1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam

15 347 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.Mở bài 1 B.Nội dung 3 I.Một số vấn đề cơ bản về Quyền im lặng ở Hoa Kỳ 3 1.Nguồn gốc hình thành và khái niệm của Quyền im lặng. 3 2.Căn cứ của quyền im lặng ở Hoa Kỳ 5 3. Phạm vi áp dụng quyền im lặng tại Hoa Kỳ 5 II. Các quy định về quyền im lặng trong pháp luật hoa kỳ 6 1.Nội dung của quyền im lặng trong pháp luật hoa kỳ 6 2. Điều kiện áp dụng quyền im lặng 7 3. Cảnh báo Miranda 9 4.Nguyên tắc “fruit of poisonous tree” (tạm dịch: quả trên cây độc) 10 5.Đánh giá lời khai 11 III.Một số kinh nghiệm cho Việt Nam 12 C. Kết bài 14 D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 14

Trang 1

A.Mở bài 1

B.Nội dung 3

I.Một số vấn đề cơ bản về Quyền im lặng ở Hoa Kỳ 3

1.Nguồn gốc hình thành và khái niệm của Quyền im lặng 3

2.Căn cứ của quyền im lặng ở Hoa Kỳ 5

3 Phạm vi áp dụng quyền im lặng tại Hoa Kỳ 5

II Các quy định về quyền im lặng trong pháp luật hoa kỳ 6

1.Nội dung của quyền im lặng trong pháp luật hoa kỳ 6

2 Điều kiện áp dụng quyền im lặng 7

3 Cảnh báo Miranda 9

4.Nguyên tắc “fruit of poisonous tree” (tạm dịch: quả trên cây độc) 10

5.Đánh giá lời khai 11

III.Một số kinh nghiệm cho Việt Nam 12

C Kết bài 14

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 14

Trang 2

A.M bài ở bài

Quyền con người, hay nhân quyền, là một giá trị cơ bản và quan trọng của nhân loại Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là đặc trưng của xã hội văn minh Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất cả mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của mọi người

Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật [1] Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc ứng xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý

Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người lại là nền tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm Và trong tố tụng hình sự (TTHS) cũng vậy, việc giải quyết vụ án hình sự không thể tách rời vấn đề bảo đảm quyền con người Bởi lẽ để buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định nhằm mục đích không để lọt tội phạm song cũng không làm oan người vô tội.Mà nền tảng của quyền con người, quyền công dân ở một số nước phát triển được thể hiện ở TTHS thông qua nguyên tắc quyền im lặng

Trang 3

Hiện nay thì các nhà nghiên cứu và xây dựng luật cũng chú tâm đến vấn

đề quyền im lặng trên thế giới, đặc biệt là quyền im lặng được thể hiện trong pháp luật hoa kỳ Vì vậy, trong phạm vi bài viết này em xin trao đổi về vấn đề

nhận được rất nhiều sự quan tâm trong thời gian qua đó là “Quyền im lặng

trong pháp luật Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam”

Trang 4

B.N i dung ội dung I.M t s v n đ c b n v Quy n im l ng ội dung ố vấn đề cơ bản về Quyền im lặng ấn đề cơ bản về Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ơ bản về Quyền im lặng ản về Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ặng Hoa Kỳ ở bài

1.Ngu n g c ồn gốc ố vấn đề cơ bản về Quyền im lặng hình thành và khái ni m c a Quy n im l ng ệm của Quyền im lặng ủa Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ặng

1.1 Ngu n g c hình thành quy n ồn gốc ố vấn đề cơ bản về Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng

Kết quả nghiên cứu công bố tại hội thảo do Liên đoàn Luật sư Việt Nam

tổ chức mới đây cho thấy, các học giả thuộc hệ thống thông luật(Common Law) nhận định “quyền im lặng” có thể ra đời từ giữa thế kỷ 17 ở nước Anh, như là sự phản kháng đối với Tòa án cung đình (Star Chamber) hay Tòa án giáo hội (Court of High Commission), đặc biệt chống lại việc áp dụng cực hình hoặc ép buộc khai báo, xét xử bí mật, không có luật sư bào chữa hoặc luật sư chỉ

có quyền bào chữa hạn chế Quyền này dựa trên quyền “không tự buộc tội” của

bị cáo Còn các học giả thuộc hệ thống dân luật (Civil Law) thì cho rằng quyền

im lặng bắt nguồn từ “quyền suy đoán vô tội”, nguyên tắc “ai buộc tội, người đó phải chứng minh” của luật La Mã cổ đại

Tuy vậy, phần đông nhiều người vẫn hiểu quyền im lặng xuất phát từ lời cảnh báo Miranda đã trở thành án lệ theo một phán quyết ngày 13/6/1966 của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Miranda kiện Arizona Theo đó, quyền im lặng bắt nguồn từ chính án thứ 5 (điều sửa đổi thứ 5 của Hiến pháp) của nước Mỹ, trong đó có câu: “Không người nào lại bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình”3 Nói cách khác, Hiến pháp Mỹ nhìn nhận quyền được tự bảo vệ mình của công dân Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã khuyến cáo cảnh sát rằng, trước khi thẩm vấn, cảnh sát phải thông báo cho nghi phạm hình sự biết những quyền của

họ như sau: “Anh cóquyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư,

Trang 5

nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư”

1.2 Khái ni m Quy n im l ng ệm của Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ặng

Theo từ điểm tiếng việt định nghĩa thì quyền là : Điều mà pháp luật hoặc

xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi Còn im lặng là không phát ra tiếng động, tiếng nói, dù đang có hoạt động không Không có một hành động gì, trước sự việc đáng lẽ phải có thái độ, phải có phản ứng

Còn theo luật học thì Quyền im lặng là một quyền hợp pháp được công nhận, một cách rõ ràng hoặc theo quy ước, trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới

Thuật ngữ "Quyền im lặng" (hay gọi là cảnh báo Miranda - Miranda warning) bắt nguồn từ Hoa Kỳ Có nhiều sự diễn giải về nguyên tắc này nhưng tựu trung lại bằng một câu "Không người nào bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình" Theo nguyên tắc này, người bị bắt giữ, trước khi thẩm vấn, phải được cho biết rõ ràng rằng người ấy có quyền giữ im lặng; bất cứ điều gì người ấy nói

sẽ được dùng để chống lại người ấy ở tòa án Người bị buộc tội chỉ có thể khai báo khi có mặt của luật sư Luật pháp công nhận quyền này căn bản phán xử dựa trên chứng cứ.Các chuyên gia cho rằng, quyền im lặng là một phương tiện quan trọng để hạn chế bức cung, nhục hình - nguyên nhân dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự Theo quyền này, một công dân được mặc định là vô tội cho đến khi các cơ quan pháp luật chứng minh được người đó có tội Quyền có luật sư bào chữa và quyền im lặng là 2 trong số các quyền cơ bản của con người

Như vậy ta có thể hiểu Quyền im lặng là quyền của nghi phạm,người bị kháng cáo trong một vụ án có quyền im lặng, không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hay tự buộc mình có tội

Trang 6

2.Căn c c a quy n im l ng Hoa Kỳ ứ của quyền im lặng ở Hoa Kỳ ủa Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ặng ở bài

Quyền im lặng là một trong những quyền đã được ghi nhận từ lâu trong pháp luật Hoa Kỳ và là một quyền cơ bản trong Hiến pháp Quyền im lặng được quy định tại Tu chính án 5 Hiến pháp Hoa kỳ ( phê chuẩn ngày 15 tháng

12 năm 1791) Ngoài ra còn được quy định cụ thể tại các đạo luật khác và Tại án

lệ Miranda và Arizona (1966)

3 Ph m vi áp d ng quy n im l ng t i Hoa Kỳ ạm vi áp dụng quyền im lặng tại Hoa Kỳ ụng quyền im lặng tại Hoa Kỳ ề cơ bản về Quyền im lặng ặng ạm vi áp dụng quyền im lặng tại Hoa Kỳ

Qua nghiên cứu pháp luật ở Hoa Kỳ thì ta có nhận thấy quyền im lặng là một quyền Hiến pháp cơ bản và nó không chỉ được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng ở Hoa Kỳ Mà quyền im lặng còn được áp dụng trong các thủ tục phi hình sự ví dụ như: TTDS, TTHC hoặc thủ tục lập pháp

Tại tố tụng hình sự thì quyền im lặng được chia ra làm các quyền nhỏ và tương ứng với mỗi quyền thì sẽ có phạm vi tác động khác nhau: Tại phiên tòa, bị cáo có một quyền im lặng tuyệt đối Năm 1965, Tòa án Tối cao đã quy định rằng

sự im lặng của bị cáo tại phiên tòa không thể bị xem như là bằng chứng có tội hoặc bị sử dụng theo hướng bất lợi đối với bị cáo

Còn trong các giai đoạn tố tụng trước phiên tòa, nghi phạm cũng có quyền được giữ sự im lặng tuyệt đối Năm 1966, phán quyết Miranda đã quy định rằng nghi phạm phải được cảnh báo về quyền im lặng của họ và nếu họ quyết định thực hiện quyền của mình thì sẽ không có cuộc thẩm vấn nào được diễn ra Nói cách khác, bị cáo và nghi phạm được trao cho quyền được giữ sự im lặng tuyệt đối mà không cần đưa ra bất kỳ lý do nào cho việc thực hiện quyền của mình Tuy nhiên, đối với quyền im lặng của người làm chứng, thì đây chỉ là một quyền tương đối Có nghĩa là, người làm chứng không thể giữ im lặng hoàn toàn, mà

họ có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi từ cơ quan có thẩm quyền Để có thể viện dẫn quyền im lặng, người làm chứng có nghĩa vụ chứng minh rằng việc trả lời một câu hỏi cụ thể nào đó có thể dẫn đến hệ quả là họ có thể bị truy tố từ thông tin có trong câu trả lời Như vậy, so sánh với bị cáo và nghi phạm, người làm chứng được trao quyền im lặng một cách hạn chế hơn

Trang 7

Cần lưu ý là, trong các thủ tục tố tụng phi hình sự, các Tòa án thường từ chối một sự im lặng tuyệt đối Người nào viện dẫn quyền im lặng từ Tu chính án thứ 5 phải chứng minh cơ sở hợp lý cho sự im lặng của mình, nghĩa là câu trả lời của họ có khả năng buộc họ phải chịu các trách nhiệm hình sự sau này Tóm lại, quyền im lặng là một quyền con người cơ bản, được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ Nội dung và phạm vi tác động của quyền này khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh pháp lý mà nó được vận dụng

II Các quy đ nh v quy n im l ng trong pháp lu t hoa kỳ ịnh về quyền im lặng trong pháp luật hoa kỳ ề cơ bản về Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ặng ật hoa kỳ

1.N i dung c a quy n im l ng trong pháp lu t hoa kỳ ội dung ủa Quyền im lặng ề cơ bản về Quyền im lặng ặng ật hoa kỳ

Tại Tu chính án 5 Hiến pháp Hoa kỳ ( phê chuẩn ngày 15 tháng 12 năm 1791) quy định: "Không người nào bị buộc phải trả lời về một tội có mức án tử hình hoặc một trọng tội nào khác, nếu không có một cáo tội trạng hay tố cáo trạng do một đại bồi thẩm đoàn đưa ra, ngoại trừ trong các trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân, hoặc trong hàng ngũ dân quân, khi đang thi hành công

vụ trong thời chiến hoặc khi có nguy hiểm cho quần chúng; và không người nào phải bị xử hai lần cho cùng một tội có thể đưa đến tử hình hoặc giam cầm; và trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng không phải bị ép buộc làm nhân chứng chống lại chính mình, và không thể bị tước đoạt sinh mạng, tự do, hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng thủ tục quy định của pháp luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng cho mục đích công cộng nếu không được bồi thường thỏa đáng"

Như vậy ta có thể hiểu quyền im lặng trong tố tụng hình sự, bao gồm ba quyền riêng biệt của ba chủ thể khác nhau:

a) Quyền im lặng của bị cáo, có chức năng bảo vệ bị cáo trước sự đòi hỏi của phía công tố buộc bị cáo phải đứng lên bục nhân chứng trong vụ án của chính mình

Trang 8

b) Quyền im lặng của người làm chứng, theo đó người làm chứng có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào nếu câu trả lời có thể dẫn đến một sự truy tố hình sự

c) Quyền im lặng của nghi phạm ngăn chặn các cơ quan công quyền

sử dụng các lời khai, lời nhận tội được thu thập không tự nguyện trong giai đoạn trước phiên tòa

Việc sử dụng "Quyền im lặng" bao gồm và từ chối trả lời mọi câu hỏi, vì mọi lời nói của một người đều có thể bị đem ra làm bằng chứng chống lại bản thân anh ta Ngoài ra theo Tu chính án 5 còn bắt công tố viên ngoài lợi khai bị cáo còn phải có bằng chứngkhác để chứng minh bị cáo có tội

2 Đi u ki n áp d ng quy n im l ng ề cơ bản về Quyền im lặng ệm của Quyền im lặng ụng quyền im lặng tại Hoa Kỳ ề cơ bản về Quyền im lặng ặng

Theo pháp luật Hoa Kỳ để có thể được bảo vệ bởi Tu chính án thứ 5, một hành vi phải có mang tính chất lời khai, tính chất tự buộc tội và tính chất bị cưỡng ép Nói cách khác, muốn sử dụng quyền im lặng bảo vệ thì hành vi đó phải đáp ứng được ba thành tố: tính chất lời khai, tính chất tự buộc tội và tính chất bị cưỡng ép

Thứ nhất, tính chất lời khai chưa được Tòa án tối cao của Hoa Kỳ đưa ra một khái niệm cụ thể cũng như giải thích nó Ở đây dựa trên thực tế những phán quyết của Tòa án có liên quan đến quyền im lặng thì ta có thể tạm hiểu là tính chất lời khai có thể bao gồm lời khai và những hành vi khác có thể tiết lộ suy nghĩ của một người Hay ta có thể hiểu quyền im lặng không chỉ bảo vệ lời khai

mà còn bảo vệ cả hành vi

Một ví dụ về hành vi mang tính chất lời khai thuộc về án lệ United States

và Hubbell, theo đó một lệnh yêu cầu Hubbell phải cung cấp tất cả các văn bản

có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn tiền hoặc các vật có gì trị khác được nhận hoặc cung cấp bởi Hubbell Để có thể thực hiện được lệnh này, Hubbell phải thực hiện việc suy nghĩ để xác định được tài liệu nào có liên quan

Trang 9

đến nguồn tiền hoặc vật có giá trị Vì vậy, hành vi yêu cầu cung cấp tài liệu trong trường hợp này là một hành vi mang tính chất lời khai

Ngoài ra ta có thể thấy những hành vi khác không tiết lộ sự suy nghĩ không thuộc phạm vi bảo vệ của quyền im lặng ví dụ như yêu cầu viết chữ, thực hiện một hành vi mang tính phản xạ, hoặc yêu cầu đứng ra để người khác nhận dạng, cung cấp mẫu máu, mẫu DNA, hoặc mẫu nước tiểu… không thuộc pham

vi bảo vệ của tu chính án thứ 5

Thứ hai , tính chất tự buộc tội có nghĩa là hành vi đó khiến cho chủ thể thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt Năm 1968 và

1983, Tòa án Tối cao đã ghi nhận rằng, yếu tố quan trọng nhất của quyền im lặng chính là liệu người thực hiện lời khai có phải chịu một trách nhiệm hình sự thực chất, hiện hữu hay không Quan trọng hơn, năm 1951, Tòa án Tối cao quy định rằng, quyền im lặng không chỉ bảo vệ trực tiếp đến các lời khai có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự, mà còn bảo vệ đến các chứng cứ khác có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự có nguồn gốc từ lời khai đó

Thứ ba, tính chất cưỡng ép, cơ sở để đánh giá tính chất cưỡng ép chính là

“có hay không ý chí tự do của người cho lời khai” Sự cưỡng ép có thể có nguồn gốc từ các thủ tục pháp lý chính thức như lệnh của thẩm phán, hoặc từ các sức

ép không chính thức Đối với sức ép không chính thức, sự cưỡng ép có thể xuất phát từ việc đe dọa, tra tấn hoặc từ sự hứa hẹn Đặc biệt là, ý niệm về cưỡng ép trong Tu chính án thứ 5 chỉ giới hạn ở cưỡng ép của Nhà nước, sự cưỡng ép tư nhân không thuộc phạm vi điều chỉnh của quyền im lặng Tuy nhiên, trên thực

tế, đôi khi hành vi của tư nhân lại đại diện cho quyền lực nhà nước, do đó nếu có một sự gắn kết chặt chẽ giữa quyền lực nhà nước và hành vi của tư nhân thì hành vi của tư nhân có thể được xem xét như là hành vi của Nhà nước Tóm lại, để có thể thực hiện quyền im lặng, ba tính chất lời khai, tự buộc tội và

Trang 10

3 C nh báo Miranda ản về Quyền im lặng

Trong lịch sử phát triển của quyền im lặng, án lệ Miranda đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của quyền này Trong suốt thời gian trước án lệ Miranda, các Tòa án Hoa Kỳ thường đánh giá lời khai của nghi phạm được thu thập trong phòng thẩm vấn của cảnh sát dựa trên trình tự tố tụng công bằng của Tu chính án thứ 14 nhưng án lệ Miranda 1966 đã chuyển trọng tâm của các tiêu chuẩn đánh giá lời khai sang quyền im lặng tại Tu chính án thứ 5 Tại án lệ Miranda và Arizona (1966), để giải quyết vụ án, Tòa án Tối cao phải trả lời một câu hỏi pháp lý rằng liệu quyền im lặng ở Tu chính án thứ 5 có phạm

vi tác động đến các cuộc thẩm vấn nghi phạm của cảnh sát hay không Cuối cùng, với tỷ lệ 5 - 4, câu trả lời của Tòa án tối cao là có

Như vậy lời cảnh báo Miranda đã trở án lệ theo một phán quyết năm 1966 của Tòa án tối cao Hòa Kỳ trong vụ Miranda kiện Arizona.Theo đó "Anh

có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư, nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư."

Lời cảnh báo Miranda thường được thông báo ngay sau khi nghi phạm bị bắt giữ Cảnh sát sẽ phải lập tức dừng việc thẩm vấn một người nếu : Sau khi người đó được cung cấp Lời cảnh báo Miranda

+ Nghi phạm nói rõ rằng anh ta không muốn trả lời, nói chuyện hoặc + Nghi phạm nói rõ rằng anh ta muốn nói chuyện với một luật sư

Quyền im lặng không chỉ dừng lại ở phòng thẩm vấn mà còn có cả tại tòa

án, bồi thẩm đoàn và công tố viên không được phép suy diễn việc bị cáo sử dụng Quyền im lặng có nghĩa là bị cáo có tội, quyền im lặng còn có thể được nhân

Ngày đăng: 19/03/2019, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w