Ý thứcđược phần nào về lợi ích của các loài đó cũng như khả năng đáp ứng từ thiên nhiênngày một ít đi, một số hộ dân đã tự mày mò gây trồng với quy mô rất nhỏ lẻ, tự phátvới nguồn giống,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-LÝ VĂN BÍNH
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG THỰC VẬT RỪNG LÀM THỰC PHẨM, GIA VỊ TẠI HAI XÃ THUỘC VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ -
HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-LÝ VĂN BÍNH
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG THỰC VẬT RỪNG LÀM THỰC PHẨM, GIA VỊ TẠI HAI XÃ THUỘC VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ -
HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Lớp : K46 - LN - N01
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thoa
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp " Điều tra đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị tại hai xã thuộc vùng đệm VQG Ba Bể - Huyện Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn” Là công trình nghiên cứu của bản
thân em, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị
Thoa Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong
phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóaluận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì em xin chịuhoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
TS Nguyễn Thị Thoa Lý Văn Bính
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗisinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vậndụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Bangiám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
"
Điều tra đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị tại hai xã thuộc vùng đệm VQG Ba Bể - Huyện Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn” Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực
tập tốt nghiệp của em đã hoàn thành
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoaLâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫnchúng em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị
Thoa đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Em xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo của hai xã khang Ning, Quảng Khê
và ban quản lý VQG Ba Bể cùng người dân trong hai xã đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Lý Văn Bính
Trang 53
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Dân số và lao động khu vực nghiên cứu 18
Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ hộ nghèo khu vực nghiên cứu 19
Bảng 3.3 Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 2 xã 20
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu 21
Bảng 4.1 Các loài cây làm thực phẩm và gia vị giá trị kinh tế được thường sử dụng làm thực phẩm có phân bố tự nhiên tại khu vực nghiên cứu 24
Bảng 4.2 Các loài cây rừng giá trị kinh tế thường sử dụng làm thực phẩm đang được gây trồng tại khu vực nghiên cứu
26 Bảng 4.3 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng dùng làm thực phẩm ở xã Khang Ninh
27 Bảng 4.4 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng dùng làm thực phẩm ở xã Quảng Khê 28
Trang 8MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề
1 2 Mục tiêu nghiên cứu
3 3 Đối tượng nghiên cứu
3 4 Phạm vi nghiên cứu
3 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
4 2.1.1 Cơ sở khoa học
4 2.1.2 Nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
5 Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu
12 3.2 Nội dung nghiên cứu
12 3.3 Phương pháp nghiên cứu
12 3.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
12 3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
13 3.4 Điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 14
Trang 93.4.1 Điều kiện tự nhiên .14
3.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội .18
3.4.3 Tình hình sản xuất kinh doanh 193.5 Đánh giá chung về điều kiện cơ bản .22
3.5.1 Những thuận lợi 223.5.2 Khó khăn .22
Trang 10Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều tra, đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển các loài cây làm thực phẩm và gia vị ở khu vực nghiên cứu
24 4.1.1 Thực trạng gây trồng các loài cây làm thực phẩm và gia vị tại khu vực nghiên cứu 24
4.1.2 Xác định cơ cấu cây trồng làm thực phẩm và gia vị có giá trị và tiềm năng phát triển của các xã nghiên cứu 26
4.1.3 Tình hình khai thác, sử dụng và thị trường cây làm thực phẩm và gia vị ở một số thôn trên địa bàn nghiên cứu 29
4.2 Tình hình về gây trồng các loài cây có giá trị 34
4.2.1 Thực trạng gây trồng một số loài tại địa phương 34
4.2.2 Kiến thức về phân bố sinh thái 39
4.3 Đề xuất những giải pháp để phát triển loài cây có giá trị kinh tế cao có tiềm năng 40
4.3.1 Giải pháp về chính sách 40
4.3.2 Giải pháp về kỹ thuật: 41
4.3.3 Giải pháp thực hiện và quản lý 44
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
1 Kết luận: 45
2 Kiến nghị: 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 111
Trang 12Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao vớikhoảng 12.000 loài thực vật bậc cao cũng như sự phong phú trong việc sử dụng cáclòai cây cỏ vào nhiều mục đích khác nhau trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt làcác dân tộc tại những vùng rừng núi Công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoangdại hữu ích đã được quan tâm rất sớm ở Việt Nam, tuy nhiên còn chưa đáp ứngđược yêu cầu Thực tế trong nhiều năm qua hầu hết các hoạt động bảo tồn mới chỉtập trung vào một số vấn đề của khía cạnh tự nhiên như đa dạng sinh học, điều traphân bố, sinh trưởng, khả năng nhân giống phục vụ công tác bảo tồn, vv…của một
số loài chủ yếu có ý nghĩa trong đa dạng sinh học cũng như phục vụ trong sử dụnglàm dược liệu Còn ít các nghiên cứu về điều kiện sinh thái, trữ lượng, khả năng gâytrồng của các loài cây hoang dại làm thực phẩm, làm gia vị, nhất là chưa có nhiềuquan tâm đến các khía cạnh xã hội, nhân văn, chưa huy động được sự tham gia củacác cộng đồng địa phương Về phương pháp nghiên cứu còn cần được tiếp tục tìmtòi và thử nghiệm
Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể là một trong những di sản thiên nhiên quý giá ởnước ta, có cảnh đẹp và còn nhiều giá trị bảo tồn lôi cuốn khách du lịch trong vàngoài nước đến thăm ngày càng tăng Hiện trạng tự nhiên là một phức hệ gồm hồ,sông, núi đá vôi từ dốc vừa đến dốc đứng, xen giữa có nhiều núi đất tạo nên cảnhquan đa dạng và phong phú Hồ nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển nhưng
Trang 13Ba Bể bốn mùa đầy nước Hồ có cấu tạo khá đặc biệt, thắt ở giữa và phình ra ở haiđầu, gồm 3 hồ lớn thông nhau là: Pé Lèng, Pé Lù, Pé Lầm và từ đó mà thành tên Ba
Bể Hồ nhận nước từ hai nguồn chính là sông Tà Han và sông Chợ Lèng Hồ còn cóchức năng điều tiết, phân nước cho sông Năng vào mùa cạn và như một bể chứa chosông vào mùa mưa lũ Chính vì có sự lưu thông với các dòng sông mà nước hồ Ba
Bể luôn vận động khiến cho nước hồ sạch và trong xanh
Cộng đồng dân cư tại những khu phục hồi sinh thái, khu vực vùng đệm củaVườn quốc gia, các khu bảo đã sống ở đây từ rất lâu đời và cuộc sống của họ chủyếu dựa vào rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên quanh hồ Phần lớn các hộgia đình đều thuộc diện đói nghèo (xã Nam Mẫu thuộc diện xã đặc biệt khó khănnằm trong Chương trình 135 giai đoạn II của chính phủ) Trong những năm qua,một số hoạt động của các cộng đồng đã xâm hại tài nguyên rừng như đốt nương làmrẫy, săn bắn động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép… thường xuyên xảy ra, đedọa tới công tác bảo tồn của VQG Với nhiều chương trình tuyên truyền, vận động,
hỗ trợ phát triển sản xuất từ chính quyền cũng như các tổ chức địa phương, cáccộng đồng đã ý thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật và làm tổn hại tớitài nguyên rừng, nhưng vì cuộc sống khó khăn và những đòi hỏi thực tế vẫn còn lànhững bất cập khiến họ không có nhiều lựa chọn
Đặc biệt, trong thời gian hiện nay khi cơ cở hạ tầng đã được cải thiện đáng
kể và các dự án có quan tâm hỗ trợ cho phát triển du lịch Bắc Kạn nói chung và dulịch sinh thái khu vực hồ Ba Bể nói riêng như dự án 3PAD, dự án có nguồn vốnGIZ, dự án có nguồn vốn từ ADB…công tác bảo tồn đã được cải thiện nhiều, gìngiữ được môi trường cảnh quan và do đó lượng khách du lịch tăng rõ rệt Cũngchính vì vậy, nhu cầu về thực phẩm sạch, tại chỗ, nhất là đặc sản địa phương ngàycàng tăng, đòi hỏi có những thay đổi về khả năng cung cấp và cũng là cơ hội để cảithiện đời sống cho các cộng đồng địa phương
Xuất phát từ thực tế đó, một yêu cầu cấp bách cần đặt ra đối với VQG Ba Bể
là cần tìm ra một lựa chọn, một nguồn sinh kế mới cho người dân, từ đó giảm áp lực
từ người dân vào tài nguyên rừng và góp phần đảm bảo quản lý rừng bền vững
Trang 14Nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị cógiá trị kinh tế cao, nhất là tại thời điểm hiện tại và có triển vọng trong tương lai vốn
đã và đang có tại khu vực hồ là một hướng đi đúng đắn và cần thiết Tuy nhiên, chotới nay, vấn đề này vẫn chưa thực sự được chú trọng, phần lớn người dân vẫnvào rừng thu hái các loài cây thực vật rừng tự nhiên làm thực phẩm và gia vị Ý thứcđược phần nào về lợi ích của các loài đó cũng như khả năng đáp ứng từ thiên nhiênngày một ít đi, một số hộ dân đã tự mày mò gây trồng với quy mô rất nhỏ lẻ, tự phátvới nguồn giống, kỹ thuật không phù hợp dẫn tới năng suất thấp, hiệu quả đầu tưchưa cao…
Xuất phát từ những lý do thực tế trên, đề tài ”Điều tra đánh giá hiện trạng
khai thác và sử dụng thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại hai xã thuộc vùng đệm VQG Ba Bể - Huyện Ba Bể - tỉnh Bắc kạn”được thực hiện và thực sự
cần thiết nhằm lựa chọn được loài cây, kỹ thuật trồng cây thực vật rừng làm thựcphẩm và gia vị có triển vọng đối với khu vực đặc biệt này
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các loài thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị quan trọng
để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở có sự tham gia của người dân tại VQG
3 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây rừng được dùng làm thức ăn và gia vị phân bố tại VQG Ba Bể
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển cây rừng sử dụng làm thựcphẩm và gia vị trên địa bàn thuộc 2 xã: Khang Ninh, Quảng Khê thuộc Vườn Quốcgia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn
Trang 15Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1.1 Cơ sở khoa học
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh tháirừng, là một hệ sinh thái mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ,cây bụi, thảm tươi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lýcủa chúng (đất đai, nguồn nước, khí hậu,…) Hệ sinh thái rừng như vậy có tính đadạng sinh học rất cao
LNSG có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với đời sống hang ngày của rấtnhiều cộng đồng, đặc biệt là các cây dược liệu và các loài làm thực phẩm, làm giavị… đã được khai thác, sử dụng nhiều từ thời kỳ cổ đại, trải qua nhiều năm từ thế
hệ này sang thế hệ khác, nhiều loại được coi như sản vật quý của đất nước và có ýnghĩa cực kỳ quan trọng đối với nhiều cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng các dântộc ít người ở miền núi
Một thực tế đặc biệt quan trọng trong thời điểm hiện nay là an toàn thựcphẩm, trong đó từ ngữ và khái niệm “rau sạch” đang ngày càng được nhiều ngườiquan tâm và được coi gần như là lẽ sống còn, vì rất nhiều người đang đối mặt hàngngày vì hệ lụy của “rau không sạch” gây ra Chính vì vậy, những loại rau rừng như
Bồ khai, Rau dớn, Rau sắng, Rau gai…là những loài gần như là đặc hữu có vẻ nhưrất bình thường trước đây tại các vùng đồi, rừng, ven suối… ở cả vùng đệm và vùnglõi của VQG Ba Bể, thì nay nhiều người coi là đặc sản, nhiều thương lái từ TháiNguyên và các tỉnh khác sẵn sàng mua từ đây với giá khá cao vì nhu cầu của chúng.Nghiên cứu những khía cạnh của bảo tồn và phát triển loại LSNG này có thể khôngnhững chỉ là vấn đề đời sống kinh tế mà còn vươn tới những mục tiêu xa hơn nhưbảo tồn đa dạng sinh học, kiến thức bản địa, quản lý rừng bền vững và những khíacạnh nhân văn như miền núi, dân tộc, truyền thống,văn hóa…
Trang 162.1.2 Nghiên cứu trên th gi i và ở Việt Nam.
2.1.2.1 Nghiên cứu trên th gi i
Cây làm thực phẩm và gia vị đã được người dân gây trồng, khai thác sửdụng cách đây hàng trăm năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đớinhư: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) chorằng hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâmnhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển gắn với bảo tồn và phát triểnrừng Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vaitrò trong xã hội, nó coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh
tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa gópphần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng Dưới đây là một sốnghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau
* Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị
Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trìnhsinh măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinhdưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phảiđược quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thânkhí sinh (dẫn theo Nguyễn Quang Hưng, 2008) [13]
Zhou Fangchun (2000) [17] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm cóảnh hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều loài tre trúckhác nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩysinh măng trái vụ ở Trung Quốc
Theo J Dransfield và N.Manokaran, 1998 việc trồng Mây nếp đã phát triểntrên quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kếthợp, trồng xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1hoặc 2 cây/cụm Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thuhoạch vào năm thứ 7 cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha (dẫn theo Vũ Văn Dũng vàcộng sự, 2002) [3]
Trang 17Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinhthái học, kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả trồng một số loàicây làm thực phẩm và gia vị có giá trị ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, TrungQuốc, Brazils,… (Peter Zuidema, 2001;… Marinus J.A Werger, 2000; FAO, 2000;
…)
Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, côngdụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển trênthế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển,
sử dụng hợp lý và bền vững thì sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập chongười dân miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đóigiảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồngthời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng
* Nghiên cứu về thị tr ng cây làm thực phẩm và gia vị
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù caaylamf thực phẩm và gia vị có giá trị
to lớn, nhưng nhiều người sản xuất lại thu được hiệu quả rất thấp là do sự hạn chếtrong việc tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu những giảipháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm theo nhu cầu của thịtrường Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, vào năm 1992, chương trìnhrừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hưỡng dẫn cho việc tạo ra các
hệ thống thông tin thị trường ở mức địa phương và giới thiệu một số kinh nghiệm
về kỹ thuật nuôi trồng, canh tác và phát triển thực vật rừng, như phát triển rừngcung cấp dược thảo ở Nepan, rừng cung cấp cây họ dầu, Tanin, cau rừa ở vùngAmazon - Brazil, rừng cung cấp Song Mây ở Malaixia (dẫn theo Vũ Văn Dũng vàcộng sự, 2002) [3]
* Các nghiên cứu về vai trò của cây làm thực phẩm và gia vị
Phần lớn cây làm thực phẩm và gia vị đã trở thành sản phẩm hàng hóa nên
đã mở ra triển vọng cho việc quản lý sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng n.Tầm quan trọng củacây làm thực phẩm và gia vị đối với các nước nhiệt đới đã được
Trang 18thừa nhận, như ở Thái Lan, trong năm 1997 đã xuất khẩu đạt giá trị 23 triệu USD và
ở Indonesia cũng trong năm đó đạt tổng giá trị xuất khẩu lên tới 238 triệu USD(FAO, 1997) [16]
* Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của cây làm thực phẩm và gia vị.
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một hệ sinh thái hoàn hảo và đầy đủ thực vậtphong phú và đa dạng nhất hành tinh (Van Steenis, 1956)
Rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% bề mặt trái đất nhưng trong đó chứa đựnggần 90% tổng số loài thực vật của trái đất (Mc Nell et al, 1990)
Năm 1987, Wilson đã tìm thấy quanh một gốc cây họ đậu ở Peru có tới 43loài kiến, thuộc 26 giống, bằng toàn bộ khu hệ kiến có mặt ở nước Anh
Tại Đông Nam Á, rừng nhiệt đới và đặc biệt là rừng mưa có mức độ đa dạngsinh học rất cao Tại Malaysia có ít nhất 40.000 loài thực vật, Indonesia có khoảng20.000 loài, Thái Lan có 12.000 loài, số loài thực vật ở Đông Dương (Việt Nam,Lào, Campuchia) là 15.000 loài
Nhằm nâng cao vai trò một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt độngnghiên cứu như: Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Trung tâm nghiên cứu Lâmnghiệp quốc tế (CIFOR), Trung tâm Nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF),… đã tậptrung nghiên cứu vào nhóm các nghiên cứu sau:
- Khảo sát tình hình nhằm nắm được những hiểu biết chung về việc sử dụng
và tầm quan trọng của cây làm thực phẩm và gia vị ở các mức độ khác nhau (hộ giađình, địa phương, quốc gia và quốc tế);
- Phát triển công nghệ để cải thiện quá trình chế biến và sử dụng cây làmthực phẩm và gia vị
- Nghiên cứu về canh tác cây làm thực phẩm và gia vị
- Nghiên cứu về kinh tế, xã hội bao gồm cả nghiên cứu về thị trường cây làmthực phẩm và gia vị
Trang 19Việc quan tâm tới công nghệ sau thu hoạch thường ít ỏi, vì vậy gây lãng phí
cả về số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ sảnphẩm (FAO, 1995) [15].kỹ thuật chế biến kém hiệu quả; thiếu các giải pháp điềuchỉnh chất lượng; khó khăn về thị trường và thiếu cán bộ được đào tạo,…
Năm 1992 Chương trình Rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển cácbản hướng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thôn tin thị trường ở mức địa phương.Phương pháp này đã được kiểm nghiệm ở Bangladesh và Uganda năm 1993 và chothấy tính hiệu quả thiết thực của nó trong việc nắm bắt thông tin về thị trường câylàm thực phẩm và gia vị ở mức địa phương từ đó có kế hoạch lựa chọn, điều chỉnh,gây trồng, khai thác và sử dụng cho phù hợp [14]
2.1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến thực vật rưnghiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sửdụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây làm thực phẩm và gia vị chủ yếu,điển hình là một số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
* Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị.
Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ làIBA (1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 – 69%; Phươngpháp ghép nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46% Tỷ
lệ sống của cây ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi cây mẹ cho cành ghép màphục thuộc rất rõ rệt vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép (Nguyễn Huy Sơn,Nguyễn Tuấn Hưng – 2003)
Xử lý bằng IBA (1%) trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt tỷ lệ ra rễcao và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất so vớighép mắt và ghép cành (70 – 77%) (Phạm Văn Tuấn, 2005)
Khi nghiên cứu chọn tạo giống Quế có năng suất tinh dầu cao Nguyễn HuySơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chọn được 122 cây trội theo các chỉ tiêu sinh
Trang 20trưởng, 79 cây theo sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu, 45 cây theo cả sinh trưởng,hàm lượng và chất lượng tinh dầu ở Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ngãi Về nhângiống, đề tài cũng đã chỉ ra được tuổi cây lấy hom, giá thể và loại hom có ảnhhưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, tốt nhất là lấy hom cành hay hom chồi vượt ở câydưới 7 năm tuổi, giâm hom trong giá thể cát vào đầu vụ hè là tốt nhất Đối với ghép,
đề tài cũng đưa ra 3 phương pháp nhưng đạt hiệu quả cao nhất vẫn là ghép nêmngọn, cành ghép tốt nhất là lấy ở cây dưới 7 năm tuổi và nên ghép vào vụ thu Cáctác giả đã dùng cây ghép để xây dựng vườn giống kết hợp khảo nghiệm hậu thế đốivới loài cây này
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [2] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội
trồng để lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá.
Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài:Mật độ trồng, phân bón, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹthuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảoquản măng
* Nghiên cứu về thị tr ng cây làm thực phẩm và gia vị.
Nguyễn Thị Loan (2010) [9] khi nghiên cứu trồng và phát triển cây làm thựcphẩm và gia vị tại VQG Tam Đảo đã cho thấy, tại vùng đệm VQG Tam Đảo, có 3kênh thị trường tiêu thụ phổ biến là:
+ Người dân vùng đệm khai thác bán trực tiếp cho người sản xuất và chế biến.+ Người dân vùng đệm khai thác bán cho người thu mua trung gian sau đómới tới tay người sản xuất và chế biến
+ Người dân vùng đệm khai thác bán cho người trung gian, đại lý thu mua vàcuối cùng là người sản xuất và chế biến
Qua kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng, việc không thông qua sơ chế, chếbiến mà bán trực tiếp cây làm thực phẩm và gia vị thô làm giảm nhiều giá trị thuđược của người dân Do vậy, cần đẩy mạnh các khâu chế biến và đưa trực tiếp sảnphẩm tới tay nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả cao
Trang 21* Các nghiên cứu về vai trò của cây làm thực phẩm và gia vị.
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của câylàm thực phẩm và gia vị ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng cây làm thực phẩm
và gia vị ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng củanhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm.Đặc biệt một số nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào thực vật rưng như ở NguyênBình – Cao Bằng
* Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của cây làm thực phẩm và gia vị.
Phạm Văn Điển trong công trình nghiên cứu “Một số giải pháp kinh t xã hội phát triển thực vật cho cây làm thực phẩm và gia vị tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình” đã đưa ra một số giải pháp chính bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất, phát triển
rừng và hoàn thiện chính sách giao đất lâm nghiệp; hỗ trợ gạo cho người dân vùnghồ; thu hút và xác định trách nhiệm của nhà máy thủy điện Hòa Bình trong việc xâydựng và tái tạo vốn rừng; thay đổi phương pháp khuyến lâm,…
2.1.2.3 Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở cả trên thế giới và ở Việt Nam đều cóthể nhận thấy, giá trị từ rừng mang lại rất được quan tâm nghiên cứu Các công trìnhnghiên cứu đi sâu vào nhiều lĩnh vực, từ việc phân loại thực vật rừng, chọn giống,nhân giống và kỹ thuật gây trồng nhiều loài cây làm thực phẩm và gia vị, thị trườngtiêu thụ, xác định tiềm năng, vai trò đối với cộng đồng đặc biệt là cộng đồng dân cưsống gần rừng Các kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để xác định được giá trị
và là căn cứ để phát triển các loài cây làm thực phẩm và gia vị Mặc dù ở Việt Nam,các nghiên cứu được thực hiện khá muộn so với thế giới, tuy nhiên các nghiên cứucũng đã đạt được những thành tựu đáng kể
Ở Việt Nam, tiềm năng cây làm thực phẩm và gia vị là rất lớn, đa dạng cả vềchủng loại, số lượng lẫn phân bố Tuy nhiên, do chỉ chú ý tới khâu khai thác tựnhiên nên tới nay hầu hết rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn rất ít cây có giá trị,người dân sinh sống gần rừng bắt đầu khai thác và xâm lấn trái phép tài nguyên ở
Trang 22các khu rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên để phục vụ cho sử dụng tại chỗ và
sử dụng làm hàng hóa buôn bán gây tác động nghiêm trọng tới công tác bảo tồn vàphát triển rừng đặc biệt là hiện nay, nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đốivới nhiều loại cây quý, hiếm như Hà thủ ô, Như vậy, để có thể giảm áp lực vàotài nguyên rừng tự nhiên của nước ta, đồng thời tạo sinh kế, phát triển kinh tế địaphương thì việc tìm kiếm loài cây, biện pháp kỹ thuật để xây dựng các mô hình cógiá trị là hết sức cần thiết đặc biệt đối với cộng đồng dân cư sống quanh vùng đệmcủa các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
Nghiên cứu nhằm giải quyết sinh kế cho cộng đồng các xã vùng đệm làKhang Ninh, Quảng Khê thuộc Vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể - tỉnh BắcKạn, từ đó giảm áp lực từ người dân vào tài nguyên rừng và góp phần đảm bảoquản lý rừng bền vững, trong đó nghiên cứu phát triển các loài cây thực vật rừng
có giá trị kinh tế cao sử dụng làm thực phẩm và gia vị đang là hướng đi đúng đắn
và có triển vọng
Trang 23Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây rừng được dùng làm thực phẩm và gia vị phân bố địa điểm tạihai vùng VQG Ba Bể
3.2 N i dung nghiên cứu
- Thống kê thành phần các loài thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị tạiVQG Ba Bể;
- Hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng làm thực phẩm vàgia vị tại VQG Ba Bể;
- Thực trạng gây trồng các loài thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị chủyếu tại VQG Ba Bể;
- Đề xuất những giải pháp để phát triển loài cây rừng được sử dụng làm thựcphẩm và gia vị có giá trị kinh tế cao có tiềm năng
3.3 Phư ng pháp nghiên cứu
3.3.1 Quan điểm và cách ti p cận vấn đề nghiên cứu
3.3.1.1 Quan điểm nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển cây rừng trong vùng Vườn quốc gia Ba Bể cần đượcđặt trong mối quan hệ chặt chẽ với đời sống thường ngày của người dân địa phươngnhư các hoạt động khai thác, sử dụng, gây trồng và phát triển,
Chú trọng nghiên cứu, tổng kết các biện pháp kỹ thuật đã có, các giống mới,chuyển giao công nghệ, kết hợp với nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng tiếpnhận của người dân (chú trọng cả yếu tố kinh tế và kỹ thuật)
Cây làm thực phẩm và gia vị cần được coi là một giải pháp quan trọng và cóhiệu quả cao trong việc cải thiện sinh kế người dân địa phương, hướng tới công tácquản lý rừng bền vững của VQG Ba Bể
Phát triển kỹ thuật có sự tham gia (PTD): Lấy người dân làm trung tâm
Trang 243.3.1.2 Cách ti p cận của đề tài
- Nghiên cứu phát triển cây rừng sử dụng làm thực phẩm và gia vị nhằm góp
phần cải thiện đời sống của người dân sống trong và ngoài VQG Ba Bể cần có cáchtiếp cận tổng hợp
- Cách tiếp cận có sự tham gia của các đối tượng khác nhau: người dân, cán
bộ thôn, xã, huyện, thị trường, vườn quốc gia, các chương trình, dự án
3.3.2 Ph ơng pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Phương pháp k thừa số liệu, tài liệu
Từ các tài liệu đã có của VQG Ba Bể, UBND các xã, các loài cây đã triểnkhai để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan
Các tài liệu thu thập gồm:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu, trong đó chú trọngđến các số liệu về kinh tế - xã hội như dân số, lao động, thu nhập, tình hình sản xuấtnông lâm nghiệp
- Đặc điểm tài nguyên rừng VQG Ba Bể, đặc biệt là các tài liệu điều tra vềtài nguyên rừng, tài liệu về các loài cây rừng trên địa bàn; phân bố, diện tích cácloại rừng, công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng, tình hình giao khoán bảo vệ rừng,
- Định hướng quản lý rừng của VQG Ba Bể ở khu vực các xã vùng dự ángồm: Khang Ninh, Quảng Khê
- Các chương trình, dự án có liên quan đến cây làm thực phẩm và gia vị vàcải thiện sinh kế người dân đã thực hiện tại 2 xã: Khang Ninh, Quảng Khê
3.3.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
a Phương pháp đánh giá tiềm năng và triển vọng gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị tại vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể.
Tiềm năng phát triển gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị tại VQG Ba Bểđược đề tài đưa ra đánh giá bao gồm: tiềm năng về đất đai, tiềm năng về lao động,nguồn vốn, kỹ thuật, nguồn giống, thị trường, kinh nghiệm gây trồng và sử dụng,
và đặc biệt là sự chấp thuận của cộng đồng Trên cơ sở đánh giá những tiềm năngcho từng loài, tiến hành tổng kết và xác định những loài cây có tiềm năng nhất chokhu vực thì đó chính là loài cây có triển vọng nhất cho khu vực
Trang 25- Đối tượng phỏng vấn trực tiếp được chia thành 2 nhóm sau:
+ Người dân thuộc hai xã Khang Ninh, Quảng Khê Nội dung phỏng vấnchủ yếu là đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã; tình hình phân bố, khaithác, sử dụng, hoạt động mua bán và trữ lượng các loại cây làm thực phẩm vàgia vị trên địa bàn, mô hình, thị trường đã được đầu tư xây dựng trong thời gianqua, định hướng phát triển loài cây của các xã, Dự kiến mỗi xã sẽ phỏng vấn
10 người
+ Hộ gia đình: Các hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên ở mỗi xã theonguyên tắc có đủ các thành phần dân tộc, nghề nghiệp, mức sống, Nội dungphỏng vấn tập trung vào hoạt động kinh tế, thu nhập và mức sống của các hộ giađình, những hoạt động liên quan đến tài nguyên rừng tại địa phương đặc biệt là cáchoạt động có liên quan đến cây làm thực phẩm và gia vị như gây trồng, thu hái, mùa
vụ, sử dụng, buôn bán, và nguyện vọng phát triển của người dân Dự kiến phỏngvấn 10 người/xã
b Phương pháp đánh giá các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây làm thực phẩm va gia vị có giá trị kinh t
Phỏng vấn và quan sát: Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn và quan sát thực tếtại hiện trường để thu thập các thông tin về kỹ thuật gây trồng đã và đang được ápdụng tại địa phương, đối tượng phỏng vấn là các cán bộ kỹ thuật, người dân đã vàđang gây trồng cây
Điều tra tại thực địa để thu thập các thông tin về loài cây trồng, phương thứctrồng, mật độ trồng, kích thước hố, phát dọn thực bì, và các thông tin về kỹ thuậtkhai thác, chế biến và bảo quản,…
Đánh giá kỹ thuật gây trồng, khai thác, chế biến và bảo quản sử dụngphương pháp so sánh thông qua năng suất, chất lượng sản phẩm và các tiến bộ kỹthuật hiện có
3.4 Điều kiện tự nhiên-kinh tế xã h i khu vực nghiên cứu
3.4.1 Điều kiện tự nhiên
3.4.1.1 Vị trí địa lý
Trang 26+ Phía Bắc giáp xã Cao Thượng+ Phía Đông giáp xã
Khang Ninh, Cao Trĩ
+ Phía Nam giáp xã
Quảng Khê
+ Phía Tây giáp xã
Nam Cường, Xuân Lạc
(huyện chợ Đồn- Bắc Kạn),
xã Đà Vĩ (huyện Na
Hang-Tuyên Quang)
Tổng diện tích tự
nhiên 7.610 ha, trong đó:
+ Khu bảo vệ nghiêm
ngặt: 3.226,2 ha;
+ Khu phục hồi sinh
Trang 27Toàn bộ khu vực VQG Ba Bể là núi đá vôi hiểm trở, một phần nhỏ là cácthung lũng núi đất xen kẽ nhỏ và hẹp.
VQG Ba Bể nằm trên độ cao từ khoảng 150 đến 1089m so với mặt nướcbiển Về cấu trúc địa chất, chiếm ưu thế là đá vôi với nhiều đỉnh cao lởm chởm, độphân cắt lớn, nhiều sườn đồi dốc bao quanh các thung lũng, sông suối Địa hình núi
Trang 28đá vôi có nhiều hang động, lớn nhất là động Puông dài 300m, có sông Năng chảyqua, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đầy vẻ ngoạn mục
VQG Ba Bể có diện tích là 7610ha,trong đó diện tích rừng chiếm 85%, gồm
3 phân khu chức năng, với các hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên rất đa dang.Trung tâm vườn là Hồ Ba Bể, mặt hồ rộng gần 500ha, chiều dài 8km, nằm trên độcao 150m và có độ sâu 35m Nối với hồ là hệ thống sông suối bao quanh cùng cáckhu rừng thường xanh phủ kín hệ núi đá vôi trùng điệp, tạo nên nét đẹp kỳ vĩ chokhung cảnh thiên nhiên trong vùng
3.4.1.3 Điều kiện thổ nhưỡng
Đất trong khu vực nghiên cứu được hình thành chủ yếu trên 3 loại đá mẹchính là đá sét, đá phiến thạch sét và đá vôi Các loại đất chính trong khu vựcbao gồm:
- Đất Fralit nâu vàng phát triển trên đá sét và phiến thạch sét, phân bố phầnsườn và đỉnh Loại đất này có tầng dày thích hợp với trồng cây lâm nghiệp
- Đất Feralit vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển trên đá Macma chua, phân bổchủ yếu ở các thung lũng, chân núi đá vôi, thoát nước tốt và có hàm lượng mùn cao,tầng đất khá dầy thích hợp cho canh tác nông nghiệp và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) - R: Đá vôi là loại
đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửatrôi đến đó, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá
Nhìn chung, đất đai ở khu vực còn khá tốt tầng đất từ trung bình đến khá dầythích hợp với nhiều loại cây trồng
Trang 29có sự phân dị mạnh mẽ về mặt địa hình hướng núi Một năm ở vùng có 2 mùa rõrệt: mùa mưa từ tháng 6 – tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 – tháng 1.
Lượng mưa trung bình năm của khu vưc: 1378 mm
Độ ẩm trung bình năm: 83,3%
Nhiệt độ trung bình năm: 220C
Nhiệt độ cao nhất là 390C Nhưng vào các tháng mùa đông nhiệt độ ở đây rấtthấp có thể xuống tới 60C, đặc biệt có thời điểm -0,60C
Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên có diện tích 500ha, tốc độ dòng chảy là0,5m/s nước hồ trong xanh quanh năm Hồ có chức năng phân lũ cho sông Năng,sông Gâm
Về mùa lũ, mực nước có thể dao đọng lên xuống từ 2,5-3m so với mức bìnhthường hồ có độ sâu trung bình từ 20-25m, nơi sâu nhất là 35m, nơi nông nhất từ 5-10m Đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm hang động
3.4.1.6 Tài nguyên thực vật
VQG Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi, trong đó có nhiềuloài thực vật quí hiếm có giá trị được ghi vào Sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới.Các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây…trong đó, Trúc dây
là một loài tre đặc hữu của Ba Bể thường mọc tại các vách núi, thân của chúng thảmành mành xuống hồ tạo nên những bức mành xung quanh hồ
Trong khu vực có tổ thành loài cây được sử dụng làm thực phẩm, làm thuốcphong phú, đặc biệt là sự có mặt của cây Giảo cổ lam, cây rau sắng Những loàicây này không chỉ có ý nghĩa đối với đời sống sức khỏe của người dân trong vùng
Trang 30mà còn mở ra một triển vọng to lớn để phát triển nghề khai thác và chế biến dượcthảo – một bộ phận quan trọng của sản phẩm ngoài gỗ của địa phương.
Đây còn là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá làtrung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còncủa cả toàn vùng Đông Nam Á Ở đây có 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu,chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này
3.4.2 Điều kiện kinh t - xã hội
3.4.2.1 Dân số, lao động.
Hiện trạng dân số và lao động 2 xã Khang Ninh,Quảng Khê tại thời điểmđiều tra được tổng hợp trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Dân số và lao đ ng khu vực nghiên cứu
Các dân tộc chính sinh sống trên địa bàn gồm người Tày, người Nùng, ngườiDao; người Mông và người Kinh với những đặc điểm sinh sống và phong tục tậpquán rất khác nhau
Người Tày chiếm số lượng trên 60%, là dân tộc bản địa có số lượng lớn, tổchức làng xã người Tày khá chặt chẽ do trưởng thôn đứng đầu
Người doa chiếm khoảng 25% tập trung ở xã Khang Ninh, với nhiều phongtục sinh hoạt và sản xuất lạc hậu
Người Mông chiếm khoảng 15% Số còn lại là dân tộc Kinh và một số dântộc khác
Trang 31Lao động trong khu vực chủ yếu là lao động trẻ, trình độ văn hoá thấp, chưađược đào tạo về kỹ thuật chuyên môn Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là ruộng một
vụ nên thời gian nông nhàn nhiều Người dân địa phương tốn nhiều thời gian vàocác hoạt động nương rẫy và khai thác củi, gỗ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của giađình, đời sống của người dân hiện tại vẫn còn nhiều khó khăn
3.4.2.2 Đặc điểm kinh t
Hiện trạng về tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn 2 xã nghiên cứu được tổng hợptrong bảng 3.2.:
Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ h nghèo khu vực nghiên cứu
STT Tên xã Số h Nghèo nghèo Cận Tỷ lệ nghèo
số hộ
3.4.3 Tình hình sản xuất kinh doanh
3.4.3.1 Sản xuất nông nghiệp
Mặc dù nông nghiệp là ngành sản xuất chính trên địa bàn 2 xã nghiên cứu,song diện tích canh tác nông nghiệp ở đây lại rất ít Trung bình mỗi xã có hơn 238
ha đất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp của 2 xã chủ yếu là tập trung vào các cây ngắn ngày,cây hàng năm như Lúa, Đậu, Lạc, Ngô… Phương thức canh tác chủ yếu là quảngcanh nhưng lại phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên năng suất thấp Trong sản xuấtnông nghiệp cây ngô, lúa đóng vai trò chủ đạo và là nguồn thu nhập chính của các
hộ dân trong khu vực