Hơn nữa để phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện đúng những quy định của pháp luật, nắm bắt nhanh chóng sự đổi mới của pháp luât, tôi đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về các vấn đề cho th
Trang 1Đề tài: “TÌM HIỂU VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY”
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề xã hội có tính chất hoàncầu là mối quan tâm lớn của niều quốc gia Việt nam trong quá trình hội nhập vàchuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã đạt được nhữngkết quả nhất định trong phát triển kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trongmột số năm, giải quyết tốt vấn đề về lương thực tuy nhiên, Việt Nam còn phải đốiphó với những thách thức to lớn trong quá trình phát triển một trong những tháhthức đó là vấn đề việc làm cho người lao động Trên thực tế, hiện nay tỉ lệ thấtnghiệp cao, vấn đề giải quyết việc làm không đạt chỉ tiêu đặt ra Nguồn lao độngViệt Nam hiện nay theo cơ cấu lao động trẻ vấn đề giải quyết việc làm luôn đượcquan tâm và hướng đến sắp xếp công ăn việc làm cho người lao động Mặc dùNhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách để giúp người lao động cũng nhưngười sử dụng lao động tạo điều kiện cho nhau trong vấn đề giải quyết nguồn laođộng đang dư thừa
Ở Việt Nam, bảo đảm việc làm cho tất cả những người lao động là trách nhiệm của toàn xã hội Về nguyên tắc, mọi người đều có quyền tự do lựa chọn việc làm,
tự do lựa chọn nghề nghiệp mà không bị phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào, kể cả
sự phân biệt về giới
Hơn nữa để phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện đúng những quy định của pháp luật, nắm bắt nhanh chóng sự đổi mới của pháp luât, tôi đã lựa chọn đề tài
“Tìm hiểu về các vấn đề cho thuê lại lao động trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” làm để tài nghiên cứu bài tập lớn của mình
Trang 2Đây là vấn đề mới và rất thiết thực và tôi mong muốn rằng qua đề tài này tôi sẽ đóng góp một phần ý kiên nhỏ bé của mình vào công cuộc giải quyết việc làm và phát triểm đất nước Qua đề tài này bản thân tôi hi vọng đưa pháp luật đến gần hơnvới những người lao động, người sử dụng lao động và doanh nghiệp cho thuê lao động Để nắm rõ hơn những quy định mới của pháp luật, góp them ý kiến của mình cho những công trình nghiên cứu khác cùng chủ đề nhưng rộng hơn để
những giải pháp mình đưa ra được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống nhằm hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật Việt Nam
ra các vấn đề về các quy định của pháp luật đối với vấn đề cho thuê lại lao động
và hoạt động của nó Bên cạnh đó thì phân tích cho thấy thực trạng hiện nay ởnước ta và một số giải pháp đề xuất nhằm góp phần làm cho hình thức này ngàycàng hoàn thiện hơn
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu sâu hơn về nội dung của đề tài, tháo gỡ những vướng mắc cầnthiết trong hệ thống pháp luật nước ta, tôi dùng phương pháp phân tích, so sánhkết hợp đối chiếu Bên cạnh đó thì tôi còn dùng phương pháp của các ngànhkhoa học khác như: liệt kê, bình luận và tổng hợp, sưu tầm các tài liệu có liênquan Nhằm chuyển tải hết những nội dung cơ bản của đề tài, tuy chỉ là mộtkhía cạnh của vấn đề nhưng những phương pháp này sẽ hữu ích trong việc tìm
ra những điểm cần khắc phục cũng như những vấn đề cơ bản nhất của đề tài
5 Bố cục của đề tài
Bố cục đề tài 3 chương:
Chương 1: Những quy định của pháp luật Việt Nam trong vấn đề cho thuêlại lao động
Chương 2: Thực trạng của vấn đề của vấn đề cho thuê lại lao động
Chương 3: Những kiến nghị của bản thân nhằm hoàn thiện và thực hiện tốtnhững quy định của pháp luật
Trang 4B – NỘI DUNG
CHƯƠNG I Quản lí nhà nước về nguồn lao động và vấn đề cho thuê lại lao
động 1.1 Khái niệm
1.1.1 Định nghĩa
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Như chúng ta đã biết, lao động tưc là hoạt động, là sụ lao lục của con người để tạo ra của cải vật chất, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phuc cho con người Việt Nam là một đất nước có nguồn lao động dồi dào thuận lợi cho công cuộc phát trieenmr kinh tế
Cho thuê lại lao động là một khái niệm còn khá mới mẻ và chưa được đề
cập đến trong hệ thống các quy định pháp luật về lao động của Việt Nam Tuy
nhiên, thực tế khái niệm này đã xuất hiện tại nước ta từ khoảng năm 2001 khi mà
làn sóng đầu tư nước ngoài ào ạt đổ vào Việt Nam.
Khái niệm “cho thuê lại lao động” có thể được hiểu là việc một doanhnghiệp đi thuê lại người lao động từ một doanh nghiệp khác trong một khoảngthời gian nhất định thông qua một hợp đồng dịch vụ Trong khi đó, doanh nghiệp
đã cho thuê người lao động là cơ quan trực tiếp ký hợp đồng lao động, trả lương
và các chế độ khác đối với người lao động
Trong suốt thời gian làm việc tại doanh nghiệp thuê lại lao động, người laođộng chịu sự quản lý, điều hành của nơi này, nhưng quan hệ lao động (hợp đồnglao động) vẫn được duy trì với doanh nghiệp cho thuê lao động Điều này cónghĩa những quyền lợi cơ bản của người lao động (tiền lương, bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế …) được doanh nghiệp cho thuê lao động đảm bảo theo hợp đồnglao động đã ký kết giữa hai bên và theo quy định của pháp luật
Trang 51.2 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của hoạt động cho thuê lại lao động
Tại Điều 53 Quy định về vấn đề Cho thuê lại lao động như sau:
“1 Cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
2 Hoạt động cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện
và chỉ được thực hiện đối với một số công việc nhất định.”
Như căn cứ đã nêu , sau đây là mô hình hóa mối quan hệ đa chiều và khá là
dễ hiểu song lại rất phức tập về quyền và nghĩa vụ của nhau
Trang 6Hình 1:
Giải thích sơ đồ này chúng ta có thể hiểu về mối quan hệ đa chiều giữanhững doanh nghiệp kinh doanh trên cơ sở sức lao động vô hình của nhau Sở dĩnói đây là sức lao động vô hình là vì gắn kết giữa các mắt xích với nhau đó làquan hệ hợp đồng
Ở đây gồm có các hợp đồng như sau:
Hợp đồng giữa người lao động với người cho thuê lao động, đây làhợp đồng mang tính chất thực tế cao nhất để mang lại quyền lợi và bảo vệ quyềnlợi cho người lao động, hợp đồng này được thực hiện dưới hình thức văn bản.Quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động.thực tế, hiện nay pháp luật cho phép thực hiện pháp luật hóa vấn đề cho thuê laođộng dưới hình thức kinh doanh Vậy kinh doanh ở đây là kinh doanh cái gì? kinhdoanh sức lao động làm hàng hóa hay kinh doanh chiến lợi phẩm từ việc tạo rasản phẩm ta tiếp tục tìm hiểu hợp đồng giữa người cho thuê lao động và vớingười thuê lại lao động
Trang 7 Hợp đồng này được thiết lập dưới sự thỏa thuận về tiền công củangười lao động
người cho thuê lao động cung cấp người lao động còn người thuê lại laođộng trả công cho người cho thuê lao động tuy họ trục tiếp làm việc với nhau tuynhiên hợp đồng giữa họ với chủ doanh nghiệp phai thông qua vai trò trung gian
đó là người cho thuê lao động
Một vấn đề đang thắc mắc hiện nay là nếu khi xảy ra tranh chấp lao độnghay tai nạn lao động, ai sẽ là người đứng ra giúp cho người lao động giải quyết vụviệc là người trực tiếp tra công cho người lao động hay người trực tiếp làm việc
và tiếp xúc với người lao động
Tham khảo qua một số tài liệu và qua quá trình nghiên cứu tôi thấy rằng đểgiải quyết thắc mắc trên chính người cho thuê lao động và người thuê lại lao độngcần phải có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau để cùng giải quyết vấn đề Thôngqua con đường thương lượng thỏa thuận với nhau cách thức giải quyết thì bên sửdụng lao động cho thuê sẽ liên đới cùng chịu trách nhiệm một phần rủi ro đã xảyra
Tuy nhiên, cũng có những vụ việc không thể điều hòa được vấn đề này thìpháp luật chưa quy định
Và tại Điều 54 quy định về vấn đề Doanh nghiệp thuê lại lao động như sau:
“1 Doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải ký quỹ và được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động.
2 Thời hạn cho thuê lại lao động tối đa không quá 12 tháng.
3 Chính phủ quy định việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc
ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động.”
Trang 8Theo đó, doanh nghiệp muốn được cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại laođộng phải đáp ứng đủ các điều kiện như: Đã thực hiện ký quỹ 2 tỷ đồng; duy trìmức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định (2 tỷ đồng) trong suốt quátrình hoạt động; địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện phải ổn định
và có thời hạn ít nhất từ 02 năm trở lên; đồng thời, người đứng đầu doanh nghiệp,chi nhánh, văn phòng đại diện phải có lý lịch rõ ràng, có kinh nghiệm làm việctrong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 03 năm trở lên
Cũng tại Nghị định này, Chính phủ quy định Danh mục các công việc đượccho thuê lại lao động bao gồm: Phiên dịch, biên dịch, tốc ký; thư ký, trợ lý hànhchính; lễ tân; hướng dẫn du lịch; hỗ trợ bán hàng; hỗ trợ dự án; lập trình hệ thốngmáy sản xuất; dọn dẹp vệ sinh toà nhà, nhà máy; vệ sĩ, bảo vệ; lái xe
Việc cho thuê lại lao động nhằm đáp ứng tạm thời sự gia tăng đột ngột vềnhân lực trong khoảng thời gian nhất định; thay thế người lao động trong thờigian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc có nhu cầu sử dụnglao động trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Trong đó, không bao gồm các trườnghợp sau: Doanh nghiệp đang xảy ra tranh chấp lao động, đình công; thay thếngười lao động bị thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc sáp nhập, chia,tách doanh nghiệp; cho thuê lao động để làm việc ở những nơi có điều kiện khắcnghiệt
Thời hạn cho thuê lại lao động tối đa không quá 12 tháng Khi hết thời hạnnày, doanh nghiệp cho thuê không được tiếp tục cho thuê lại người lao động vớibên thuê lại mà người lao động thuê lại vừa hết thời hạn cho thuê lại
Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn thi hành về hoạt động cho thuê lại laođộng hiện nay được quy định trong một số văn bản pháp luật khác nhau Bêncạnh đó còn có nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính ph Nhiều quy định của các văn bản pháp luật về hoạt động cho thuê lại lao động và
Trang 9có nhiề ý kiến cho rằng đây chưa phải là thời điểm thích hợp cho Việt Nam thựchiện công tác ày Vì nó còn có quá nhiều bất cập mà quan trọng hơn là công tácthanh tra giám sát đang còn nhiều hạn chế Nội dung một số quy định còn chưamang tính thực tế, những mâu thuẫn trái ngược nhau về quy định mới này khôngphải là ít vì vậy chính phủ có quy định hợp pháp hóa vấn đề này là một tháchthức cho thị trường lao động Việt Nam.
Thứ nhất, ban hành các chế định pháp lý quy định cụ thể về vấn đề “cho thuê
lại lao động” là yêu cầu bức thiết từ thực tiễn
Luật chính là các quan hệ xã hội được hình thành trong cuộc sống và đượccác quy phạm pháp luật điều chỉnh Phải thừa nhận một thực tế rằng từ năm 2001nhu cầu “cho thuê lại lao động” đã xuất hiện tại nước ta và thực tế này càng pháttriển cùng làn sóng đầu tư Nước ngoài vào Việt Nam theo Luật Đầu tư nướcngoài năm 1996; Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư 2000 và Luật Đầu tư năm
2005 Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về lao động liên quan đến “cho thuê lại laođộng” chưa bắt kịp với thực tế Lục tìm trong tất cả hệ thống pháp luật nói chung
và pháp luật về lao động nói riêng chúng ta không thể tìm thấy một khái niệm về
“cho thuê lao động” hoặc các quy định tương tự
Thứ hai, khái niệm “cho thuê lại lao động” đã được gián tiếp thừa nhận trong
hệ thống pháp luật Việt Nam
Trang 10Điều này được thể hiện qua việc cấp phép một số ngành nghề như giúp việc,
vệ sỷ Thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã cung cấp chokhách hàng một hình thức dịch vụ mà người cần cung cấp dịch vụ được đơn vịcung cấp dịch vụ thực hiện thông qua cử đến những lao động làm việc trực tiếptại đơn vị được cung cấp dịch vụ Người vệ sỷ, lao công…là lao đông ăn lươngtrực tiếp từ đơn vị cung cấp dịch vụ trong khi làm việc và chịu sự điều hành củangười cần cung cấp dịch vụ Qua hoạt động này ta thấy bóng dang của quan hệ
“cho thuê lại lao động”
Thứ ba, trong biểu cam kết dịch vụ WTO của Việt Nam tại phân ngành E xuất hiện cam kết “cho thuê không kèm người điều khiển” Có cung tất nhiên phải
có cầu Có những đơn vị cung cấp máy móc, phương tiện, thiết bị… cho thuênhưng không kèm người điều khiển thì tất nhiên phải có các đơn vị cung cấpngười điều khiển Hoạt động “cho thuê lại lao động” không ngoài mục đích đó.Đây cũng là yêu cầu cấp thiết của việc sữa đổi các quy định pháp luật trong nướcphù hợp với tiến trình hội nhập
Thứ tư, các tập đoàn lớn khi đầu tư vào Việt nam để thực hiện các dự án có
quy mô lớn đòi hỏi khả năng và trình độ họ thường kéo theo các nhà thầu từ nướcngoài vào tạo thành một ekip thực hiện trọn gói dự án Các nhà thầu thường lànhững tổ chức ở nước sở tại và không có hiện diện tại Việt Nam Chính vì vậy,khi ký kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ qua biên giới và để được thực hiện cácgói thầu đó họ cần phải được cấp “Giấy phép thầu” và điều quan trọng nhất để họhoàn thành dự án của mình đó là vấn đề nhân công Việc hiện diện ở Việt Namvới tư cách pháp lý là các văn phòng điều hành thực hiện gói thầu Và một thực tế
là các thầu phụ này đã ký hợp đồng với các doanh nghiệp Việt Nam để được cungcấp nguồn nhân lực thi công Điều này là hoàn toàn hợp lý vì họ không có hiệndiện ở Việt Nam, công việc của họ theo thời vụ, việc thực hiện chế độ lao động(bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc) cho người lao động không thực sự thuận lợi…
Trang 11Việc xuất hiện một đơn vị trung gian thay họ thực hiện điều đó là hoàn toàn có lợicho ba bên: nhà thầu, nhà cung cấp dịch vụ và chính ngừời lao động Trong quan
hệ này ta cũng thấy bóng dáng của quan hệ “cho thuê lại lao động” một kháiniệm mà cho đến nay mới có giá trị pháp lí
Thứ năm, trên thực tế ở Việt Nam đã có các đơn vị hoạt động dưới danh
nghĩa là giới thiệu việc làm và cung ứng lao động Tuy nhiên, hoạt động này đơnthuần chỉ là “môi giới” Chủ sử dụng lao động vẫn phải ký hợp đồng lao độngtrực tiếp với người lao động Để đạt đến tầm một tổ chức chuyên cung cấp laođộng chuyên nghiệp cần phải có những tổ chức chuyên đào tào, quản lý và “chothuê lại lao động”
Thứ sáu, “Cho thuê lại lao động” thể hiện được sự chuyên môn hoá, chuyên
nghiệp hoá trên thị trường lao động
Như vậy, trên thực tế, vấn đề cho thuê lại lao động ở Việt Nam ta còn khámới mẻ nhưng trên thế giới đây được xem là vấn đề cần có để cung ưng dịch vụlao động giảm thiểu khả năng cháy lao động
1.3 Chủ thể của vấn đề cho thuê lại lao động
Bao gồm:
1 Doanh nghiệp cho thuê lại lao động
2 Bên thuê lại lao động
3 Người lao động thuê lại
4 Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động cho thuêlại lao động
Vậy theo điều 3 của nghị định 55/2013 – QĐ/CP ngày 22/05/2013
Trang 12“1 Doanh nghiệp cho thuê lại lao động là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động nhưng không trực tiếp sử dụng mà cung ứng người lao động của mình sang làm việc tạm thời cho người sử dụng lao động khác (sau đây viết tắt là doanh nghiệp cho thuê).”
Quy định về doanh nghệp cho thuê lại lao động là một điểm mới của ơhápluật lao động 2012 Là sự quy tụ kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và sựtìm hiểu về thực tiễn thị trường lao động khá kĩ lưỡng của các nhà làm luật
Hiện nay, trên thế giới đây là vấn đề không còn mới mẻ, điều này đã như làthường lệ của thị trường lao động không chỉ trên phương diện pháp lí, trên thựctiễn thị trường lao động Việt Nam đã có thừ lâu,tuy nhiên đây là lần đầu tiên vấn
đề này được luật hoá bằng các điều khoản, và các nghị định có liên quan
“ Bên thuê lại lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động trong một thời gian xác định và thuê lại lao động của doanh nghiệp cho thuê để bù vào chỗ làm việc thiếu hụt người lao động.”
Nhu cầu sử dụng và tuyển dụng lao động đối với các doanh nghiệp là rấtthiết thực, để đảm bảo vấn đề tìm kiếm và tuyển chọn nhân viên cho mình, cáccông ty, doanh nghiệp và cá nhân đã lựa chọn hình thức này để nhằm tiết kiệmthời gian, tiết kiệm chi phí cho vấn đề tuyển dụng lao động
Sở dĩ pháp luật đưa ra những quy định như vậy là vì sự chênh lệch về thù laogiữa các chủ thể hiện nay là quá lớn người lao động sẽ thiệt thòi à có thể sẽ bịcác nhà sử dụng lao động chèn ép sức lao động Khi quy định này được ra đời vàđược định nghĩa tức là nhà nước đã chạm tới vấn đề thù lao của người lao động
Trang 13và người cho thuê lại lao động thể hiện sự kiểm tra và giám sát tìm hiểu thịtrường trong nước và học hỏi của thị trường lao động các nước.
“nguời lao động thuê lại là người lao động có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ, đã ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê, được doanh nghiệp cho thuê cho thuê lại để làm việc theo sự điều hành của bên thuê lại lao động trong một thời gian xác định.”
Trước khi quy định này có hiệu lực thì thực tiễn đã diễn ra và diễn ra khá phổ biến
ở tất cả mọi nơi trên đất nước, nó tồn tại ở một dạng thức khác mà vô hình chung
nó không mang một các tên hay biển hiệ gì Người lao động có lợi là luôn duy trìcông việc của mình ổn định và không thất thường lương lọc và các khoản khácđuọc nhận khá đầy đủ Tuy nhiên nó có hạn chế là số tiềnngười lao động nhậnđuọc bèo bọt hơn nhũng gì họ tạo ra
1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động
Căn cứ vào điều 56 bộ luật lao động sủa đổi đổi sung 2012 thì Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động được hiểu là:
“1 Bảo đảm đưa người lao động có trình độ phù hợp với những yêu cầu của bên thuê lại lao động và nội dung của hợp đồng lao động đã ký với người lao động.
2 Thông báo cho người lao động biết nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động.
3 Ký kết hợp đồng lao động với người lao động theo quy định của Bộ luật này.
4 Thông báo cho bên thuê lại lao động biết sơ yếu lý lịch của người lao động, yêu cầu của người lao động.
Trang 145 Thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật này; trả tiền lương, tiền lương của ngày nghỉ lễ, nghỉ hằng năm, tiền lương ngừng việc, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật.
Bảo đảm trả lương cho người lao động thuê lại không thấp hơn tiền lương của người lao động của bên thuê lại lao động có cùng trình độ, làm cùng công việc hoặc công việc có giá trị như nhau.
6 Lập hồ sơ ghi rõ số lao động đã cho thuê lại, bên thuê lại lao động, phí cho thuê lại lao động và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.
7 Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động khi bên thuê lại lao động trả lại người lao động do vi phạm kỷ luật lao động.”
Như vậy, theo quy định của pháp luật để bảo đảm công ăn việc làm cho người lao động và các chủ doanh nghiệp đảm bảo tiến độ công việc người trung gian cho thuê lại lao động vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa mang lại lợi nhuận cho chính mình Việc họ cho thuê người lao động cũng không ngoài khả ăng tạo
ra nguồn thu hợp pháp mà của cải vật chất không phải do chính những người lao động trực tiếp tạo ra cho phía trung gian Để hiện thực hóa điều đó chúng ta sẽ sơ
đồ hóa vấn đề lên một cách khách quan nhất:
Trang 15Hình 2.
Nhìn vào sơ đồ ta có thể hiểu như sau: sự đồng điệu giữa các mắt xích cấutạo nên sự kết nối và tạo nên lợi nhuận từ các móc xích ấy Pháp luật Việt Namcông nhận và đưa ra những quy định để nhằm hợp thức hóa vòng quay này thànhluật Người cho thuê lại lao động là trung gian , là khâu chịu trách nhiệm về toàn
bộ những vấn đề sẽ đã và đang xảy ra đối với hai khâu còn lại đó là người laođộng, và người thuê lại lao động
Khi có một tranh chấp xảy ra giữa hai móc xích này người cho thuê lại laođộng phải đứng ra đề giải quyết vướng mắc này Vì hợp đồng được kí kết trườctiếp giữa người lao động và người cho thuê lao động và vướng mắc pháp lí sẽ làngười cho thuê lao động va người lao động Để luôn hoàn thành và giải quyếtnhanh gọn những vướng mắc trong quá trình người lao động làm việc cho ngườithuê lại lao động đòi hỏi phải có sự mềm dẻo trong quan hệ với mắt xích thứ ba(người thuê lại lao động)và sự cứng rắn đối với móc xích thứ nhất( người laođộng)
Trang 16Như vây, từ lí luận và thực tiễn để thấy rõ quyền và nghĩa vụ của người chothuê lao động, người cho thuê lại lao động thực hiện quyền với đối tượng nào vàthực hiện nghĩa vụ với đối tượng nào trong trong hợp như thế nào.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, ta cùng tiếp tục nghiên cứu phần tiếp theo đểchứng minh cho những điều đã đưa ra
1.3.2 Quyền và nghĩa vụ của người đi thuê lại lao động
Theo quy định của pháp luật lao động việt nam, tại Điều 57 bộ luật lao động sửa
đổi bổ sung 2012 về quyền và nghĩa vụ của bên thuê lại lao động thì:
“1 Thông báo, hướng dẫn cho người lao động thuê lại biết nội quy lao động
6 Trả lại doanh nghiệp cho thuê lại lao động người lao động không đáp ứng yêu cầu như đã thỏa thuận hoặc vi phạm kỷ luật lao động.
Trang 177 Cung cấp cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động chứng cứ về hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động thuê lại để xem xét xử lý kỷ luật lao động”.
Trong bất cứ trường hợp nào thì việc kí kết họp đồng cũng đều dưaạ trên cơ
sở thoả thuận trước khi thoả thuận xong thì hợp đồng mới được kí kết và mọi vấn
đề liên quan đên các chủ thể đều trên cơ sỏ pháp lí là hợp đồng Chính vì thế việc người lao động và người thuê lại lao động có những thoả thuận khác nào ngoài hợp đồng giữa người lao động và người cho thuê lại lao động mà vẫn đảm bảo đượcc tiến độ thi công của công việc mình làm thì mọi việc không còn là vấn đề phải bàn cãi Tuy nhiên trong trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng với người cho thuê lao động thì pháp luật đã có những chế định để bảo vệ quyền lợi cho người cho thuê lao động Pháp luật luôn công bằng với mọi chủ thể, bảo vệ người lao động nhưng cũng có chế định dành cho họ để dảm bảo quyền lợi của người sử dụng lao động Tất cả mọi chủ thể của vấn đề lao động luôn ảnh hưởng đến ba bên: người lao động, người cho thuê lao động và người thuê lại lao động
1.3 Mối quan hệ giữa các chủ thể của vấn đề cho thuê lại lao động
Với quy định cho thuê lao động sẽ giải quyết được tình trạng vừa thừa, vừathiếu giữa các doanh nghiệp Đồng thời giải quyết được vấn đề thất nghiệp chonhững người trong độ tuổi lao động tức là nó được xác lập, duy trì và chấm dứttrên cơ sở các quy định của Luật lao động ” Chủ thể của quan hệ pháp luật laođộng là các bên tham gia quan hệ pháp luật lao động gồm: người lao động, ngườicho thuê lao động và ngưởi thuê lại lao động hai cạnh của 1 vấn đề là người sửdụng lao động, ai là người trực tiếp sủ dụng lao động ai là người trưc tiếp trảlương cho người lao động mới quan hệ này liệu có thể là mối quan hệ song
Trang 18phương cùng cộng sinh để tồn tại hay không? Vấn đề này sẽ được làm rõ trongphần tiếp theo.
1.4 Điều kiện doanh nghiệp thực hiện quyền cho thuê lại lao động
Đây được xem là nghị định quy định có sức ảnh hưởng lớn đối với thịtrường lao động trong tình hình hiện nay Trên thực tế, đơn cử một vài công trìnhxây dựng lớn ở TP Hà Nội hoặc TP HCM, ngoài lực lượng nhân công của nhàthầu chính thì có đến cả trăm nhà thầu phụ và hàng vạn công nhân được thuê lại.Hàng chục triệu lượt lao động được thuê lại/năm nhưng chưa có chế tài nên quyềnlợi người lao động bị bỏ ngỏ Vì vậy, với sự ra đời của nghị định này, từ ngày15/7 tới, hàng triệu công nhân, lao động trong các doanh nghiệp hoạt động trênlĩnh vực cho thuê lại lao động phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe Điều này đồngnghĩa với việc quyền lợi của người lao động được đảm bảo trong nhiều trườnghợp như môi trường làm việc lẫn khi gặp tai nạn, rủi ro
Theo quy định, thời hạn cho thuê lại lao động tối đa không quá 12 tháng Chỉ có
17 danh mục ngành, nghề, công việc được phép thuê lại lao động thay vì hàngtrăm ngành nghề tự cho thuê tự phát như hiện nay Số công việc được thực hiệncho thuê lại lao động gồm: Phiên dịch/ Biên dịch/ Tốc ký; Thư ký/Trợ lý hànhchính; Lễ tân; Hướng dẫn du lịch; Hỗ trợ bán hàng; Hỗ trợ dự án; Lập trình hệthống máy sản xuất; Sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông; Vậnhành/kiểm tra/sửa chữa máy móc xây dựng, hệ thống điện sản xuất; Dọn dẹp vệsinh toà nhà, nhà máy; Biên tập tài liệu; Vệ sĩ/Bảo vệ; Tiếp thị/Chăm sóc kháchhàng qua điện thoại; Xử lý các vấn đề tài chính, thuế; Sửa chữa/Kiểm tra vậnhành ô tô; Scan, vẽ kỹ thuật công nghiệp/Trang trí nội thất; Lái xe
Song hành với việc quy định danh mục các ngành nghề cho thuê thì danhmục các trường hợp bị cấm thuê lao động cũng được nêu chi tiết Các trường hợp
bị cấm thuê lao động gồm: Doanh nghiệp đang xảy ra tranh chấp lao động, đình