cận cán bộ địa phương đã chứng minh sự nhiệt huyết và tự tin của các nghiên cứu viên cộng đồng Một lần khác, nhóm nghiên cứu cộng đồng đã giúp nghiên cứu viên bên ngoài liên hệ và hẹn gặp với cán bộ xã Tả Phìn Việc hẹn gặp lần này khá dễ dàng do những cán bộ xã này đều có quan hệ họ hàng hoặc quen biết với nghiên cứu viên cộng đồng Chúng tôi cũng gợi ý mọi người hẹn gặp những cán bộ mà họ cho là có tâm huyết và gần gũi với bà con để có thể mở ra những cơ hội hợp tác về sau Vì đề tài nghiên cứu liên quan đến chữ Mông, nên chúng tôi cũng ưu tiên tìm gặp cán bộ người Mông Cuối cùng, nhóm bao gồm 2 nghiên cứu viên bên ngoài và 2 nghiên cứu viên cộng đồng đã gặp và phỏng vấn được 3 cán bộ UBND xã Tả Phìn Sau lần phỏng vấn này, chúng tôi rút ra kinh nghiệm rằng trong thôn bản Mông, rất nhiều người có quan hệ họ hàng thân thiết với nhau, và sự quen biết này thực sự có ích trong việc kết nối, thúc đẩy sự tham gia của người dân và cán bộ
Phần lớn các phỏng vấn đều được ghi âm, chỉ có một số ít phỏng vấn được ghi chép trong sổ tay, hoặc ghi lại theo trí nhớ của người thực hiện phỏng vấn (do thông tin viên không đồng ý ghi âm, hoặc do phỏng vấn được thực hiện ngẫu nhiên, không có chủ định từ trước) Các file ghi âm phỏng vấn đợt 1 được nghiên cứu viên địa phương phiên dịch để nghiên cứu viên bên ngoài ghi lại trên máy tính Các file phỏng vấn đợt sau được phiên dịch và ghi lại bởi một sinh viên Mông hiện đang học tại Hà Nội
Sau mỗi đợt phỏng vấn, tất cả các nghiên cứu viên đều thảo luận để tổng kết nội dung, và rút ra những phát hiện, kết luận của nghiên cứu Đây cũng là lúc để các nghiên cứu viên địa phương kiểm chứng giả thiết ban đầu Ví dụ, trước khi thực hiện nghiên cứu, họ cho rằng phần lớn người dân trong thôn muốn học chữ Mông Việt Nam, nhưng sau các đợt phỏng vấn, họ hiểu rằng phần lớn mọi người hầu như không quan tâm tới chữ Mông Việt Nam mà chỉ muốn học chữ Mông quốc tế, và việc học chữ Mông quốc tế không nhất thiết liên quan tới đạo Tin Lành Với nhận thức mới này, các nghiên cứu viên địa phương tự thực hiện một phim phóng sự ngắn bằng tiếng Mông để báo cáo kết quả nghiên cứu của mình4 Bên cạnh đó, các phần giải băng cũng được mã hóa và phân tích bởi nghiên cứu viên bên ngoài, nhằm phục vụ cho việc báo cáo kết quả nghiên cứu dưới dạng văn bản
Trong khi thực hiện phỏng vấn sâu, các nghiên cứu viên cũng thực hiện một số hoạt động quan sát và tìm hiểu như tham dự lớp dạy chữ Mông cho trẻ
em ở nhà thờ Tả Phìn, cùng người dân xem đĩa nhạc có phụ đề chữ Mông quốc
tế, và học chữ Mông Việt Nam từ những người già ở địa phương còn nhớ loại chữ này Đặc biệt, công việc nghiên cứu giúp các nghiên cứu viên cộng đồng xác định rõ những người có khả năng dạy chữ Mông quốc tế, chữ Mông Việt Nam và những cán bộ tâm huyết ở địa phương mà họ có thể tiếp cận để tìm sự ủng hộ sau này
4 Phim phóng sự “Chữ Mông cho người Mông” có thể được xem tại địa chỉ:
https://www.youtube.com/watch?v=NoqYL1WvAsk
Trang 1514
Ảnh 1: Chị Hạng Thị Sa (ngoài cùng bên phải) đang phỏng vấn một người dân trong thôn về nhu cầu học chữ Mông
Ảnh 2: Nhóm nghiên cứu thôn Giàng Tra cùng nhau tổng hợp
các phát hiện sau khi thực hiện phỏng vấn.
Trang 1615
Ảnh 3: Nhóm nghiên cứu địa phương được hướng dẫn sử dụng
máy quay phim để làm phim phóng sự báo cáo kết quả nghiên cứu
Ảnh 4: Lớp học chữ Mông quốc tế do cộng đồng
tự tổ chức tại thôn Giàng Tra, xã Tả Phìn, Sa Pa (2014)
Trang 1716
Ảnh 5: Họp tổng kết, đánh giá dự án nghiên cứu cùng cộng đồng.
C Kết quả nghiên cứu
I Niềm khát khao được học chữ
Hầu hết tất cả những người được hỏi đều thể hiện sự khát khao được học chữ Mông, dù đó là chữ Mông Bác Hồ hay chữ Mông quốc tế Đặc biệt với những phụ nữ chưa từng đi học, họ cảm nhận rõ cái bất lợi của việc không biết đọc, biết viết Mong muốn của họ xuất phát trước tiên từ những hình
dung về lợi ích thực tế mà cái chữ mang lại Một lợi ích mà hầu như tất cả các
thông tin viên đều nhắc đến, đó là việc biết chữ để lưu lại những phong tục tập quán của người Mông: con trai viết lại những bài khèn, bài cúng, cách làm cái cày, cái cuốc; con gái viết lại cách làm váy áo Đáng lưu ý, việc ghi lại phong tục tập quán chỉ có thể được thực hiện chính xác bằng tiếng mẹ đẻ của họ, tức là chữ Mông, chứ không phải chữ phổ thông
“Dùng chữ Mông để viết lại các bài hát, bài nhạc, điệu nhảy trong các dịp đám cưới, nói về tình cảm nam nữ, lứa đôi yêu nhau, trong các đám tang,
ma chay… để lưu truyền lại cho con cháu cũng là một điều rất tốt Ngoài
ra cũng là để viết lại trình tự, các bước khâu váy áo, cắt may vải ra làm sao để để lại cho muôn đời sau, sao cho mỗi bước đi, mỗi việc làm đều đúng và chuẩn mực theo văn hóa truyền thống.” (Lù Thị A., 31 tuổi)5
5 Tất cả những câu trích dẫn phỏng vấn trong báo cáo này đều được dịch ra từ tiếng Mông
Trang 1817
Người dân cũng cho biết họ muốn học chữ để biết cách làm ăn, tính toán (nếu không biết chữ thì không làm ăn xa được), để lên mạng tra cứu thông tin, đọc sách báo, để nhắn tin, viết thư giao lưu với người Mông ở khắp nơi, để xem được phim, ca nhạc có phụ đề chữ Mông, hát karaoke, để hiểu biết pháp luật, chính sách, và để hiểu biết hơn về cuộc sống, biết phân biệt đúng sai Bên cạnh những lợi ích thực tế, những giá trị tinh thần liên quan đến việc biết chữ Mông cũng có tầm quan trọng không kém Đối với nhiều người dân, chữ Mông là một phần của căn tính (identity) dân tộc Mông, và sự vắng mặt của thành tố này dẫn đến sự bối rối khi nói đến lòng tự tôn dân tộc:
“Mình là người Mông mà lại không biết chữ Mông thì cũng ngại lắm.” (Giàng A K., 32 tuổi)
Nhiều người cũng khẳng định rằng việc biết chữ sẽ giúp họ tự tin và chủ động hơn khi giao tiếp
“Để đi xa đây đó thì người ta không bắt nạt được mình Khi không biết chữ thì người ta dọa tí là sợ, nhưng khi đã biết rồi thì người ta có nói gì mình cũng không sợ nữa.” (Giàng A T., 31 tuổi)
“Để mình không thua kém những người khác.” (Giàng Thị P., 30 tuổi)
“Biết thì người ta cũng nể phục, tôn trọng mình hơn Đi đâu cũng tự tin
và ngẩng cao đầu.” (Hạng Thị L., 24 tuổi)
Rõ ràng, hình dung về sự tự tin có được khi biết đọc, biết viết cũng gắn liền với nỗi sợ, sự hổ thẹn và cảm giác thua kém Những cảm xúc tiêu cực này được thể hiện cởi mở và chân thực hơn trong những phỏng vấn do nghiên cứu viên địa phương tự thực hiện Điều đó chứng minh rằng chỉ người của cộng đồng mới có thể thấu hiểu và lắng nghe được những tâm sự chất chứa của cộng đồng
“Tôi mắng bố mẹ nhiều vì không được đi học đến nỗi mẹ tôi phải khóc và nói rằng đó là lỗi của bố, tại bố không cho đi học nên giờ con cái mới không biết chữ… Tôi cảm thấy ghen tỵ với những người có học, họ đi đến đâu cũng biết ăn nói, biết đọc biết viết nên cái gì cũng hiểu được, làm được, mình cảm thấy hổ thẹn và thua kém người ta nhiều lắm, như tôi chỉ biết được đúng tiếng mẹ đẻ thôi chứ ngoài ra không biết bất kỳ một thứ tiếng nào khác nữa, buồn lắm.” (Thào Thị G., 22 tuổi)
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mong muốn học chữ Mông lại đi liền với mong muốn học chữ phổ thông Mặc dù trong thâm tâm, ai cũng thích học chữ Mông vì đó mới đúng là chữ của người Mông và có thể giúp họ lưu giữ, khẳng định bản sắc dân tộc Mông, nhưng nhiều người thừa nhận vị thế thấp hơn của chữ Mông so với chữ phổ thông Hơn nữa, việc biết chữ phổ thông cũng có thể giúp họ dễ làm ăn, giao tiếp với người Kinh, tức là dân tộc đa số
“Tại vì người Mông mình không có chữ Mông nên nhà nước gọi đi học chữ phổ thông và chúng nó đi học hết rồi mà.” (Giàng A H., 34 tuổi)
Trang 19“Đặc biệt là người Mông họ có cái đặc tính là rất là ngại giao tiếp, đặc biệt
là phụ nữ, mình cứ tưởng họ không biết Nhiều khi đến ký nhận tiền cho con mà bảo điểm chỉ thì họ điểm ngay, nhưng mình bảo không ký, không cho tiền thì ký được ngay, nhiều khi là thế…” (Cán bộ, tỉnh Lào Cai) hoặc do “bây giờ xóa mù chữ đến tận 60 cơ, trước đây thì chỉ đến 25, 35 tuổi”, nên mới sinh ra nhiều người mù chữ hơn so với số liệu thống kê trước đây
II Chữ Mông Việt Nam: Hồi ức và tưởng tượng
Theo chính sách ngôn ngữ dân tộc của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,6 từ năm 1957 đến 1959, Phòng Nghiên cứu Xây dựng Văn tự dân tộc thiểu số của Bộ Giáo dục đã xây dựng bộ chữ Mông Việt Nam, lấy ngữ âm Mông Hoa vùng Sa Pa, tỉnh Lào Cai làm âm tiêu chuẩn Đến năm 1961, bộ chữ Mông này chính thức được ban hành và đưa vào sử dụng chính thức Theo Tài liệu bồi dưỡng tiếng Mông cho giáo viên tiểu học của Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai, “đầu năm 1962, đồng bào Mông ở các nơi đều rất phấn khởi, hồ hởi đón rước “Chữ của Đảng, chữ của Bác Hồ” Tiếp đó là phong trào học chữ, thanh toán nạn mù chữ bằng chữ Mông phát triển rầm rộ”
Hiện chưa có nguồn tài liệu nào miêu tả đầy đủ quá trình hình thành và phát triển của chữ Mông Việt Nam Phỏng vấn ở thôn Giàng Tra cho thấy ngoại trừ một số rất ít người lớn tuổi (khoảng 50, 60 tuổi trở lên) được học chữ Mông Việt Nam khi bộ chữ này mới ra đời, không có ai khác được học loại chữ này ở trường lớp Thực tế này khiến phần lớn người dân cho rằng chữ Mông Việt Nam đã “biến mất” Tuy nhiên, một cán bộ ở tỉnh Lào Cai cho rằng
“không có chuyện chữ Mông Việt Nam thoái trào hay biến mất” Thời điểm bộ chữ mới được ban hành, Nhà nước tất nhiên phải tuyên truyền mạnh mẽ để mọi người theo học, về sau thì không cần tuyên truyền như vậy nữa, nhưng chữ Mông Việt Nam vẫn được giảng dạy cho học sinh và cán bộ Đáng lưu ý là đối với giáo dục phổ thông, chữ Mông Việt Nam chỉ được dạy ở những địa bàn
6 “Đối với các dân tộc không có chữ riêng, sẽ nghiên cứu cách phiên âm tiếng nói của các dân tộc
Trang 2019
có 100% dân số là người Mông với chương trình thống nhất trên toàn quốc, còn ở những nơi đa dân tộc như thôn Giàng Tra (cả người Dao và người Mông) thì việc dạy tiếng Mông ở trong trường là không khả thi, nhất là khi mỗi điểm trường chỉ có vài chục học sinh
“…người ta không nói tiếng Việt thì chết dở, còn có sự giao thoa dân tộc, một em người Dao, một em người Tày nữa chẳng hạn… thì không dạy được, thích cũng không dạy được.” (Cán bộ, tỉnh Lào Cai)
Theo một số người dân biết chữ Mông Việt Nam ở địa bàn nghiên cứu, chữ Mông Việt Nam biến mất vì những lý do như người Mông đi tản cư trong chiến tranh biên giới 1979, hoặc vì nhà nước không cho phát triển nữa do sợ chữ Mông cạnh tranh với chữ phổ thông
“Anh tôi có năm chạy Tàu là 79, anh tôi đi làm bộ đội chống Tàu được hai năm, không thấy dạy chữ Mông từ đó đến bây giờ.” (Hạng A S., 52 tuổi, thôn Suối Hồ, xã Sa Pả)
“Ông Thào A P học chữ Mông của thầy Doãn Thanh được 15 ngày là đi dạy luôn Học cùng còn có 13 người nữa, một số qua đời hết rồi, thầy giáo cũng qua đời rồi Hồi ấy, năm 1966, ông học ở trường nội trú huyện, học xong về dạy ở Sa Pả 5 năm rồi lại chuyển về xã Tả Phìn… Trong thời gian ông dạy thì chạy Tàu Có người dọa là ai dạy chữ Mông thì bị bắt, ông sợ nên đốt hết bảng chữ cái Từ hồi đấy không ai dạy nữa.” (Phỏng vấn ông Thào A P., ghi theo lời kể của nghiên cứu viên Giàng A Của)
“Ông Châu A D đi học chữ Mông từ năm 64, 65 Thầy giáo là người Kinh, tên là Doãn Thanh, nhà sau cầu Kim Tân Có bốn hay năm học sinh được dạy cùng thời ông Ông thì không được dạy nhiều, ông tự lấy sách để xem, nghiên cứu thì tự biết Có hai học sinh của thầy Doãn Thanh là ông Trư và ông Dơ lúc đã ra trường, khi phụ nữ đàn ông Mông đi chợ thì hai người này đều viết chữ để chặn giữa đường, ai đọc được thì mới cho đi, không đọc được thì họ dạy cho đọc được rồi mới cho đi Sau này thì có người can
thiệp, không cho làm như thế nữa, nên bị giải tán Một số người biết chữ
Mông viết văn bản kiện cáo gửi xuống tỉnh nhưng tỉnh không đọc được,7 từ đấy tỉnh cắt chữ Mông, Phòng Giáo dục không biên soạn chữ Mông nữa Tỉnh sợ Chữ Mông với chữ phổ thông cạnh tranh nhau, theo ông nghĩ thế,
từ đấy chữ Mông mất.” (Phỏng vấn ông Châu A D., 60 tuổi, ở Sâu Chua, ghi theo lời kể của nghiên cứu viên Vàng A Vàng)
“Cho đến sau này vẫn có nhu cầu học và dạy nhưng không hiểu sao phòng giáo dục không còn triển khai nữa mà bỏ đi rồi.” (Hạng Thị X., 67 tuổi, Suối Thầu)
Cứ thế, chữ Mông Việt Nam, hay theo cách gọi của bà con là chữ Mông Bác
Hồ, dần trở thành một câu chuyện của quá khứ Điều này đã khắc sâu thêm sự tiếc nuối và mong ước khôi phục chữ Mông Bác Hồ của những người đã sống
7 Việc kiện cáo này là kiện cáo nói chung, không liên quan gì đến việc ông Trư, ông Dơ dạy chữ Mông Người kể không thạo tiếng Kinh nên kể chuyện bằng tiếng Kinh đôi khi không rõ ý
Trang 2120
trong thời kỳ “hoàng kim” của loại chữ này Với họ, chữ Mông Bác Hồ là một hoài niệm, là ký ức tươi đẹp mà họ đang cố níu giữ Sự yêu thích chữ Mông Việt Nam gắn liền với niềm tôn kính đối với Bác Hồ, và được coi là một trong những yếu tố làm nên căn tính (identity) của người Mông Việt Nam
“[Tôi thích học chữ Mông Việt Nam] để biết ngày xưa Bác Hồ dạy những gì… Tôi muốn học chữ Mông Việt Nam thôi, chữ mà Bác Hồ đã dạy cho, còn chữ Mông quốc tế ai theo đạo Tin Lành mới học thôi.” (Vàng A P., 56 tuổi, Giàng Tra)
“Tất nhiên thích chữ Bác Hồ hơn, bởi vì mình là người Việt Nam, sinh sống và lao động tại Việt Nam.” (Lù Thị A., 31 tuổi, Giàng Tra)
Ngay cả các nghiên cứu viên cộng đồng của thôn Giàng Tra cũng bắt đầu nghiên cứu của họ với khát khao được học chữ Mông Bác Hồ Ngay sau khi chủ đề nghiên cứu được xác định và thống nhất, nhóm nghiên cứu cộng đồng
đã gặp gỡ và phỏng vấn những người còn biết và nhớ chữ Mông Bác Hồ như ông Thào A P và ông Châu A D Họ cũng tin rằng phần lớn bà con trong thôn đều muốn học loại chữ này, vừa để biết chữ, vừa để khẳng định bản sắc, văn hóa truyền thống của người Mông Việt Nam trong sự tương phản với cộng đồng người Mông theo đạo Tin Lành – những người sử dụng chữ Mông quốc
tế và đã từ bỏ nhiều tập quán Mông Tuy nhiên, sau khi thực hiện gần 50 phỏng vấn với bà con ở thôn, các nghiên cứu viên cộng đồng mới nhận ra rằng phần lớn mọi người chỉ quan tâm đến chữ Mông quốc tế dù không theo đạo Tin Lành và khá thờ ơ với chữ Mông Việt Nam, chủ yếu vì lý do họ chưa bao giờ nhìn thấy loại chữ này
“Chữ Mông của Việt Nam ngày xưa thì không biết nó trông như thế nào nên không dám khẳng định là có học nó hay không.” (Hạng Thị L., 24 tuổi, Giàng Tra)
“Trong bản thì không có ai biết đâu, ở bên ngoài cũng chưa nghe thấy đồn bao giờ mà.” (Má Thị P., 40 tuổi)
Một số thanh niên cho rằng chữ Mông Việt Nam chỉ phù hợp với người già, nên họ cũng không quan tâm
“Chỉ có người già, người cao tuổi mới dùng chữ Mông Việt Nam mình thôi… Mình còn trẻ yêu đời nên chưa nhớ đến cái này (chữ Mông Việt Nam).” (Giàng A T., 24 tuổi)
“Chữ Mông Việt Nam là thời buổi ngày xưa được học thôi, bây giờ thì chắc không còn ai biết nữa, cũng không có ai dạy lại.” (Giàng Thị P., 27 tuổi) Đánh giá chữ Mông Việt Nam, những người ủng hộ loại chữ này cho biết
ưu điểm của chữ Mông Việt Nam là tính chính thống Chính thống vì “chữ Mông Việt Nam là chữ mà Bác Hồ đã dạy cho… còn chữ Mông quốc tế tuyên truyền lung tung nên không thích” (Giàng A D., 42 tuổi), và vì “học chữ Mông Việt Nam để có thể dịch ra từ tiếng phổ thông các văn bản, chính sách pháp luật, chủ trương của nhà nước” (Vàng A P., 56 tuổi) Có lẽ cũng vì tính chính
Trang 22Về nhược điểm của chữ Mông Việt Nam, phần lớn những người trả lời chưa từng nhìn thấy loại chữ này nên không thể đưa ra nhận xét, mà chỉ khẳng định rằng họ muốn học chữ Mông quốc tế Có người tuy chưa bao giờ thấy chữ Mông Việt Nam nhưng lại phỏng đoán rằng loại chữ này “khó nói, giọng khó nghe” vì “giọng của mình nặng, sợ theo giọng mình thì khó học” Anh Giàng A K (27 tuổi) và anh Giàng A T (22 tuổi) có biết đọc một chút chữ Mông Việt Nam thì nhận xét rằng loại chữ này khó viết vì “có dấu” và vì “có
nhiều từ (sic) ghép quá, ví dụ ntxh, có hẳn 4-5 từ (sic) ghép vào như vậy nên rất khó” Tuy nhiên, nhận xét này không đúng hoàn toàn vì ntxh là một phụ âm
trong chữ Mông quốc tế Có lẽ vì người trả lời không thạo cả hai loại chữ nên khó có thể đánh giá chính xác được Bên cạnh đó, một số người cho rằng nhược điểm của chữ Mông Việt Nam là sự không phổ biến, không hữu dụng, nếu có học cũng không biết để làm gì
“Bây giờ gần như cả nước người Mông chỉ sử dụng chữ Mông quốc tế chứ đâu có sử dụng chữ Mông Bác Hồ nữa.” (Lù Thị A., 31 tuổi)
Ngay như người già trước kia tham gia dạy và học chữ Mông Việt Nam cũng không rõ mục đích sử dụng của loại chữ này
“Không có mục đích, không có định hướng gì mà, mà cũng có học được bao nhiêu đâu mà biết là dùng để làm gì chứ… Thấy thầy cô giáo gọi đi học thì biết đi học thôi chứ học xong có biết là sử dụng để làm gì đâu.” (Giàng Thị M., 75 tuổi)
“Dạy được trong vòng 3 năm, 3 năm ở trường nội trú, dạy chữ Mông rồi sau đó tôi về lấy chồng, tôi dạy từ năm 79 ở đó, rồi năm 80 đến 83 chuyển
về đây Từ khi chuyển về đây thì không còn sử dụng chữ Mông nữa nên tôi không còn dạy nữa.” (Hạng Thị X., 67 tuổi)
Như vậy, những phỏng vấn sâu với người dân địa phương cho thấy sự thật rõ ràng là chữ Mông Việt Nam không phổ biến và hữu dụng Nó chỉ tồn tại trong ký ức của những người đã từng được học, hoặc trong hình dung mơ hồ của những người chưa bao giờ nhìn thấy Những ưu nhược điểm về mặt ngữ
âm học của chữ Mông Việt Nam cũng không được chỉ rõ; các đặc tính của chữ Mông Việt Nam hầu như chỉ được thể hiện qua một hình tượng trung gian, ví
dụ như chữ Mông Việt Nam là “chữ của Bác Hồ”, là “chữ của người Mông ở Việt Nam”, hay học chữ Mông Việt Nam thì mới được làm cán bộ
Trang 2322
III Chữ Mông quốc tế: Yêu thích và e ngại
Chữ Mông quốc tế8 (tên tiếng Anh là Romanized Popular Alphabet – RPA) được đồng sáng tạo bởi Tiến sĩ Linwood Barney (người Mỹ), Mục sư Yves Bertrais (người Pháp), và Tiến sĩ William Smalley (người Mỹ) khi các ông đang thực hiện công việc nghiên cứu và truyền đạo trong cộng đồng Mông ở Lào đầu những năm 1950 (Duffy, 2007, Yang, 1997) Khác với chữ Mông Việt Nam, chữ Mông quốc tế lấy ngữ âm Mông Trắng làm chuẩn Tiếng Mông Trắng được coi là tiếng “phổ thông” của người Mông, và người Mông dù thuộc nhóm nào cũng có thể nghe, hiểu được tiếng này Ngày nay, chữ Mông quốc tế được
sử dụng rộng rãi trong cộng đồng Mông ở Đông Nam Á (bao gồm cả Việt Nam), Trung Quốc và các nước có người Mông định cư (Smalley và cộng sự, 1990: 135-138), bên cạnh một số hệ chữ phổ biến khác như chữ Mông Pahawh và chữ Mông Pollard.9
Đầu thập kỷ 90, chữ Mông quốc tế vào Việt Nam qua con đường truyền đạo (Hờ Bá Hùa, 2014) Theo Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Thị Tâm (2013), Tin Lành CMA đã vào Lào Cai từ những năm 1930 nhưng không thành công,
và đến năm 1989 mới quay trở lại mạnh mẽ hơn Trong vòng hai thập kỷ kể
từ giữa những năm 1980, đã có tới 1/3 trong số 1 triệu người Mông ở Việt Nam cải đạo sang Tin Lành (Ngô Thị Thanh Tâm, 2010) Các nhà truyền giáo
in và truyền bá kinh thánh và sách thánh ca bằng chữ Mông quốc tế, nên đồng thời cũng tổ chức dạy loại chữ này cho giáo dân Bên cạnh đó, chữ Mông quốc
tế cũng xuất hiện rộng rãi trong phụ đề của những đĩa phim, nhạc của người Mông ở nước ngoài được bán trên thị trường tự do, vì thế những người Mông không theo đạo cũng dễ dàng tiếp cận và trở nên yêu thích, quen thuộc với loại chữ này
Đạo Tin Lành vào xã Tả Phìn từ năm 2005, và vì “Đảng và Nhà nước không có chính sách khuyến khích để phát triển” nên khi có nhiều người dân theo quá, xã đã “cử cán bộ công an, dân quân đến tận các hộ gia đình để tuyên truyền, vừa tuyên truyền vừa áp dụng các biện pháp mạnh, có thể áp giải những người cầm đầu xuống xã để hỏi, có một số trường hợp có thể đuổi đi không cho ở đây nữa.” Tuy nhiên, “khi sự việc đã trở nên căng thẳng thì xã cũng thống nhất cho một địa điểm cụ thể nào đó để làm nhà thờ và chỉ được phép thờ chứ không cho họp ở các gia đình khác Với các hoạt động mừng Chúa giáng sinh… thì xã cũng tham gia giao lưu cùng chứ không ngăn chặn như ngày xưa… Bây giờ cho phép hoạt động nhưng không tạo điều kiện để phát triển.” (phỏng vấn một cán bộ xã)
Xã Tả Phìn có trên dưới 500 hộ, trong đó có 71 hộ tương ứng với 373 nhân khẩu theo đạo (số liệu do UBND Xã Tả Phìn cung cấp) Hầu hết những người theo đạo, nhất là thanh niên, đều biết chút ít hoặc thành thạo chữ Mông
8 Chữ Mông RPA chưa có tên gọi thống nhất tại Việt Nam Các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học và người dân gọi loại chữ này bằng những tên gọi khác nhau như chữ Mông quốc
tế, chữ Mông khu vực, chữ Mông nước ngoài, chữ Mông Mỹ, chữ Mông Thái, chữ Mông Latin
9 Thế giới có tới hơn 10 hệ chữ Mông khác nhau, trong đó 3 loại chữ kể trên là phổ biến nhất Xem Phụ lục 2 Một số hệ chữ Mông* và http://www.hmonglanguage.net/index.html
Trang 2423
quốc tế, thông qua việc học Kinh thánh và hát thánh ca bằng tiếng Mông Ông Vàng A S (45 tuổi), một trong những người học đạo đầu tiên ở Giàng Tra, cho biết sách Tin lành viết bằng chữ Mông mà giáo dân được học là do một mục sư nước ngoài mang tới và truyền dạy cho mọi người Về sau, mục sư Chang A Cang ở Tả Phìn đã học thành thạo chữ Mông quốc tế, và hiện là người dạy chính cho giáo dân ở đây Ngoài ra, những nhóm trưởng trong cộng đồng giáo dân cũng tham gia dạy chữ ở cấp độ cơ bản (Giàng A K.)
Một số giáo dân nhìn nhận việc dạy và học chữ Mông quốc tế trong cộng đồng mình như một quá trình học tập bình thường, tuy nhiên cũng có người nhìn nó dưới khía cạnh tâm linh
“Mình tự cầu nguyện theo suy nghĩ của mình thì mình biết hết thôi mà Chúa bảo là theo Chúa thì Chúa để cho trong tim mình hết rồi.” (Châu Thị D., 26 tuổi)
“Những loại chữ đó đều là do mục sư đó cho cả, nếu mà muốn học để biết thì phải viết ra giấy rồi học thì mới biết Nếu đã theo đạo thì kể cả là mình
mù không biết chữ nhưng mà người ta dạy cho hát thì cũng hát theo được
mà Thấy bảo dưới kia có một người mặc dù mù nhưng đi theo đạo và khi
mà anh ta sờ vào những dòng chữ trên trang giấy đó thì biết đó là chữ gì đấy10.” (Hạng Thị L.)
Như vậy, đối với nhiều người, đặc biệt là giáo dân, chữ Mông quốc tế gắn liền với đạo Tin Lành Do đó, giáo dân có xu hướng đồng nhất lợi ích của việc học chữ với lợi ích của việc học đạo
“Chữ Mông quốc tế thì học hay hơn, nó dạy cho cuộc sống thương yêu, đùm bọc nhau, dạy cho cách sống, cách thương người.” (Hạng Thị L.,
22 tuổi)
“Khi theo đạo rồi, học chữ rồi thì bỏ cúng bái, thờ ma, thờ tổ tiên nên không có bệnh tật như xưa.” (Châu Thị L., 38 tuổi)
Trong khi đó, những người không theo đạo thường tự học chữ Mông quốc
tế bằng cách xem đĩa nhạc, phim tiếng Mông có phụ đề chữ Mông quốc tế Những đĩa nhạc, phim này thường mang nội dung giáo dục, giải trí lành mạnh, phản ánh phong tục tập quán của đồng bào Mông Vì tự học qua đĩa, phần lớn người dân chỉ học được những từ cơ bản thường xuất hiện trên phim ảnh
“Không có ai dạy nên không thành thạo đâu, chỉ được những từ thông dụng thôi Ví dụ, anh thích em, anh nhớ em, yêu em, em sống ra sao, khỏe không?” (Lù Thị A.)
Với vốn chữ Mông tự học được, những thanh niên không theo đạo đã có thể lên mạng tìm thông tin, phim, nhạc, hay đăng những dòng cảm xúc
10 Có lẽ người trả lời muốn nói đến chữ nổi Braille