A. LỜI MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG 2 I. Khái quát chung về sáng chế và bảo hộ sáng chế: 2 1. Khái niệm sáng chế: 2 2. Vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế: 3 II. Điều kiện bảo hộ sáng chế: 5 1. Tính mới: 5 2. Có trình độ sáng tạo: 7 3. Có khả năng áp dụng công nghệ: 9 III. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế: 10 III. Liên hệ thực tiễn: 13 1. Những tác động tiêu cực có thể nảy sinh từ hệ thống bảo hộ sáng chế: 13 2. Thực trạng hiện nay: 14 3. Kiến nghị để cân bằng lợi ích: 15 C. KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng theo đó
mà nâng cao hơn Nhờ vào sự phát triển của khoa học – kỹ thuật mà các nhu cầu
đó không những trở thành sự sáng tạo đơn thuần của con người mà còn trở thành
bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất có tầm ảnh hưởng quyết định đến năngsuất Tuy nhiên, sản phẩm của khoa học – kỹ thuật không giống như những vậtphẩm của con người là hữu hình và dễ kiểm soát, chúng vô hình và cũng chính
vì thế mà người tạo ra chúng khó kiểm soát được một cách tối đa hay nói cáchkhác là khó có thể chiếm hữu cho riêng mình mà chúng rất dễ bị lợi dụng vàchiếm đoạt Trong đó sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng và phổbiến nhất Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trìnhnhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy định của tựnhiên Chính vì tầm quan trọng của sáng chế mà hơn bao giờ hết các sáng chếcần được Nhà nước bảo hộ để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sởhữu sáng chế Vậy những sáng chế nào sẽ được Nhà nước bảo hộ như thế nào?Hay những sáng chế nào không được bảo hộ? Thực trạng bảo hộ sáng chế hiệnnay như thế nào?
Để làm rõ hơn những vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Điều kiện bảo hộ
đối với sáng chế theo quy định Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và một số kiến nghị” để trả lời cho những câu hỏi trên Trong
bài làm sẽ không tránh được những sai sót nhất định, mong thầy cô góp ý để bàilàm của em thêm phần hoàn thiện hơn
1
Trang 2Tầm quan trọng bậc nhất của bảo hộ sáng chế dẫn đến việc thực tế là cácđiều khoản sáng chế trong Hiệp định TRIPs luôn là tâm điểm của sự tranh chấp.
Sự khác biệt quá lớn trong quan điểm về bảo hộ sáng chế giữa các quốc gia dẫnđến Hiệp định TRIPs không đưa ra được định nghĩa sáng chế Tại Điều 27 Hiệpđịnh TRIPs, điều luật đầu tiên quy định về sáng chế, Hiệp định TRIPs chủ yếu
đề cập ba tiêu chuẩn là tính mới, thể hiện bước tiến sáng tạo và khả năng ápdụng công nghiệp của sáng chế
Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia đưa ra khái niệm sáng chế (Nhật,Meehico, ) được quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
(sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” Với định nghĩa này Việt Nam không chỉ bảo đảm yêu cầu bảo hộ mọi sáng chế bất kể “dưới dạng sản phẩm hay quy trình”
nêu tại Điều 27 Hiệp định TRIPs mà còn dường như qua đó thể hiện cách tiếpcận nghiêng về quan điểm không bảo hộ độc quyền sáng chế cho tính năng sử
1 Xem thêm: Chstopher Arup, The World Trade Organization Knowledge Agreements, Second
Edition, Cambridge University Press, Cambridge, 2008, 299-315.
2 Xem thêm: Stephen A.Merrill, Paten System for the 21 st century, National Academy Press,
Washington, 2004.
2
Trang 3dụng mới của một sản phẩm đã biết hoặc một sản phẩm được sản xuất theo sángchế đang được bảo hộ (new use of a known product or a patented product), đặcbiệt khi thực tế thường không thể chứng minh tính năng mới của sản phẩm trongcác trường hợp này đáp ứng điều kiện tính mới và trình độ sáng tạo để có thểcấp bằng sáng chế độc quyền.3
2 Vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế:
Sáng chế phải là một giải pháp kỹ thuật, hay nói cách khác phải thuộc mộthoặc một số lĩnh vực kỹ thuật nhất định, tuy nhiên người tạo ra sáng chế khôngđòi hỏi phải được đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, do vậy cho dù bạnkhông phải là một kỹ sư bạn vẫn có thể tạo ra một sáng chế nào đó nhằm phục
vụ điều mà bạn mong muốn, ví dụ công việc của bạn là trồng lúa và sau mộtkhoảng thời gian vật lộn với nắng mưa bạn nhận ra rằng nếu tiếp tục làm theocách thông thường của công đoạn gieo hạt thì sẽ mất rất nhiều thời gian, vì vậybạn đã nghĩ ra việc chế tạo một cái máy gieo hạt để thay thế mình làm công việcnày; sau khi hoàn thành việc chế tạo và đưa vào sử dụng, máy gieo hạt đã giúpbạn rút ngắn thời gian gieo hạt xuống mức đáng kể, hay nói cách khác bạn đãthành công trong việc tạo ra một sáng chế
Việc tạo ra một sáng chế không đơn giản, nó đòi hỏi phải bỏ ra một khốilượng thời gian, công sức và tiền bạc đáng kể, tuy nhiên việc bắt chước sau đólại quá dễ dàng, do vậy ngay sau khi tạo ra thành công một sáng chế việc phảilàm tiếp theo là xác lập quyền sở hữu trí tuệ cho sáng chế đó, việc làm này sẽgiúp người tạo ra sáng chế có thể nhận được sự công nhận và bảo hộ của nhànước, nhờ vậy mà chủ sở hữu sáng chế có thể khai thác và thu được lợi ích từsáng chế của mình thông qua việc khai thác công dụng hoặc trực tiếp sản xuấtsản phẩm được sản xuất theo sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế đócho người khác
3 Nội dung đã nêu cũng là vấn đề được bỏ ngỏ trong quy định của Hiệp định TRIPs nêu về nguyên tắc thành viên có quyền tự quyết định có ghi nhận về chúng trong luật của mình hay không và cách tiếp cận vấn đề này giữa các thành viên tương đối khác biệt Xem thêm: UNCTAD & ICTSD, Resource book on TRIPs and Development, Cambridge University Press, Cambridge, 2005, 356-367.
3
Trang 4Tóm lại có thể hiểu bảo hộ sáng chế là việc Nhà nước thông qua hệ thốngpháp luật, xác lập quyền của các chủ thể đối với sáng chế và bảo vệ quyền đóchống lại những hành vi xâm phạm của chủ thể khác.
Việc bảo hộ sáng chế có lịch sử rất lâu đời, từ khoảng thế kỉ XVII – XVIIItại châu Âu sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất để bảo hộnhững sáng tạo, những phát minh mới Việc bảo hộ sáng chế không chỉ đem lạilợi ích cho chủ sở hữu sáng chế mà còn mang lại lợi ích cho cả xã hội Việc bảo
hộ sáng chế có một số vai trò tiêu biểu như:
Một là, thúc đẩy sự đổi mới Hệ thống bảo hộ sáng chế giúp giảm bớt rủi ro
đến từ những hành vi "ăn cắp" công nghệ đó và đồng thời khuyến khích cácdoanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đưa ra các quyết định đầu tư cho phát triển côngnghệ mới
Hai là, thúc đẩy việc công bố các công nghệ mới Đơn sáng chế hoặc bằng
độc quyền sáng chế và toàn bộ các tài liệu liên quan sẽ được công bố sau nhữngthời hạn nhất định (trừ sáng chế mật) Do vậy, tất cả mọi người đều có cơ hộitiếp cận các giải pháp công nghệ được đề cập trong các đơn hoặc bằng độcquyền sáng chế đó
Ba là, hạn chế việc bảo hộ các giải pháp kỹ thuật dưới dạng bí mật Nếu
không có luật sáng chế thì sẽ xuất hiện xu hướng là các thành quả sáng tạothường được giữ bí mật để tránh bị sao chép Tuy nhiên, luật bảo hộ bí mậtthương mại có những hạn chế nhất định Do vậy, hệ thống sáng chế mang lạihình thức bảo hộ ưa thích hơn cho các nhà sáng chế
Bốn là, thúc đẩy cạnh tranh Cuộc đua sáng chế sẽ tạo ra cho thị trường
hàng loạt các sản phẩm thay thế để xã hội có thể lựa chọn Hệ thống bảo hộ sángchế mang lại lợi ích cho xã hội ở cả việc thúc đẩy giảm giá và thúc đẩy liên tụctạo ra các công nghệ và sản phẩm mới
4
Trang 5Năm là, khuyến khích và thu hút sự đầu tư của tư nhân vào hoạt động
nghiên cứu và phát triển Khả năng có được phần thưởng là độc quyền được cấpcho các sáng tạo mới có ý nghĩa như một cục nam châm để thu hút đầu tư vốn từkhu vực tư nhân Tiềm năng kinh tế mang lại từ độc quyền sáng chế khuyếnkhích việc đầu tư vốn cho cả lĩnh vực nghiên cứu triển khai và sản xuất vàthương mại các công nghệ mới
Sáu là, công nhận quyền tư hữu về tài sản trí tuệ Việc pháp luật công nhận
và coi quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản cho phép tài sản này có thể đượcchuyển giao, để thừa kế v.v Điều này cũng đặc biệt quan trọng trong hoạt độngkinh tế hiện nay khi tài sản trí tuệ được sử dụng làm đối tượng cho một quan hệbảo đảm về tài chính như thế chấp hay cầm cố
II Điều kiện bảo hộ sáng chế:
Theo Điều 27 Hiệp định TRIPs thì: “Bằng sáng chế có thể được cấp cho bất cứ sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó là mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng
áp dụng công nghiệp” Tại Việt Nam, điều kiện bảo hộ sáng chế được quy định
tại Khoản 1 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
thì “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: có tính mới, có trình độ sáng tạo có khả năng áp dụng công nghiệp”
5
Trang 6Sáng chế nêu trong đơn yêu cầu cấp bằng văn bản bảo hộ sáng chế khôngtrùng với giải pháp được mô tả trong đơn yêu cầu cấp văn bằng sáng chế đãđược nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn.
Trước ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế chưa bịbộc lộ công khai ở trong và ngoài nước dưới hình thức sử dụng mô tả trong bất
kì nguồn thông tin nào dưới đây tới mức mà căn cứ vào đó người có trình độtrung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện giải pháp đó gồm:
Thứ nhất, các nguồn thông tin liên quan đến sáng chế ở nước ngoài, tính từ
ngày công bố bao gồm các nguồn thông tin với bất kì vật mang tin nào (ấnphẩm, phim ảnh, băng đĩa, ) tính từ ngày công bố tin, vật mang tin bắt đầuđược lưu hành
Thứ hai, các nguồn thông tin đại chúng: Các báo cáo khoa học, các bài
giảng, nếu được ghi lại bằng bất cứ phương tiện nào tính từ ngày báo cáo hoặcgiảng bài, các triển lãm tính từ ngày hiện vật được trưng bày
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì pháp luật còn quy định các trường hợp nhằmloại trừ khả năng làm mất tính mới của sáng chế như:
Một là, sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu sáng chế bị người khác
do được biết thông tin đó tự ý công bố nhưng không được phép của người nộpđơn và ngày người đó công bố nằm trong thời hạn 06 tháng trước ngày nộp đơnyêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ sáng chế;
Hai là, sáng chế được người có quyền đăng kí theo quy định của pháp luật
công bố dưới dạng báo cáo khoa học trong thời hạn 06 tháng trước ngày nộpđơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế;
Ba là, sáng chế được người có quyền đăng kí theo quy định của pháp luật
trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc
tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức trong thời hạn 06 tháng trướcngày nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế
6
Trang 7Một thông tin chưa bị coi là bộc lộ công khai nếu chỉ có một số lượngngười xác định có liên quan được biết đến thông tin đó Những người có liênquan có thể được hiểu là những người cùng tham gia vào quá trình để tạo ra giảipháp kĩ thuật đó hoặc là những người đã cung cấp tư liệu hay đã có những giúp
đỡ nhất định để chủ văn bằng tạo ra sáng chế đó Số lượng những người nắmđược thông tin về sáng chế này nằm trong sự kiểm soát của chủ sáng chế hay nóicách khác chủ sáng chế biết rõ về những người này và cũng biết rõ họ đã nắmđược các thông tin gì liên quan đến sáng chế và mức độ đến đâu
Như vậy, sự bộc lộ công khai trên toàn thế giới trước ngày nộp đơn đăng kísáng chế hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng kí là yếu tố quyết định sáng chế
đó có đáp ứng tiêu chuẩn về tính mới ở Việt Nam hay không4 Nội dung nàytrong Luật Sáng chế Việt Nam tương đồng với quy định tương ứng trong LuậtSáng chế của hầu hết các nước khác, nhưng khác biệt so với Luật Sáng chế củaHoa Kỳ, nơi sáng chế không bị coi mất đi tính mới nếu bộc lộ bên ngoài lãnhthổ Hoa Kỳ dưới hình thức phi văn bản, bao gồm việc sử dụng hoặc bán5
2 Có trình độ sáng tạo:
Chiếu theo chú thích tại Khoản 5 Điều 27 Hiệp định TRIPs thì “Trình độsáng tạo” có thể được mỗi thành viên coi là đồng nghĩa với thuật ngữ “khônghiển nhiên”
Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kĩthuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặcdưới bất kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộpđơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng kí sáng chế trong trường hợp đơn
4 Sự bộc lộ công khai sáng chế trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế luôn được gắn với khả năng đáp ứng tính tiêuchuẩn mới nhìn chung bắt nguồn từ cách tiếp cận xem việc cấp bằng độc quyền sáng chế là một quan hệ mang tính “khế ước” thể hiện sự “trao đổi cân bằng” giữa một bên là nhà nước, một bên là chủ sỡ hữu Do vậy, trường hợp chủ sỡ hữu sáng chế không đáp ứng yêu cầu bộc lộ một điều gì mới trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng , hậu quả chắc chắn là việc cấp bằng đọc quyền sáng chế trở nên không thể thwucj hiện được hoặc nếu đã thực hiện thì bằng độc quyền đó cũng có thể bị thu hồi hay hủy bỏ Xem thêm: UNCTAD & ICTSD, Resource book on TRIPs and Development, Cambridge University Press, Cambridge, 2005, 359.
5 Xem thêm: Carlos M,Correa Ittellectual Property Rights, the WTO and Developing Countries: The TRÍP Agreements and Policy Options, Zed Books, London, 2000, 58.
7
Trang 8đăng kí sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước sáng tạo,không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình vềlĩnh vực kĩ thuật tương ứng, vấn đề này được quy định rõ tại Điều 61 Luật Sởhữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kĩthuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặcdưới bất kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộpđơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đãng kí sáng chế trong trường hợp đơnđăng kí sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước sáng tạo,không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình vềlĩnh vực kĩ thuật tương ứng, vấn đề này được quy định rõ tại Điều 61 Luật Sởhữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)
Như vậy, sáng chế phải được tạo ra từ quá trình đầu tư sáng tạo nhất định,phải là thành quả của ý tưởng sáng tạo nổi trội, có thể nhận biết rõ ràng Giữatình trạng kĩ thuật đã được biết trước đó và sáng chế yêu cầu bảo hộ phải tạo rabước tiến sáng tạo rõ rệt và đó được coi là bản chất của sáng chế Hay theo cáchgiải thích của Hiệp định TRIPs về trình độ sáng tạo của sáng chế đó là tính
“không hiển nhiên” Dựa trên mặt bằng sáng tạo đã có, giải pháp kĩ thuật đókhông thể được tạo ra một cách quá dễ dàng đối với người có trình độ trung bìnhtrong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng, hơn thế chúng còn tạo ra bước tiến sáng tạovượt trội hơn hẳn so với các giải pháp kĩ thuật trước đây thì được coi là đáp ứngđược tiêu chí “không hiển nhiên”
Việc đánh giá tính sáng tạo của đối tượng yêu cầu bảo hộ so với các giảipháp đã biết được thực hiện theo các trình tự như: Vấn đề đặt ra, giải pháp chovấn đề này, kết quả thu được nhờ thực hiện giải pháp nêu trong đơn Nếu mộtchuyên gia trung bình mà có thể đặt vấn đề, giải quyết vấn đề theo cách thức đãnêu, cũng như có thể đảm bảo hiệu quả thu được nhờ giải pháp đó thì sáng chếkhông đáp ứng được tiêu chuẩn tính sáng tạo
8
Trang 9Về mặt thực tiễn, yêu cầu về tính mới và trình độ sáng tạo ở các nước đangphát triển nếu được đặt ra với tiêu chí quá cao sẽ tạo rào cản cho quá trình cáchtân, nhưng với tiêu chuẩn thấp sẽ dẫn đến tình trạng cản trở cạnh tranh chínhđáng khi bằng độc quyền được cấp một cách dễ dàng cho sáng chế nhỏ mọn,tầm thường6 Hơn nữa, thực tế trình độ kĩ thuật và công nghệ thường chưa cao ởcác nước đang phát triển, việc thẩm định có nhiều khó khăn cho các cơ quansáng chế, khi đó các cơ quan sáng chế có thể lựa chọn công nhận kết quả thẩmđịnh sáng chế có uy tín, ví dụ bộ ba Cơ quan Sáng chế Hoa kỳ (USPTO), Cơquan Sáng chế Liên hiệp châu Âu (EUPO), Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO)7.
3 Có khả năng áp dụng công nghệ:
Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu: a) Các thôngtin về bản chất của giải pháp cùng với chỉ dẫn về điều kiện kĩ thuật cần thiếtđược trình bày một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức cho phép người có trình độhiểu biết trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng có thể tạo ra, sản xuất rahoặc có thể sử dụng, khai thác hoặc tiến hành được giải pháp đó; b) Việc tạo ra,sản xuất ra, sử dụng, khai thác hoặc tiến hành giải pháp đó có thể được lặp đi lặplại với kết quả giống nhau và giống với kết quả được nêu trong đơn Đây là đặcđiểm khác biệt giữa sáng chế với phát minh khoa học Phát minh khoa học đượcquy định trong Hiệp định Giơnevơ (1978) là sự phát hiện ra những hiện tượng,những tính chất hoặc quy luật của thế giới vật chất mà trước đó chưa được pháthiện và có khả năng xác minh được Các phát minh khoa học chủ yếu thể hiệndưới góc độ lí thuyết chưa thể hiện khả năng áp dụng chúng vào thực tiễn trongcác lĩnh vực kinh tế – xã hội và do đó không được bảo hộ theo pháp luật về sởhữu công nghiệp Trong Hiệp định TRIPs cũng giải thích đặc điểm thứ ba củasáng chế là “khả năng áp dụng công nghiệp” có thể giải thích đồng nghĩa vớithuật ngữ “hữu ích”
6 Xem thêm: UNCTAD & ICTSD, Resource book on TRIPs and Development, Cambridge University Press, Cambridge, 2005, 360.
7 Xem thêm: Peter Drahos, Trust Me; Patent Office in Developing Countries.
9
Trang 10Về tiêu chuẩn cuối cùng này được quy định tại Điều 62 Luật Sở hữu trí tuệnăm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì một sáng chế được xem có khả năng
áp dụng công nghiệp của sáng chế nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sảnxuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung củasáng chế và thu được kết quả ổn định8 Quy định này góp phần giải thích tại saokhác với một số quốc gia như Hoa Kỳ, ở Việt Nam, phương pháp kinh doanh vànhiều phương pháp khác được xác định không thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế,trình bày tại các trường hợp không được bảo hộ9
Tóm lại, theo quy định của pháp luật thì bất kì giải pháp kĩ thuật nào đápứng được ba điều kiện: Tính mới, trình độ sáng tạo và tính hữu ích thì đều có thểcấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế Tuy nhiên, sáng chế nếu không đápứng được tiêu chí về trình độ sáng tạo nhưng không phải là hiểu biết thôngthường, có tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp thì cũng sẽ được bảo hộdưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích được nêu rõ trong Khoản 2Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)
III Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trítuệ (TRIPS) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo hộ và thực thi quyền
sở hữu trí tuệ đối với các thành viên WTO và một thỏa thuận đa phương và toàndiện nhất về sở hữu trí tuệ cho đến thời điểm này Hiệp định TRIPs xác địnhmục tiêu việc bảo hộ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ là “góp phần thúc đẩyviệc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi íchchung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xãhội và lợi ích kinh tế, và tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ” Để thực hiệnmục tiêu này, Hiệp định cho phép các thành viên tự quyết các biện pháp cầnthiết, phù hợp với hoàn cảnh xã hội của mình để “bảo đảm vấn đề y tế và dinh
8 Điều kiện cấp bằng độc quyền sáng chế quy định tại các Điều 58, 60-62 Luật sỡ hữu trí tuệ được hướng dẫn cụ thể tại các Điểm 25.4, 25.5, 25.6 của Thông tư 01/2007
9 Ở Hoa Kỳ nhiều bằng độc quyền sáng chế đã được cấp cho các phương pháp kinh doanh và phương pháp khác
10