Việc sống cùng vớithiên nhiên như vậy về lâu dài đã giúp cộng đồng dân tộc nơi đây dần dần tíchlũy và hình thành những kinh nghiệm kiến thức quý báu trong việc sử dụngcác loài cây rừng đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-MA VĂN KHIÊM
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SỬ DỤNG, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO TẠI XÃ TÂN AN, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Lớp : K46 - LN Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-MA VĂN KHIÊM
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SỬ DỤNG, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO TẠI XÃ TÂN AN, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Lớp : K46 - LN Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Hồ Ngọc Sơn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3"Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây
thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản
báo cáo thực tập tốt nghiệp của em đã hoàn thành
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trongkhoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy vàhướng dẫn chúng em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Hồ Ngọc Sơn
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo UBND xã Tân An, huyện ChiêmHóa, tỉnh Tuyên Quang cùng người dân trong xã Tân An, huyện Chiêm Hóa
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốtnghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Ma Văn Khiêm
Trang 4từ cao xuống thấp 35Bảng 4.3 Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu biểu
được cộng đồng Dân tộc Dao sử dụng làm thuốc 36Bảng 4.4 Tóm tắt hoàn cảnh có được tri thức 45Bảng 4.5 Tóm tắt tri thức bản địa trong khai thác, sử dụng các loài cây thuốc46Bảng 4.6 Các bài thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Tân An huyện
Chiêm Hóa – tỉnh Tuyên Quang 49Bảng 4.7 Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại xã Tân An,
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 52Bảng 4.8 Sự khác biệt trong việc sử dụng giữa cây thuốc dân tộc Dao và dân
tộc Tày tại xã Tân An 54Bảng 4.9 So sánh sự khác biệt trong việc sử dụng giữa bài thuốc dân tộc Dao
và dân tộc Tày tại xã Tân An 55
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện hoàn cảnh tiếp nhận tri thức 45
Hình 4.2 Các bộ phận thu hái của cây thuốc 46
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện cách khai thác các loài cây thuốc 47
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện cách sử dụng các loài cây thuốc 48
Trang 75
Trang 8Trang bìa phụ
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục bảng iii
Danh mục hình iv
Danh mục từ viết tắt v
Mục lục vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nuớc 7
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước 9
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 14
2.3.1 Vị trí địa lý 14
2.3.2 Địa hình địa thế 14
2.3.3 Khí hậu, thuỷ văn 15
2.3.4 Địa chất , thổ nhưỡng 15
2.3.5 Tài nguyên rừng 16
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp luận 18
Trang 93.4.2 Kế thừa tài liệu 18
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.4 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn 20
3.4.5 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 21
3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 23
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Danh mục các loài cây của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Tân An 24
4.2 Đặc điểm cơ bản về hình thái của một số loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng Dân tộc Dao 35
4.2.1 Một số loài cây tiêu biểu được cộng đồng Dân tộc Dao sử dụng làm thuốc 35
4.3 Tri thức bản địa trong việc khai thác, sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Tân An 45
4.3.1 Hoàn cảnh có được tri thức 45
4.3.2 Tri thức bản địa trong việc thu hái các loài cây thuốc 46
4.3.3 Tri thức bản địa trong việc khai thác các loài cây thuốc 47
4.3.4 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài cây thuốc 48
4.3.5 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các bài thuốc dân gian 48
4.4 Các loài cây thuốc và các bài thuốc cần được ưu tiên bảo tồn 52
4.4.1 Các loài cây thuốc cần được bảo tồn và nhân rộng 52
4.5 So sánh tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của dân tộc Dao với dân tộc Tày 54
4.5.1 So sánh cây thuốc và bài thuốc của dân tộc Dao với Dân tộc Tày 54
4.5.2 So sánh các bài thuốc của dân tộc Dao với dân tộc Tày tại xã Tân An
54 4.6 Đề xuất một số giải pháp trong công tác bảo tồn và nhân rộng các loài cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc Dao 55
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 101
Trang 11đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụcho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv…của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụngnguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phầnnâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt là các đồng bào Dântộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khănphụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng.
Xã Tân An là một xã miền núi của huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang,đây là xã có các dân tộc sinh sống như Dao, Tày, Nùng Do đời sống củahọ
Trang 12còn gặp nhiều khó khăn cuốc sống họ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tàinguyên thiên nhiên trong đó có rừng Rừng cung cấp cho họ các loài cây từviệc lấy làm thực phẩm, lấy gỗ cho xây dựng cho đến các loài cây có thể tạo
ra sản phẩm hàng hóa như các loại cây làm dược liệu Việc sống cùng vớithiên nhiên như vậy về lâu dài đã giúp cộng đồng dân tộc nơi đây dần dần tíchlũy và hình thành những kinh nghiệm kiến thức quý báu trong việc sử dụngcác loài cây rừng để tạo nên các bài thuốc dùng phòng và trị bệnh các bệnh từđơn giản đến các bệnh nan y không cần sử dụng các bài thuốc từ bên ngoài.Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội cơ sở hạ tầng được đầu tưngười dân có nhiều cơ hội tiếp cận với y tế xã thôn người dân chuyển sang sửdụng thuốc tây nên việc sử dụng cây thuốc ít đi Kinh nghiệm sử dụng câythuốc hiện nay được tập chung ở sự hiểu biết riêng của người già người lớntuổi hi hữu lắm mới có một số lượng rất ít giới trẻ biết về việc sử dụngcây thuốc để chữa bệnh.vậy thì khi thế họ qua đi thì những bài thuốc ,câythuốc này có thể bị lãng quên cùng với việc người dân ở khu vực thường chặtphá rừng đốt nương làm rẫy, chặt phá rừng lấy đất canh tác nông nghiệp,người dân khai thác các loại lâm sản không đúng kế hoạch khai thác quá mứclàm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp khiến diện tích rừng giảm mạnh kéotheo đó nhiều loài cây thuốc có giá trị trong các bài thuốc của cộng đồng dântộc nơi đây đang dần biến mất trong đó có cả cây thuốc giá trị chưa kịpnghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sửdụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cầnthiết trong giai đoạn hiện nay Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Tân An -huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang, trong đó có dân tộc Dao họ cónhững bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việcchữa bệnh
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quýbáu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc Dao Xuấtphát
Trang 13từ những yêu cầu thực tế trên nghiên cứu: "Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại
xã Tân An, huyện Chiêm Hóa”Là rất cẩn thiết nhằm tìm hiểu một số cây
thuốc và bài thuốc cộng đồng đã và đang sử dụng cũng như tìm kiếm giải phápcho việc bảo tồn và phát triển
1.2 Mục đích và mục tiêu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu, đánh giá, hệ thống lại kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng
tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang liên quan đến việc nghiên cứu và bảo tồn tài
nguyên Lâm sản ngoài gỗ Từ đó, đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn
và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng bảo tồn và pháttriển cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao một cách bền vững và hiệu quả
1.2.2 Mục tiêu
- Xác định danh mục các loài cây thuốc cộng đồng khai thác và sử dụng
- Xác định được phương thức khai thác, bộ phận sử dụng để làm thuốccủa các loài cây tại xã Tân An – huyện Chiêm Hóa – Tuyên Quang
- Xác định được các loài cây thuốc tiêu biểu được người dân sử dụng vàđặc điểm của chúng
- Xác định được các bài thuốc được dân tộc Dao sử dụng tại xã Tân An –huyện Chiêm Hóa – Tuyên Quang
- Đề xuất được một số giải pháp để bảo tồn và phát triển những hệ thốngkiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồngdân tộc Dao ở xã Tân An
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế
Trang 14- Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm.
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏinhững kinh nghiệm từ thực tế
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Góp phần vào việc quản lí tài nguyên rừng bền vững
- Phát hiện, bảo tồn và phát triển tiềm năng của thực vật rừng được cộngđồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làm thuốc
- Duy trì và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về cây thuốc của cộngđồng dân tộc Dao
Trang 15Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên
xung quanh con người Tri thức được tích lũy từ những kinh nghiệm của quátrình lao động sản xuất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày của con người,trải qua thời gian dài lịch sử, tri thức được tồn tại và phát triển qua sự trảinghiệm của nhân dân lao động
Vậy tri thức bản địa là gì? Tri thức bản địa là những nhận thức, hiểu biết
về môi trường sinh sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cứ
trú nhất định, trong lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng (Nguyễn Thanh Thự , Hồ Đắc Thái Hoàng, 2000)[7]
Việt Nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có nguồn tàinguyên thực vật rất phong phú và đa dạng thống kê cho thấy có đến 12000loài thực vật bậc cao,các loài cây sống trong các điều kiện sinh thái khác nhauhình thành các kiểu thảm thực vật khác nhau nhiều loài có giá trị làm thuốc vànhiều loài hiện nay là nguyên liệu chính để chế biến sản xuất các loài thuốc
có giá trị như hà thủ ô, nghệ đen, hạ diệp châu và rất nhiều loài cây thuốc cógiá trị khác còn chưa được tìm hiểu và nghiên cứu
Trong lịch sử nhân loại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các câythuốc và vị thuốc để chữa trị các loại bệnh như: Năm 1960 Phạm Hồng Hộ vàNguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ “cây cỏ Việt Nam” GS.TS Đỗ Tất Lợingười đã dày công nghiên cứu nhiều năm và đã xuất bản nhiều tài liệu sửdụng cây, con làm thuốc của đòng bào dân tộc đáng chú ý nhất là năm 1957ông đã biên xoạn bộ “dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tậptrong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam TS Võ
Trang 16Văn Chi có cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc Còn theotài liệu của viện dược liệu (2000) thì Việt Namcó đến 3830 loài cây làm thuốcnhưng con số này còn có thể tăng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc củanhiều đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu còn chưa đầy đủ.
Nước ta là nước có diện tích rừng lớn với ba phần tư diện tích lãnh thổ làđồi núi,tập chung nhiều thành phần các dân tộc sinh sống gần rừng cuộc sống
họ gần như gắn liền với rừng nên việc tiếp súc và sử dụng thường xuyên cácloại cây rừng trong đời sống về lâu dài đã tạo ra những kinh nghiệm quý báutrong sử dụng cây rừng làm thuốc Kiến thức bản địa trong việc sử dụng câythuốc cũng rất da dạng và phong phú mỗi dân tộc có các cây thuốc và bàithuốc, cách sử dụng, các pha chế khác nhau Hiện nay nguồn tài nguyênrừng cua chúng ta bị giảm sút nghiêm trọng kéo theo sự đa dạng sinh họccũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu
đã mất dần vì vậy việc nghiên cứu tri thức trong việc sử dụng, bảo tồn và pháttriển bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là việc cần làm trong giai đoạnhiện nay
Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở Việt Nam nhất là cáccộng đồng dân tộc sống gần rừng họ có những bài thuốc kinh nghiệm rất haytrong việc sử dụng cây rừng làm thuốc, đơn giản nhưng hiệu quả chữa bệnhrất cao, xã Tân An – huyện Chiêm Hóa – Tuyên Quang
Là nơi tập chung nhiều dân tộc thiểu số cùng với diện tích rừng rất lớnkhoảng 5575,92 ha (theo số liệu của ủy ban nhân dân xã Tân An)[13] nên đây
là nơi lý tưởng cho các nghiên cứu về kiến thức bản địa trong đó có các kiếnthức về sủ dụng các cây thuốc bài thuốc từ tự nhiên nên Đây là một cơ sở
quan trọng để thực hiện thành công đề tài: "Tri thức bản địa trong sử dụng,
bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại
xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang".
Trang 172.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nuớc
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Việc sử dụng cây thuốc dân gian trong cộng đồng các dân tộc nó đã xuấthiện từ rất lâu đời gắn liền với sự phát triển của nhân loại ngay từ lúc xuấthiện con người đã biết sử dụng các loài thực vật để duy tri sự sống trong quátrình đó người ta đã phát hiện các loài thực vật có khả năng phòng và chữabệnh dần dần các kinh nghiệm đó được tích lũy đây là cơ sở của quá trìnhhình thành và sử dụng cây thuốc trong y học truyền thống của các dân tộccùng với sự phát triển của nhân loại thì việc sử dụng cây thuốc trong cộngđồng các dân tộc càng được nâng cao mang lại hiệu quả lớn trong bảo vệ sứckhỏe và góp phần không nhỏ trong việc nâng cao và phát triển kinh tế
Trên thế giới, Quốc gia đã sử dụng nguồn thực vật rừng để làm thuốc,nhiều nước đã có các đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiềunguồn tài nguyên này để xuất khẩu làm dược liệu và thu được một nguồn tàichính khá lớn Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia điđầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Một nghiên cứu rất thành côngcủa họ đã cho ra đời cuốn sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc"vào năm 1968, do các nhà nghiên cứu Vân Nam - Trung Quốc thực hiện Cuốnsách này đã đề cập tới đặc điểm sinh thái, công dụng, kỹ thuật gây trồng, chếbiến và bảo quản cây Thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [6]
Nghiên cứu lịch sử của các cây làm thuốc vùng lãnh thổ được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều bằng chứng xác thực trong cuốn
“Lịch sử niên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878 Charles Pikering đã chỉ rõ:ngay từ năm 4271 trước công nguyên người dân khu vực Trung Cận Đông
đã sử dụng nhiều loài cây để làm lương thực và chữa bệnh
Theo Aristote (384-322 trước công nguyên) đã tổng kết trên 4000 nămtrước ,các dân tộc vùng Trung Cận Đông đã biết đến cacr ng àn cây thuốc
Trang 18sau này người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng (Võ Văn Chi
và Trần Hợp, 1999)
Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trần đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm
1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa đến chocon người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Ngay từ những năm
1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiêncứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1972 tác giả N.G Kovalena
đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừamang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn
sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm
được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn
(Trần Thị Lan,
2005) [3] Đến năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của
tổ chức nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và củaLâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc cảithiện đời sống cho người dân ở miền núi sống ở trong và gần rừng, thu hút họtham gia vào việc quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững, giúp họ có thểyên tâm sống chủ yếu vào nghề rừng
Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng gópcho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài câythuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng cácloại cây thuốc
Theo ước tính của tổ chức Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đíchchữa bệnh trên toàn thế giới
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới WHO năm 1985, trong số
250000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết có gần 20 nghìn loàithực vật được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biếnthuốc trong đó
Trang 19ở Ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc trên 5000 loài riêng về thực vật cóhoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc vùng nhiệtđới Châu Mỹ hơn 1900 loài.
Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dântộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế,giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầuchăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất
chiết suất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [ 5].
Cùng với sự phát triển của xã hội cộng với nhu cầu này càng caotrong việc dùng thực vật rừng để chữa bệnh, chiết xuất các hoạt chất,khai thácquá mức đã làm cho nhiều loài cây thuốc đứng trước nguy cơ biến mất vĩnhviễn
Tư liệu từ tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế(IUCN) cho biết hiệnn nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này
có thông tin thì có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở cácmúc độ khác nhau Trong tập tài liệu” các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ”Xuất bản năm 1980 đã đề cập tới 200 loài trong có phần lớn là các loài câythuốc
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với diện tích33054km, ba phần tư lãnh thổ là đồi núi một phần tư là đồng bằng với nhiềuđắc trưng phong phú và kiểu khí hậu thích hợp cho sự phát triển của thực vậtnói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới,phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát mẻ Đặc biệt là nước ta códãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồngbào nhân dân sống gần ở trong rừng mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thìviệc cứu chữa tại chỗ là vô cùng cần thiết và cấp bách
Theo nguồn thông tin Viện Dược liệu (2004) [12] thì Việt Nam có đến
Trang 203.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu vànấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốcmọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiếnthức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiêncứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ.
Việt Nam là quốc gia có tiền năng lớn về tài nguyên cây thuốc trongkhu vực Đông Nam Á đồng thời nền Y học cổ truyền qua hàng nghìn nămbắc thuộc nên chịu ảnh hưởng rất lớn của y học cổ truyền Trung Quốc
Tài liệu xớm nhất của cây thuốc Việt Nam là “nam dược thần hiệu” và
“hồng nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh trong tài liệu này mô tả hơn 630 vịthuốc 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh
Tới thế kỷ XVIII Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộxách “Y Tông Tân Tĩnh” cho nước ta gồm 28 tập đã mô tả chi tiết về thực vật
và các đặc tính chữa bệnh
Sau cách mạng tháng tám năm 1945 các nhà khoa học Việt Nam có nhiềuthuận lợi nghiên cứu tài nguyên cây thuốc trong đó có một công trình nghiêncứu của Đỗ Tất Lợi người đã dày công nghiên cứu nhiều năm và đã xuất bảnnhiề tài liệu sử dụng cây, con làm thuốc của đòng bào dân tộc đáng chú ý nhất
là năm 1957 ông đã biên xoạn bộ “dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam”gồm 3 tập trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam
Từ năm 1962-1965 Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ “những cây thuốc và vịthuốc Việt Nam” gồm 6 tập trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồngốc thảo mộc, động vật, khoáng vật
Năm 1960 Phạm Hồng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ “cây
cỏ việt nam” Cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” của Vũ văn Chuyênxuất bản năm 1966 cuốn xách đã tóm tắt được hầu hết các đặc điểm của các
họ có cây thuốc ở Việt Nam tác giả đã mô tả đầy đủ các thông tin về: tên khoa
Trang 21học, tên phổ thông, đặc điểm nhận biết, khu vực phân bố của từng họ câythuốc đây là việc có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu nghiên cứu về hệthực vật cây thuốc Việt Nam Nhóm tác giả của Viện Dược Liệu (2003) đãtiến hành biên soạn bộ xách “cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”với hơn 1000 loài trong đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụnglàm thuốc Những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta
đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm
1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấndược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu
khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô (Viện Dược Liệu, 2002) [10].
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyênThanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn câythuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn câythuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏirất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên nhữngkiến thức quý báu này chưa được phát huy và chưa có cách duy trì hiệu quả,chưa có tổ chức
Ở nước ta số loài cây thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây khôngngừng tăng lên, theo báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu về dược liệu và tài
nguyên cây thuốc (Viện dược liệu, 2003) [11].
- Năm 1986 Việt Nam đã biết có 1.863 loài
- Năm 1996 Việt Nam đã biết có 3.200 loài
- Năm 2000 Việt Nam đã biết có 3.800 loài
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang cónguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệtnguồn tài nguyên cây thuốc như: Diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừngsuy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó
Trang 22tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệsinh thái, sự đa dạng các loài và di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền vớibảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử
dụng bền vững và phát triển cây thuốc (Trần Khắc Bảo, 2003) [1].
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền(CREDEP) từ trước đến nay khá nhiều địa phương trong nước đã có truyềnthống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về cây thuốc, bài thuốc chữacác bệnh thường gặp hàng ngày Trong 2 năm gần đây, Ngô Qúy Công đã tiếnhành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườnquốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài câythuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại
Họ chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằngcách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suygiảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là
sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằmmục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng nhưxây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốctrong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp, đề
xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển (Ngô Quý Công, 2005)[2].
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sửdụng về tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùngđệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm
có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật Ngườidân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng câythuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sửdụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từVườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây
Trang 23thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sởcác nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và
bảo tồn (Đỗ Hoàng Sơn, 2008) [8].
Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đãphát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể
cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài
là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơitập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, dokhai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyênnhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêmtrọng, biểu hiện qua các thực tế sau:
- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Do nạn phá rừng làmnương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phíaNam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tựnhiên chưa kịp khai thác
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có
vùng phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng,
các loài Bình vôi hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đắng nhưng do khai thác quámức, không chú ý bảo vệ tái sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác.Một số loài thuộc nhóm này như Ba kích, Đẳng sâm…đã phải đưa vào Sách
đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004)nhằm khuyến cáo bảo vệ
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâmmọc tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt
chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2006) [4].
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phúnhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều
Trang 24thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiếnthức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú,mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụngkhác nhau Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảmsút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có
cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần,vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bảnđịa là một việc rất cần thiết Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ cónhững bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quảrất cao Tuyên Quang cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinhsống đặc biệt là huyện Chiêm Hóa nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu
số sinh sống trong rừng và gần rừng, trong đó có dân tộc Dao Chính vì vậy,đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu kiến thức bản địa về khai thác và sửdụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên cuả cộngđồng dân tộc địa phương nơi đây
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Theo UBND Xã Tân An là một xã miền núi của huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên
Quang, cách trung tâm huyện lỵ 12km về phía Tây nam, có địa giới
hành chính: Phía Bắc giáp xã Tân Mỹ, Hà Lang;
Phía Nam giáp xã Phúc Thịnh, Hòa Phú;
Phía Đông giáp xã Xuân Quang, Hùng mỹ;
Phía Tây giáp xã Hà Lang
Trang 252.3.3 Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu của Tân An mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa,chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa, có 2 mùa rõ rệt:mùa đông lạnh khô và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bìnhnăm toàn tỉnh từ 220-240C, cao nhất trung bình từ 330-350 C, thấp nhấttrung bình từ 12-130C
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm - 1.800mm, khá ổn định
Độ ẩm bình quân hàng năm là 85%, rất thích hợp với cây rừng nhiệt đới, xanhtốt quanh năm
Xã Tân An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của vùng Đông Bắc,khí hậu trong năm được chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa đông lạnh khô, rét thườngmang theo sương muối bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau đây là thờiđiểm mà cháy rừng hay xẩy ra; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều bắt đầu từ tháng 4đến tháng 9 đây là những tháng có lượng mưa lớn thuận lợi cho việc phát
triển Nông, lâm, nghiệp (UBND xã Tân An, 2017)[13]
- Đất nâu đỏ trên đá vôi;
- Đất phù sa không được bồi hàng năm;
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước;
- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axít;
- Đất phù sa được bồi hàng năm;
Trang 262.3.5 Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp 4.493,84ha gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất
(UBND xã Tân An, 2017)[13]
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
Xã Tân An có 11 thôn bản; theo số liệu thống kê đến ngày 15/10/2014tổng số dân toàn xã là 1.568 hộ với 6390 nhân khẩu, có 10 dân tộc anh emsinh sống trong đó dân tộc tày chiếm trên 84 %; có 3.270 người trong độ tuổilao động chiếm tỉ lệ 51,2 %
Xã Tân An là một xã miền núi của huyện Chiêm Hóa, thu nhập chínhcủa người dân chủ yếu là trồng cây lúa nước, chăn nuôi và từ trồng rừng
Ngành nghề kinh tế chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội là trồng trọt
và chăn nuôi như chăn nuôi lợn, trâu và thủy sản, thu nhập bình quân trên đầu
người 16.800.000đ/người/năm (UBND xã Tân An, 2017)[13]
Trang 27Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tri thức bản địa về sử dụng, bảo tồn
và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Thời gian nghiên cứu: tháng 02 năm 2018 đến tháng 05 năm 2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
Nội dung 1:
- Xác định các loài cây được người dân khai thác, sử dụng làm thuốc
- Đặc điểm cơ bản về hình thái của một số loài cây thuốc cần được ưutiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Dao
Nội dung 2: Tri thức bản địa trong khai thác sử dụng các loài cây thuốc
- Xác định phương thức khai thác các loài thuốc như: Bộ phận thu hái, kĩthuật, thời điểm khai thác, công dụng của cây thuốc
- Cách chế biến và sử dụng các loài cây thuốc: Các phương thức chế biếnđối với từng cây ở cộng đồng dân tộc Dao, từng hộ như bằng cách đơn giản(phơi khô, gác bếp, dùng tươi ) hay cầu kỳ (phải qua nhiều công đoạn khácnhau )
- Tri thức bản địa của người dân trong việc sử dụng một số bài thuốc dângian tại địa phương
Nội dung 3: Các loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn
- Xác định mức độ hiếm của các cây thuốc hiện nay so với trước đây
Trang 28- Xác định loài cây thuốc quý/hiếm cần được ưu tiên bảo tồn.
- Xác định các bài thuốc cần được ưu tiên bảo tồn
Nội dung 4: So sánh tri thức bản địa trong sử dụng cây thuốc,bài thuốc của dân tộc Dao với dân tộc khác
Nội dung 5: Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
- Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về lý thuyết hệ thống, quanđiểm sinh thái – nhân văn, quan điểm bảo tồn – phát triển có sự tham gia
- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến công tác nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp điều tra như: Kế thừa tài liệu, phỏng vấnngười dân tại khu vực nghiên cứu
3.4.2 Kế thừa tài liệu
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,cùng các tài liệu có liên quan tới các chuyên đề của các tác giả trong và ngoàinước tại khu vực nghiên cứu
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
phương nhằm tránh sự nhầm lẫn tên loài giữa các ngôn ngữ, văn hóa khácnhau
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn những người đưa tin then chốt, có
uy tín như trưởng thôn, thầy lang, những người già trong làng, những ngườihành nghề bốc thuốc (sử dụng cho phỏng vấn bài thuốc)
+ Phỏng vấn mở: Phỏng vấn tự do, có thể hỏi về bất kỳ câu nào với những
Trang 29câu hỏi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội dung cần hỏi có thểthay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người cung cấp thôngtin (tất cả mọi người).
Phỏng vấn hộ gia đình: Phỏng vấn 30 hộ dân am hiểu về cây thuốc,những người hay nhặt thuốc cho người khác trên tổng số 3/11 thôn, các hộphỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên.Tiêu chuẩn của các cộng tác viên này là: Biết khai thác/chế biến các câythuốc; Có kiến thức/kỹ năng thực hành; Am hiểu truyền thống quản lý, sửdụng cây thuốc của cộng đồng; Sử dụng tốt hai thứ tiếng phổ thông và tiếngDao; Đại diện cho các thành phần khác trong thôn bản như: Lứa tuổi, lãnhđạo thôn, giới, thành phần kinh tế, mối quan tâm Đề tài sử dụng bảng câu hỏivới nội dung ngắn gọn, rõ ràng để khi phỏng vấn thu được nhiều thông tin,giúp cho người dân dễ hiểu, dễ trả lời Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là
đề nghị người cung cấp tin liệt kê đầy đủ tên những cây thuốc được người dântrong vùng sử dụng làm thuốc, thực phẩm bằng tiếng dân tộc của họ để tránhđược sự nhầm lẫn tên cây giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau
Bảng 3.1: Tóm tắt thông tin về đối tượng phỏng vấn
Đ
ộ Giới tính G
h i
D ư ớ
Trê n 3
N a m
N ữ
Trang 303.4.4 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài:
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3mức điểm
- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác):
sử dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năngsống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnhhưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang mức 3 điểm
Trang 31- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
(Thực Vật Học Dân Tộc (2002) [14])
3.4.5 Phương pháp nghiên cứu thực vật học
Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của
người dân địa phương
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận đặc biệt làcành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ haydương xỉ) Các cây lớn thu từ 3- 5 mẫu trên cùng cây, các cây thảo nhỏ vàdương xỉ thì thu 3 - 5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổsung cho nhau trong quá trình định mẫu và trao đổi mẫu vật Các mẫu đượcthu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêubản: 41 x 29 cm
Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu đượcthường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, cần thuthập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ… ), các mẫu này không đủ
cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quátrình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này
Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sửdụng, chúng tôi còn thu thập các mẫu thực vật dân tộc học - các mẫu thực vậtchứa đựng giá trị tri thức dân tộc như: bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm
để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật
Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được
ghi chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạngsống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả trong đó đặc biệt lưu ý đến các thôngtin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín,
Trang 32màu của nhựa, dịch, mủ; mùi, vị của hoa quả nếu có thể biết được… Bên cạnh
đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh tháinơi sống, mật độ, người thu mẫu… cũng nên được ghi cùng
Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thứccủa người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cáchthức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là:tên dân tộc của cây, ý nghĩa của tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cáchkhai thác, bảo quản và sử dụng, cách thức dùng khi phối hợp với các câykhác, nguồn gốc thông tin… Ngoài ra, do mẫu thực vật dân tộc thường không
có đầy đủ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên cán bộ điều tra đề nghị ngườicung cấp tin mô tả các bộ phận còn thiếu tuy nhiên những mô tả này chỉ đểtham khảo và định hướng tiếp theo chứ không được coi là các mô tả thực vật
vì cách nhìn nhận, mô tả của người dân không hoàn toàn trùng khít với cách
mô tả thực vật của người nghiên cứu Các thông tin có thể được vào phiếuđiều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối ngày phảivào phiếu
Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó
kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dungdịch cồn 40o - 45o để mang về Khi về, mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặtgiữa hai tờ báo khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo đểmang đi phơi hoặc sấy khô Mẫu có thể được xử lý độc và khâu hay không làtùy vào yêu cầu cụ thể
Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so
sánh Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật,các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã
có hay với các bản mô tả, hình vẽ Các tài liệu thường xuyên được dùng là:Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Cây cỏ
Trang 333.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các têncây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii) đếm số lần tên cây thuốc n được nhắcđến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục các tên theo thứ tự tần số giảmdần Có thể xác định danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (haycác loài cốt lõi), là các loài được nhiều NCCT nhắc đến, cộng với một sốlượng lớn các loài được một số ít NCCT hay chỉ một người nhắc đến Cácloài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chungcủa cộng đồng liên quan đến lĩnhvực cây thuốc trong khu vực điều tra Cácloài còn lại thể hiện cái nhìn, tri thức, kinh nghiệm riêng của các thành viêntrong cộng đồng
So sánh sự khác biệt giữa 2 dân tộc Dao và Tày: Dựa trên kết quả điều
tra, phỏng vấn dân tộc Dao, tiếp tục phỏng vấn thêm 4 NCCT dân tộc Tày(chọn những người là thầy thuốc, già làng), sau đó tiến hành so sánh thông tinthu được từ 4 NCCT dân tộc Tày với kết quả điều tra có được của dân tộcDao trước đó, để thấy sự khác biệt giữa tác dụng của các loài cây, cách dùng
và mục đích sử dụng các cây làm thuốc của 2 dân tộc
Trang 34Th ô n
v à
C hữ a rắ n
V iê m
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Danh mục các loài cây của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Tân An
Trên cơ sở điều tra nghiên cứu, thu thập thông tin đã thống kê đượcmột số loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làmthuốc, các loài cây thuốc được xác định theo tiếng địa phương và tên phổthông, tất cả các loài cây thuốc đều được lấy mẫu, mô tả đặc điểm hình thái,sinh thái sau đó mang về làm tài liệu tra cứu xác định tên phổ thông cùng tênkhoa học và họ thực vật Kết quả được tổng hợp bảng 4.1:
Bảng 4.1: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác
sử dụng làm thuốc
Trang 35m á u
C h ữ a
III.3 Apiaceae- Họ Hoa tán
T o
C hữ
T o à
C h ữa cả m
7 H
ú
O ci m
i
m
u
C ả c â
G i ả i n
C h ữ a
III.6 Araliaceae –
Họ Nhân sâm
Trang 36C h
- Họ Hoa Kèn Đỏ
1
C
T o
C h ữ
Trị viê m
T h ấ p
1
4Ké
đầ
X a
n
Q u ả
C h ữ a
C h ữ a đ 1
Ti êu độ c, ch 1
C ầ m
c e a e - Họ Bèo Tây
Trang 37C h ữ 2
T r ị
h o
C h ữ a m ụ
T r ị m
C h ữ a
à
C h ữ a h e
III.15
Erythropalum
Trang 38T ê
B
ộ C ô
Lá , ng ọn
C h ữ a v i ê m thậ
P h ầ n
L ợ i t i ể
III.17 Fabaceae - Họ Đậu
2
L e u
H T r 3
0 Móng bò
Đù điềng
m
B a u
T o
Tr ị ki 3
M m
R ễ,
T r
ị 3
A r c
T ắ
C ả c
Tr ị vi ê m họ
Ci n n
Q u ả
C h ữ a
III.
20. ceae -Họ Thiến Thảo
Trang 39B ổ th ận , m ạn h gâ n xư ơn g, ph on g th
C h ữ a
Ch ữa và ng da,
III.25
Menispermacea
Trang 40T h â n
C h ữ a v 4
C h ố n
C hữ a
C h ữ
T rị ti ê u c
C h ữ a v
L á ,
C h ữ