1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn luật kinh doanh bất động sản

16 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 127 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thứ hai, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có phạm vi tác động lớn Liên quan đến đặc trưng cơ cấu tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Trang 1

MỤC LỤC MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

2 Đặc điểm của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

3 Phân loại rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

4 Nguyên nhân của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ PHÒNG NGỪA RỦI RO

TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

1 Cơ sở hình thành pháp luật về hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh

doanh chứng khoán

2 Nội dung cơ bản của pháp luật hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động

kinh doanh chứng khoán

III ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

1 Hạn chế

2 Kiến nghị

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 2 2 2 2 3 4 5 7 7

9 14 14 15 15 16

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

Thị trường chứng khoán là giải pháp tiềm năng cho vấn đề cung ứng vốn trong nền kinh tế Việc thành lập thị trường chứng khoán ở Việt Nam là một yêu cầu tất yếu trước xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Trong thời gian qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc tuy nhiên tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Rủi ro xuất phát từ đâu và làm thế nào để hạn chế mức thấp nhất những rủi ro

đó để thỏa mãn lợi nhuận mà các nhà đầu tư kỳ vọng Để tìm hiểu vấn đề này, em xin

chọn đề tài “Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán: phân loại, nguyên nhân và các

quy định pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro trên cơ sở tình hình, chính sách phát triển thị trường chứng khoán từ năm 2012 đến nay”.

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Khoản 19 Điều 6 Luật chứng khoán quy định: “Kinh doanh chứng khoán là việc

thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu kí chứng khoán, quản lí quỹ đầu tư chứng khoán và quản lí danh mục đầu tư chứng khoán”

Rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra nhiều kết quả ngoài dự kiến

Như vậy, có thể hiểu rủi ro trong kinh doanh chứng khoán là những gì không nhận biết được, không được chắc chắn của tiền lãi đầu tư, là tình huống ngoài ý muốn, ảnh hưởng đến mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai khác với dự tính ban đầu Theo đó tất cả mọi yếu tố làm cho mức sinh lời thay đổi so với dự tính đều được gọi là rủi ro trong kinh doanh, quan điểm này khác với các lý thuyết trước đây khi người ta chỉ quan niệm rủi ro là những yếu tố làm cho mức sinh lời giảm đi

Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động thương mại đặc biệt, diễn ra trên một thị trường đặc biệt và đối tượng kinh doanh đặ biệt- chứng khoán - mang tính rủi ro cao Do vậy, hoạt động kinh doanh chứng khoán mang tính nhạy cảm và luôn gắn liền với yếu tố rủi ro

Trang 3

2 Đặc điểm của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Với những đặc trưng trong kinh doanh chứng khoán, thì rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có nhwngxx đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất, khả năng phát sinh rủi ro cao

Bất kì loại hình đầu tư vốn nào cũng đều tiềm ẩn nguy cơ rủi ro Lợi nhuận càng cao rủi ro càng lớn, đầu tư chứng khoán không nằm ngoài quy luật này, thậm chí nó còn ở mức sâu đậm và đa diện hơn Quá trình đầu tư chứng khoán luôn có rất nhiều yếu tố có thể gây tác động xấu khiến giá chứng khoán giảm sút như sự thay đổi chính sách của nhà nước, biến động tình hình kinh tế thị trường, việc tăng giảm lãi suất của ngân hàng trung ương… và những nguy cơ này rất khó để kiểm soát Chứng khoán lại

là đối tượng kinh doanh đặc biệt bởi vì giá trị thực của chứng khoán không đi liền với bản thân nó

- Thứ hai, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có phạm vi tác động lớn

Liên quan đến đặc trưng cơ cấu tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán xảy ra với một chủ thể kinh doanh không chỉ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận, uy tín của bản thân chủ thể mà còn ảnh hưởng đến những chủ thể khác là đối tác, chẳng hạn công ty chứng khoán với đối tác, các nhà đầu tư Nguy hiểm hơn, nếu rủi ro có tính hệ thống cao hoặc thiệt hại lớn, nó có thể tác động xấu đến toàn bộ thị trường chứng khoán

- Thứ ba, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có thể hoặc không thể dự báo trước

Hoạt động kinh doanh chứng khoán chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan và nó phụ thuộc vào từng yếu tố mà có thể dự đoán trước được hay không

Chính vì tính chất phức tạp và vô cùng nhạy cảm đó, mà các chủ thể tham gia kinh doanh chứng khoán cần phải hết sức lưu ý, xem xét, cân nhắc đến tất cả các yếu

tố, các khả năng có thể xảy ra để đưa ra quyết định sáng suốt nhất, đảm bảo lợi nhuận của mình

Trang 4

3 Phân loại rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Tùy theo những căn cứ mà ta dựa vào, có thể xác định những loại rủi ro khác nhau:

3.1.Căn cứ vào mức độ tác động của rủi ro

- Rủi ro mang tính chất hệ thống, là những rủi ro liên quan đến thị trường chứng khoán, tác động đến tất cả các chủ thế tham gia thị trường, với những loại rủi ro này, các chủ thể tham gia thị trường không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và với tất cả mọi loại chứng khoán, theo đó các chủ thể tham gia khó có thể tránh được và không thể đa dạng hóa được bời vì chủ thể tham gia không thể loại trừ

nó bằng cách nắm giữ một tập hợp đa dạng các chứng khoán trong một danh mục đầu

tư, mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp làm giảm mức độ rủi ro

Ví dụ như giá cả cổ phần có thể dao động mạnh trong một khoản thời gian mặc

dù thu nhập của công ty không thay đổi

- Rủi ro không có tính chất hệ thống, đây là những rủi ro mà khi xảy ra nó chỉ tác động đến một hoặc một nhóm chủ thể tham gia thị trường chứng khoán (ví dụ rủi ro kinh doanh, đây là loại rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh chứng khoán) với loại rủi ro không có tính chất hệ thống này thì tùy từng loại

mà chủ thể tham gia thị trường có thể sử dụng những giải pháp đề phòng tránh hoặc làm giảm mức độ thiệt hại do tác động của rủi ro

3.2.Căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến rủi ro

- Rủi ro từ nguyên nhân khách quan là những rủi ro xảy ra ngoài tầm kiểm soát của chủ thể tham gia thị trường bởi nguyên nhân khách quan là yếu tố khó có thể hạn chế cũng như là dự đoán một cách chính xác được ví dụ như thiên tai, khủng hoảng kinh tế…

- Rủi ro phát sinh từ nguyên nhân chủ quan là những rủi ro xuất hiện do lỗi của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán Đó có thể là những rủi

ro về mặt pháp lí do việc tiến hành các hành vi kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật…

Trang 5

3.3.Căn cứ vào tính chất của rủi ro

- Rủi ro pháp lý là những rủi ro xảy ra bởi các tranh chấp, kiện tụng giữa các chủ thể kinh doanh chứng khoán hay giữa chủ thể tham gia hay của chính công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường khiến cho giá trị cổ phiếu bị sụt giảm…

- Rủi ro đối tác kinh doanh là rủi ro phát sinh giữa chủ thể kinh doanh chứng khoán với đối tác của mình những rủi ro này có thể đối tác không đủ tiền hoặc chứng khoán khi đến hạn thanh toán…

- Rủi ro thị trường là loại rủi ro phát sinh khi có biến động về giá và tính thanh khoản của chứng khoán trong giao dịch khiến cho khách hàng không thể mua hay bán một số lượng lớn chứng khoán trong thời gian nhất định,…

- Rủi ro từ hoạt động là những rủi ro xảy ra trong quá trình chủ thể kinh doanh chứng khoán tiến hành các hoạt động kinh doanh chứng khoán Có thể do sự hạn chế

về khả năng tài chính của chính chủ thể hoặc do trục trặc của hệ thống máy tính, hệ thống thanh toán của Sở giao dịch,…

4 Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán

4.1 Các nguyên nhân mang tính khách quan

- Môi trường kinh tế không ổn định

Thị trường chứng khoán vô cùng nhạy cảm luôn chịu sự chi phối từ rất nhiều yếu

tố, bản thân thị trường này lại diễn ra trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, do vậy một môi trường kinh tế không ổn định (khi lạm phát khó kiểm soát, lãi suất ngân hàng tăng, rủi ro từ khủng hoảng tài chính toàn cầu…) sẽ khiến cho hoạt động kinh doanh chứng khoán không có một môi trường thuận lợi để phát triển, khi đó rủi ro là điều dễ hiểu

Ảnh hưởng của thị trường chứng khoán là nguyên nhân có tác động trực tiếp và

rõ ràng nhất, nếu thị trường bất ổn định, thiếu tính công khai, minh bạch thiếu sự quản

lí và giám sát thì khả năng xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của các chủ thể là rất cao

Trang 6

- Môi trường chính trị bất ổn định, hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước chưa hoàn thiện

Chính sách pháp luật có vai trò tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia thị trường cũng như là định hướng cho sự phát triển của thị trường do đó hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh các hoạt động trên thị trường chứng khoán nếu không phù hợp, xa rời thực tế, chống chéo, mâu thuẫn thì hoạt động kinh doanh chứng khoán khó mà phát triển một cách thuận lợi, rủi ro luôn có nguy cơ phát sinh bất cứ lúc nào Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố chính trị, pháp luật do vậy nếu các yếu tố này bất ổn thì đương nhiên thị trường chứng khoán không thể phát triển một cách ổn định và bền vững và khi đó hoạt động kinh doanh chứng khoán chắc chắc sẽ chịu những tác động tiêu cực

- Hoạt động cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể hay sự quản lí và giám sát thị trưởng lỏng lẻo tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực phát sinh gây nên

những rủi ro không đáng có

- Yếu tố khách quan từ thiên nhiên như động đất, thiên tai,… là yếu tố rất khó dự

đoán được một cách chính xác, đôi khi đến rất bất ngờ gây thiệt hại lớn về cơ sở vật chất tạo nên những rủi ro khó lường trước cho chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán

4.2.Các nguyên nhân mang tính chất chủ quan

- Do bản thân chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán

Khả năng tài chính, trình độ của đội ngũ nhân viên là yếu tố chủ quan của chủ thể Kinh doanh chứng khoán là một loại đầu tư vốn do vậy khả năng tài chính tốt là một yêu cầu không thể bỏ qua đối với các chủ thể tham gia Nếu chủ thể thực hiện các hoạt động kinh doanh trong tình trạng tiềm lực tài chính hạn chế, lượng vốn có sẵn và khả năng khai thác sử dụng các nguồn lực tài chính trong và ngoài công ty không đủ mạnh, không đáp ứng được các yêu cầu của các giao dịch thì công ty sẽ luôn gặp khó khăn và rủi ro mang tính tiêu cực là điều không thể tranh khỏi Chất lượng đội ngũ nhân viên cũng cần phải được đảm bảo bởi kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực

Trang 7

đặc thù có sự chi phối rất lớn của nhân tố con người, trình độ kiến thức, kĩ năng hành nghề, đạo đức kinh doanh của nhân viên là những yếu tố có tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh

Ngoài ra năng lực quản trị kinh doanh, khả năng tổ chức hoạt động của bản thân chủ thể cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động Các rủi ro cũng có thể xuất hiện do việc tiến hành các hành vi kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật hay rủi ro xuất hiện trong quá trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán do các chủ thể không thực hiện nghĩa vụ của mình… đó là những rủi ro

về mặt pháp lí

- Nguyên nhân từ phía đối tác kinh doanh, khách hàng

Chẳng hạn như khả năng thanh toán, trình độ, thông tin để đánh giá tình hình để đưa ra những quyết định của khách hàng, không chỉ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của bản thân khách hàng còn tác động đến bản thân chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

1 Cơ sở hình thành pháp luật về hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Hoạt động kinh doanh chứng khoán là một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn vì vậy cần thiết Nhà nước phải ban hành các quy định nhằm hạn chế, phòng ngừa Việc bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư - các chủ thể thực hiện hoạt động này cũng là đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán nói chung và nền kinh tế nói riêng mà pháp luật về phòng ngừa và hạn chế rủi ro được ban hành

- Xuất phát từ bối cảnh chung của nền kinh tế và thị trường chứng khoán của Việt Nam Bắt đầu từ năm 2006 thị trường chứng khoán của Việt Nam phát triển một cách vượt bậc và được đánh giá là một trong những thị trường có tốc độ phát triển cao nhất với sự gia tăng một cách ồ ạt các nhà đầu tư (tính đến thàng 12-2006 có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở trong đó có gần 2000 tài khoản của nhà đầu

Trang 8

tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước chủ yếu là các nhà đầu tư nhỏ tự phát không

có chuyên môn và thiếu hiểu biết về thị trường chứng khoán, cùng với sự ra đời của hàng loạt các công ty chứng khoán có quy mô vừa và nhỏ và trên thực tế có nhiều công ty không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về trang thiết bị cũng như trình độ chuyên môn Chính sự phát triển ồ ạt này đã tạo nên những rủi ro tiềm ẩn mang lại cho chính các nhà đầu tư cũng như các công ty thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trường Tuy vậy trong những năm gần đây thị trường chứng khoán của nước ta lại rơi vào tình trạng phát triển chậm, cùng với sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã khiến cho thị trường chứng khoán càng trở nên

ảm đạm Những diễn biến bất thường trên của thị trường chứng khoán đã có tác động tiêu cực đến nền kinh tế, số lượng các nhà đầu tư bị giảm mạnh, nhiều nhà đầu tư bị rơi vào tình trạng phá sản Trước thực tế đó, đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp nhằm hạn chế tối thiểu những rủi ro xảy đến với chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán Một trong những biện pháp được ưa tiên đó là cần phải đưa ra khung pháp lí phù hợp đảm bảo phòng ngừa và hạn chế các rủi ro có thể thấy trước và các rủi

ro tiềm ẩn

- Xuất phát từ yêu cầu quản lí Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao hiệu quả quản lí của nhà nước đối với nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng nhằm đạt tới mục đích phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, bao gồm quản lí Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán cũng như đối với sự vận hành của thị trường chứng khoán Điều này càng trở nên quan trọng khi thị trường chứng khoán ở nước ta mới được hình thành và đang đứng trước bối cảnh khó khăn

- Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán Khi tham gia vào thị trường chứng khoán các chủ thể kinh doanh luôn đứng trước những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, bảo vệ các chủ thể kinh doanh cũng là đảm bảo an toàn cho thị trường chứng khoán cũng như là cho toàn bộ nền kinh

tế và do vậy việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư là việc làm cấp thiết phải tiến hành

Trang 9

2 Nội dung cơ bản của pháp luật hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.

2.1 Các quy định của pháp luật về quản lí Nhà nước nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Là những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán mà thông qua đó đảm bảo được sự ổn định, thống nhất quản lí cho thị trường chứng khoán

Điều 7 Luật Chứng khoán (LCK) quy định Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) – cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quan trực tiếp quản lí hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung

Theo Điều 8 LCK thì UBCKNN có hai chức năng chính là tổ chức xây dựng thị trường chứng khoán và quản lí, giám sát sự vận hành của thị trường chứng khoán Để thực hiện chức năng này, UBCKNN có các quyền hạn: cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; chấp thuận những thay đổi liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường

chứng khoán; quản lý, giám sát hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm

giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán và các tổ chức phụ trợ; tạm

đình chỉ hoạt động giao dịch, hoạt động lưu ký của Sở giao dịch chứng khoán, Trung

tâm giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán trong trường hợp có dấu hiệu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; thanh tra, giám sát, xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động chứng khoán

và thị trường chứng khoán; thực hiện thống kê, dự báo về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; hiện đại hoá công nghệ thông tin trong lĩnh vực chứng khoán

và thị trường chứng khoán; tổ chức, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành chứng khoán; phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho công chúng; Hướng dẫn quy trình nghiệp vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các mẫu biểu có liên

Trang 10

quan; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán

2.2 Các quy định của pháp luật về điều kiện trở thành chủ thể kinh doanh chứng khoán và các nghiệp vụ được phép thực hiện

- Quy định về điều kiện trở thành chủ thể kinh doanh chứng khoán

Xuất phát từ đặc trưng kinh doanh chứng là một loại hình kinh doanh đặc biệt với đối tượng kinh doanh là chứng khoán và được diễn ra trong một thị trường chứa đựng nhiều rủi ro bởi vậy để hạn chế những rủi ro và để đảm bảo an toàn cho bản thân chủ thể kinh doanh chứng khoán, pháp luật nước ta đã đặt ra nhiều điều kiện cụ thể để một pháp nhân được công nhận là chủ thể kinh doanh chứng khoán

+ Thứ nhất, về hình thức pháp lí: công ty quản lí quỹ phải là các công ty được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (khoản 1 Điều 59 LCK); công ty đầu tư chứng khoán chỉ có thể tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần (khoản 1 Điều 96 LCK) Sở dĩ có những quy định này là bởi vì hai loại hình công ty này có những ưu thế hơn so với các loại hình công ty khác về chế độ sở hữu, quản trị, khả năng huy động vốn… do đó độ an toàn của các chủ thể kinh doanh chứng khoán này cũng cao hơn

+ Thứ hai, điều kiện về cơ sở vật chất, kĩ thuật: xuất phát từ hị trường chứng khoán là một thị trường đòi hỏi chất lượng hạ tầng kĩ thuật cao, tiên tiến như yêu cầu

về mặt bằng giao dịch, hệ thống trang thiết bị điện tử như cáp dữ liệu, máy tính kết nối internet, bảng điện tử,… theo quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 62 LCK thì doanh nghiệp cần phải có: có trụ sở; có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang bị, thiết bị

+ Thứ ba, điều kiện về vốn pháp định: hoạt động kinh doanh chứng khoán là một loại hình kinh doanh đặc biệt đòi hỏi có số vốn lớn nhằm kịp thời giải quyết những rủi

ro có thể xảy đến trong quá trình diễn ra hoạt động chính vì vậy mà pháp luật hạn chế

và phòng ngừa rủi ro có quy định rất cụ thể về số vốn pháp định mà các chủ thể pháp

Ngày đăng: 19/03/2019, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w