- Ý nghĩa thực tiễn Về phương diện thực tiễn kết quả nghiên cứu cho ta biết được thuốc Agenda 25 EC sẽ giúp cho các xưởng mộc và các hộ gia đình biết được công dụng của thuốc có tác dụ
Trang 1NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN GỖ THÔNG NHỰA (Pinus latteri)
BẰNG THUỐC AGENDA 25EC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông Lâm kết Hợp
Khóa học : 2014-2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN GỖ THÔNG NHỰA (Pinus latteri)
BẰNG THUỐC AGENDA 25EC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học : 2014 -2018 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Tuyên
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên một tài liệu nào, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
ThS Nguyễn Thị Tuyên
Người viết cam đoan
Nguyễn Thị Hải Yến
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng dánh giá chấm
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Ðể hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường và thực hiện phương châm “học đi đôi với hành” Mỗi sinh viên khi ra trường đều cần trang
bị cho mình những kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Như vậy việc thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường, qua đó giúp sinh viên hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện hơn về mặt kiến thức luận, phương pháp làm việc, nãng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn
sản xuất, nghiên cứu khoa học
Từ những cõ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, chúng tôi đã tiến hành thực tập tại trường Ðại Học Nông Lâm Thái Nguyên thời gian từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018 với đề tài:
“Nghiên cứu bảo quản gỗ thông nhựa (Pinus latteri) bằng thuốc Agenda 25EC”
Trong thời gian thực tập ngoài sự cố gắng và nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và bạn bè Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Nguyễn Thị Tuyên đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn tôi vượt qua những khó khãn, bỡ ngỡ ban đầu để hoàn thành đề tài
Tôi xin cám ơn sự giúp đỡ của ban quản lý kí túc xá K3, K4 trường
ĐHNL Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè trong lớp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn
thành đề tài tốt nghiệp của mình
Do trình độ và thời gian có hạn, lại là bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu mới nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những kiến thức đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn
để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tương quan giữa nồng độ và lượng thuốc thấm vào gỗ
(phương pháp ngâm thường) 30 Bảng 4.2 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi quét thuốc Agenda 25
EC nồng độ 0,5% qua các tuần theo dõi 34 Bảng 4.3 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi quét thuốc Agenda 25
EC nồng độ 1% 35 Bảng 4.4 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi quét thuốc Agenda 25
EC nồng độ 1,5% 37 Bảng 4.5 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi quét thuốc Agenda 25
EC nồng độ 2% 39 Bảng 4.6 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi quét thuốc Agenda 25
EC nồng độ 2,5% 41 Bảng 4.7 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi ngâm gỗ với thuốc
Agenda 25 EC nồng độ 0,5% 44 Bảng 4.8 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi ngâm gỗ với thuốc
Agenda 25 EC nồng độ 1% 46 Bảng 4.9 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi ngâm gỗ với thuốc
Agenda 25 EC nồng độ 1,5% 47 Bảng 4.10 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi ngâm gỗ với thuốc
Agenda 25 EC nồng độ 2% 49 Bảng 4.11 Khả năng phòng nấm cho gỗ Thông khi ngâm gỗ với thuốc
Agenda 25 EC nồng độ 2,5% 51 Bảng 4.12 Hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC khi quét ở các nồng độ đối
với mối 53 Bảng 4.13 Hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC khi ngâm ở các nồng độ
đối với mối 55
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Tương quan giữa nồng độ của thuốc Agenda 25 EC với lượng
thuốc thấm 30 Hình 4.2: Hiệu lực khi quét thuốc Agenda 25 EC đến khả năng phòng nấm mốc 32 Hình 4.3 So sánh giữa mẫu có quét dung dịch thuốc Agenda 25EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 0,5% 33 Hình 4.4 So sánh giữa mẫu có quét dung dịch thuốc Agenda 25EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 1% 35 Hình 4.5: So sánh giữa mẫu có quét dung dịch thuốc Agenda 25EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 1,5% 37 Hình 4.6: So sánh giữa mẫu có quét dung dịch thuốc Agenda 25EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 2% 39 Hình 4.7: So sánh giữa mẫu có quét dung dịch thuốc Agenda 25EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 2,5% 41 Hình 4.8: Hiệu lực hki ngâm thuốc Agenda 25 EC đến khả năng phòng
nấm mốc 44 Hình 4.9 So sánh giữa mẫu có ngâm dung dịch thuốcAgenda 25 EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 0,5% 45 Hình 4.10 So sánh giữa mẫu có ngâm dung dịch thuốcAgenda 25 EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 1% 44
Trang 7Hình 4.11 So sánh giữa mẫu có ngâm dung dịch thuốcAgenda 25 EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 1,5% 48 Hình 4.12 So sánh giữa mẫu có ngâm dung dịch thuốcAgenda 25 EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 2% 47 Hình 4.13: So sánh giữa mẫu có ngâm dung dịch thuốcAgenda 25 EC với
mẫu đối chứng về khả năng chống lại sự xâm nhập của nấm ở
nồng độ 2,5% 52 Hình 4.14: Hiệu lực khi quét thuốc Agenda 25 EC lên gỗ thông đối với mối 54 Hình 4.15: Hiệu lực khi ngâm thuốc Agenda 25 EC với gỗ thông đối với mối 55
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC vii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ 4
2.1.2 Phương pháp bảo quản 5
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới14 2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam 16 PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp kế thừa 23
Trang 103.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 23
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực thuốc bảo quản ở các nồng độ khác nhau 26
3.4.4 Phương pháp xác định lượng thuốc thấm 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng thuốc Agenda 25 EC thấm vào gỗ 30
4.2 Hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC đến khả năng phòng nấm 32
4.2.1 Hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC khi quét đến khả năng phòng nấm 32
4.2.2 Hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC khi ngâm đến khả năng phòng nấm 43
4.3 Hiệu lực với mối của thuốc Agenda 25 EC trên gỗ thông 50
4.3.1 Hiệu lực khi quét thuốc Agenda 25 EC lên gỗ thông đối với mối 53
4.3.2 Hiệu lực khi ngâm gỗ thông với thuốc Agenda 25 EC đối với mối 54 PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Khuyến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 11như: Thông, Keo lai, Bạch đàn, Mỡ…
Thông là một trong các loài cây mọc nhanh được trồng nhiều với diện tích lớn ở nước ta Gỗ Thông có hình thức thân thẳng, vân thớ đẹp, gỗ màu nâu vàng, thớ thô, thẳng, nhẹ,… Nên được sử dụng vào nhiều các mục đích khác nhau trong lĩnh vực chế biến gỗ đặc biệt là để sản xuất đồ mộc Tuy nhiên, gỗ Thông chứa hàm lượng nhựa cao nên gỗ rất dễ bị mối, nấm mốc và nấm biến màu xâm nhiễm ngay sau khi chặt hạ cho đến suốt quá trình chế biến và sử dụng gỗ Mặc
dù nấm mốc, nấm gây biến màu gỗ không làm giảm sút tính chất cơ học song gỗ
bị nhiễm nấm sẽ bị giảm đáng kể về giá trị do màu sắc gỗ không đồng đều Do vậy, việc nghiên cứu lựa chọn thuốc và chế độ xử lý bảo quản phù hợp cho gỗ
Thông là rất cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ
Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nên hầu hết các loại gỗ rừng trồng rất rễ bị côn trùng và nấm gây hại ngay sau khi khai thác và trong quá trình chế biến và sử dụng Nhằm giải quyết vấn đề đó ngành chế biến lâm sản đã và
đang không ngừng nghiên cứu quy trình công nghệ bảo quản gỗ
Từ xa xưa dân ta đã biết ngâm gỗ, tre nứa xuống hồ ao, nước vôi,, hun khói, hong phơi gỗ, kê xếp gỗ ở những nơi thoáng gió, v v…trước khi sử dụng
Trang 12để kéo dài tuổi thọ của gỗ, kinh nghiệm đó ngày nay một số nơi và một số khâu trong chế biến lâm sản vẫn sử dụng khi chưa có đủ điều kiện dùng các biện pháp kỹ thuật Nhờ kỹ thuật bảo quản cổ truyền của cha ông kết hợp với khoa học vừa phòng chống vừa diệt các loại côn trùng, nấm phá hoại gỗ Cho đến nay, công nghệ bảo quản lâm sản được dựa trên những thành tựu khoa học thuộc các lĩnh vực chủ yếu: Sinh học và công nghệ sinh học, hóa học và công nghệ hóa học, Điều này cho thấy rằng bảo quản lâm sản là rất cần thiết và quan trọng trong sản
xuất cũng như đời sống hằng ngày
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
bảo quản gỗ Thông nhựa (Pinus latteri) bằng thuốc Agenda 25EC”
1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
Đánh giá được hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC đến khả năng phòng trừ
mối của gỗ thông
Đánh giá được hiệu lực của thuốc Agenda 25 EC đến khả năng phòng trừ
nấm của gỗ thông
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong công tác học tập
Thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế, củng cố lý
thuyết đã học và biết cách thực hiện một đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Đề tài mở ra hướng nghiên cứu bảo quản gỗ Thông bằng thuốc Agenda
25 EC nhằm để bảo quản, tẩy nấm mốc, biến màu gỗ
- Ý nghĩa thực tiễn
Về phương diện thực tiễn kết quả nghiên cứu cho ta biết được thuốc Agenda 25 EC sẽ giúp cho các xưởng mộc và các hộ gia đình biết được công dụng của thuốc có tác dụng bảo quản gỗ, tẩy nấm mốc và biến màu gỗ, biết được nồng độ pha thuốc Agenda 25 EC hợp lý và hiệu quả nhất Dựa vào kết quả này người dân có thể áp dụng biện pháp bảo quản gỗ đạt hiệu quả tốt nhất, góp phần
Trang 13bảo quản các sản phẩm làm từ gỗ nói riêng và phục vụ công tác bảo quản gỗ rừng trồng nói chung
Có thể làm tư liệu tham khảo cho các công trình xây dựng trong việc bảo quản gỗ thông khỏi bị nấm mốc và biến màu gỗ, hiệu quả sử dụng gỗ được lâu
dài và hiệu quả hơn
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ
2.1.1.1 Bảo quản gỗ
Bảo quản gỗ là biện pháp tổng hợp giữ gìn nhằm kéo dài thời gian sử dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tác động
không tốt của môi trường Bao gồm:
1) Bảo quản kỹ thuật là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho
gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: cách
ly gỗ với đất, nước, hơi ẩm; hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao
2) Bảo quản bằng hoá chất: là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lý trực tiếp sinh
vật hại gỗ
3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: dùng một số loài nấm, côn trùng để
diệt sinh vật hại gỗ [7]
2.1.1.2 Tầm quan trọng của công tác bảo quản
Gỗ, tre nứa, song mây là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và các đồ gia dụng thiết yếu khác Các lâm sản này được sử dụng không những ở vùng giàu tài nguyên lâm sản mà còn cả vùng rất hiếm tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và gỗ
Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các biện pháp hạn chế sự tấn công này như: Chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre, gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối với sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm Công nghệ bảo quản ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên
cứu cơ bản về sinh vật học
Trang 15Việc áp dụng công nghệ bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu:
Công nghệ bảo quản nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên Nhằm tăng giá trị sử dụng của các sản phẩm, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật gây hại như mối mọt, nấm mục, hà biển v.v gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng
Bằng các biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình sử dụng lâm sản
Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX Nó không những đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân [7]
2.1.2 Phương pháp bảo quản
2.1.2.1 Phương pháp ngâm thường
Đặc điểm chung: Ngâm gỗ vào thuốc bảo quản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp tẩm cổ điển nhất Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản khác trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự chuyển động của các phần tử thuốc từ dung dịch vào trong gỗ (lâm sản khác) nhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động dung dịch thuốc vào gỗ nhờ áp lực mao quản Hiện tượng thẩm thấu thường xảy ra ở gỗ hoặc tre có độ ẩm cao trên điểm bão hòa và ngâm trong dung dịch Các màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tử thuốc từ ngoài vào Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một số phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch thuốc Tốc độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này
phụ thuộc vào ẩm độ gỗ, tỷ lệ dung dịch, loại gỗ [10]
Trang 162.1.2.2 Phương pháp khuyếch tán
Đặc điểm chung: Nguyên lý cơ bản của phương pháp chính là quá trình
khuyếch tán của ion hoặc phân tử từ chế phẩm bảo quản vào gỗ
Khi gỗ có độ ẩm cao được ngâm vào dung dịch chế phẩm có tỷ lệ cao, hoặc quét cao xung quanh, do chênh lệch tỷ lệ các phân tử hoặc ion của chế
phẩm từ dung dịch chuyển vào sâu trong gỗ
Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, tỷ lệ dung dịch phải cao hơn gấp 2 - 3 lần
so với tỷ lệ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác [10]
2.1.2.3 Phương pháp nóng - lạnh
Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng dần và dãn nở thể tích Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nước sẽ thoát
ra khỏi gỗ
Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong
gỗ sẽ bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm chỗ sẽ nhỏ hơn Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ bị giảm, thấp hơn áp suất môi trường xung quanh Do sự chênh lệch áp suất này, dung
dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ [10]
2.1.2.4 Phương pháp chân không áp lực
Phương pháp này gồm hai quá trình:
Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lực thông thường 6 - 12.105pa
Hút chân không: Độ sâu chân không thường là 600 – 650 mmHg Cụ thể hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực Chân không
giữa các quá trình áp lực Chân không sau quá trình áp lực
Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng thấm chế phẩm của các loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại
chế phẩm, lượng thấm chế phẩm cần thiết…
Sự thay đổi của hai quá trình đã tạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như:
Phương pháp tế bào đầy, phương pháp tế bào rỗng, phương pháp bán dẫn [10]
Trang 172.1.2.5 Phương pháp bóc vỏ cây
Phương pháp này để hạn chế sự xâm nhập của mọt hại gỗ tươi và mối hại
vỏ cây, sau khi khai thác thường được bóc vỏ ( trừ một số loại gỗ chuyên dùng cần giữ vỏ) Bóc vỏ làm gỗ ráo mặt nhanh, ẩm độ giảm xuống tạo điều kiện bất
lợi cho các sinh vật hại gỗ tươi xâm nhập [10]
2.1.2.6 Phương pháp phơi, sấy gỗ
Gỗ phơi sấy là một biện pháp bảo quản lâm sản khỏi một số loại côn trùng hại gỗ tươi Gỗ có độ ẩm cao được xếp thành chồng lên nhau hoặc được xếp lên
đà kê để ngoài không khí hoặc cho vào lò sấy
Với phương pháp này, ngoài loại bỏ được những yếu tố gây hại do sinh
vật gây ra còn hạn chế được tác nhân phi sinh vật như cong vênh, nứt nẻ ở gỗ
Trong việc xếp đống gỗ để hong phơi tránh hiện tượng để ánh sáng chiếu hoặc gió lùa trực tiếp vào đầu của cây hoặc tấm ván gỗ Khi đó làm cho độ ẩm
thoát ra quá nhanh dẫn đến hiện tượng gỗ bị nứt đầu
Việc xếp thanh kê phải đúng kỹ thuật: kích thích các thành kê, khoảng cách giữa các thanh kê phải đều nhau, các thanh kê giữa các trồng ván phải thẳng hàng Khoảng cách giữa các thanh kê phụ thuộc vào loại gỗ, chiều dày tấm ván,
kích thước thanh kê thường dày 2.5 cm, rộng 5 - 6 cm [10]
2.1.2.7 Phương pháp hun khói, ngâm
Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm Phương pháp hun khói tre,
gỗ, song mây lên trên bếp giúp cho tre nứa, song mây khô nhanh, chống được mốc Mặt khác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương
tự như sản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt tre
Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt mốc Phương pháp này sẽ làm biến đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường và tinh bột có
trong tre, gỗ giảm đi [10]
Trang 182.1.2.8 Phương pháp tẩm cây đứng
Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ) Lợi dụng đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ, theo các mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyện nuôi cây Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa luyện và thay bằng dung dịch chế
phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bố trong cây [10]
2.1.2.9 Phương pháp thay thế nhựa
Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịch chuyển
được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ
Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch chế phẩm tiếp vào một đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ở đầu gốc và đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dần nhựa về một phía
và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống
Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân 5 - 12 ngày
Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ và tùy
theo thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem sử dụng
Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500kg/m3 dung dịch thuốc nước Có tỷ lệ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từng loại thuốc mà
Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng hao phí
của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử dụng ít
Tác dụng bảo quản: mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt Nó cũng có tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung những
Trang 19vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các
chỗ khe ngóc ngách quét [10]
2.1.3 Những vấn đề về thuốc bảo quản và nguyên liệu
2.1.3.1 Nguyên liệu gỗ
- Thông nhựa (Pinus latteri)
- Tuổi gỗ thông: 15 tuổi
- Một số tính chất và đặc điểm của gỗ Thông:
+ Ngoại hình: Cây Thông có vỏ màu nâu đỏ Gốc có màu sẫm hơn, khi già
bong thành từng mảng Cành non màu vàng nhạt hoặc hung, không có lông
+ Cấu tạo gỗ Thông: Gỗ Thông có lõi màu nâu vàng, gỗ giác và gỗ lõi phân biệt, thớ thô, không có lỗ mạch, quản bào chiếm 90% thể tích gỗ, chiều dài quản bào 3.29 0.59mm, tế bào mô mềm xếp dọc thân cây, tia gỗ sắp xếp theo chiều ngang thân cây chiếm 5-6% thể tích gỗ, số lượng ống dẫn nhựa dọc là 1.06 ống/mm2
- Các tính chất cơ, vật lý của gỗ Thông:
+ Sức co dãn của gỗ: Là sự thay đổi về kích thước của gỗ khi độ ẩm của
gỗ thay đổi trong khoảng từ 0% đến độ ẩm bão hòa thớ gỗ và ngược lại độ ẩm
bão hòa thớ gỗ xuống 0%
+ Khối lượng thể tích của gỗ: 0.45g/cm3
+ Giới hạn bền khi nén ngang thớ:
Nén ngang thớ toàn bộ theo chiều tiếp tuyến: 22 (Kg/cm2)
Nén ngang thớ toàn bộ theo chiều xuyên tâm: 22 (Kg/cm2)
Nén ngang thớ cục bộ theo chiều tiếp tuyến: 38 (Kg/cm2)
Nén ngang thớ cục bộ theo chiều xuyên tâm: 40 (Kg/cm2)
+ Độ cưỡng tính:
Độ cưỡng tính theo mặt cắt ngang: 500 (Kg/cm2)
Độ cưỡng tính theo mặt cắt xuyên tâm: 400 (Kg/cm2)
Độ cưỡng tính theo mặt cắt tiếp tuyến: 450 (Kg/cm2)
Trang 20+ Giới hạn bề khi uốn tĩnh:
Giới hạn bền theo chiều xuyên tâm: 420 (Kg/cm2)
Giới hạn bền theo chiều tiếp tuyến: 450 (Kg/cm2)
2.1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thấm thuốc của gỗ
+ Loại gỗ :
Sức thấm của các lại gỗ khác nhau Ngay trên cùng một cây gỗ ở gỗ giác
và gỗ lõi cũng khác nhau Do cấu tạo gỗ rất phức tạp, con đường dẫn dung dịch thuốc bảo quản chủ yếu là hệ thống mạch gỗ, quản bào và lỗ thông ngang Nếu kích thước của hệ thống này lớn thì sức thấm thuốc tăng Do vậy, khối lượng thể
tích là yếu tố cần quan tâm
Yếu tố trong cấu tạo gỗ ảnh hưởng đến sức thấm thuốc và thể bít Thể bít
là một loại chất chiết suất từ nguyên sinh cấu tạo nên, nó có vai trò như nút ngăn
cản chất lỏng đi vào ống mạch
+ Thời gian ngâm :
Thời gian ngâm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại thuốc…Ví dụ cùng một loại gỗ, ngâm cùng một loại thuốc, nhưng quy định về lượng thuốc thấm và độ sâu thấm thuốc khác nhau thì thời gian ngâm dài ngắn
khác nhau
+ Loại thuốc, lượng thuốc, nồng độ thuốc
Loại thuốc khác nhau thì lượng thuốc thấm và thời gian thấm thuốc là khác nhau Trong cùng một loại thuốc khi thay đổi nồng độ dung dịch, lượng thuốc bảo quản sễ ảnh hưởng tới khả năng thấm thuốc Có một vài trường hợp khi ngâm gỗ có độ ẩm cao với dung dịch thuốc nồng độ cao lúc này làm thay đổi quá trình thấm của thuốc vào gỗ Từ thấm theo nguyên lý mao dẫn sang thấm
theo nguyên lý khuếch tán
Trang 21+ Phương pháp quét :
Pha dung dịch thuốc về các tỷ lệ 0.5%, 1%, 1.5%, 2%, 2.5% Rồi quét các
tỷ lệ lên gỗ, sử dụng dụ cụ quét lên gỗ cho đủ lượng dung dịch bao phủ hết gỗ
rồi đem phơi để gỗ về độ ẩm <20%
2.1.3.3 Thuốc bảo quản
+ Yêu cầu của thuốc bảo quản :
- Độc hại cao với sinh vật hại lâm sản nói chung
- Ít độc hại với con người và gia súc
- Khả năng ổn định của thuốc lâu dài trong lâm sản khi sử dụng trong các
môi trường khác nhau
- Dễ thấm, thấm sâu vào lâm sản
- Không làm ảnh hưởng đến tính chất của gỗ và giảm tối đa khả năng bén
cháy của gỗ, không làm ảnh hưởng đến độ bền cơ học của gỗ
- Không ảnh hưởng đến màng keo dán và quá trình trang sức bề mặt
- Không ăn mòn kim loại
- Ít gây ô nhiễm môi trường
- Giá thành rẻ, thông dụng, dễ sử dụng
+ Cơ chế tác dụng của thuốc bảo quản với nấm:
Mỗi loài nấm có một ngưỡng độ ẩm thích hợp cho quá trình phát triển, ngoài ra còn các điều kiện khác như oxy, nhiệt độ, ánh sáng và độ pH Để phòng chống nấm gây hại lâm sản, người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm thay đổi điều kiện sống của nấm hoặc làm độc hóa nguồn thức ăn của nấm bằng các loại thuốc bảo quản lâm sản Thuốc bảo quản có hiệu lực đối với nấm khi được tẩm vào gỗ, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với gỗ không tẩm thuốc bảo quản, nó tước bỏ những điều kiện thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử nấm, hơn thế nữa thuốc bảo quản còn phá hoại ngay các bào tử nấm, các hoạt chất của chế phẩm bảo quản thấm vào các bào tử phản ứng với các thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không nảy mầm được Kết quả tổng hợp các tác động nói trên của thuốc bảo quản là làm cho nấm bị biến dạng
về hình thái hoặc bị tiêu diệt ngay trên gỗ tẩm thuốc bảo quản
Trang 22+ Cơ chế tác dụng của thuiốc bảo quản với côn trùng
Thuốc bảo quản dùng để phòng trừ côn trùng có thể xử lý diệt trực tiếp côn trùng hoặc bằng lớp hóa chất độc ngăn không cho côn trùng tiếp cận với nguồn thức ăn Cơ chế tác dụng của thuốc bảo quản đối với côn trùng là chế phẩm có thể làm tê liệt hệ thần kinh do chúng tiếp xúc trực tiếp với thuốc hoặc khi côn trùng ăn phải gỗ đã tẩm thuốc Thuốc có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn và
các men tiêu hóa trong ruột côn trùng làm cho thức ăn không tiêu hóa được
+ Cơ chế thấm thuốc bảo quản :
Quá trình thấm thuốc bảo quản vào trong gỗ là do một hoặc nhiều quá trình tác động vào đó là các quá trình mao dẫn, tác động khuếch tán hoặc do tác động áp lực từ bên ngoài Các tác động này, tùy từng trường hợp cụ thể nó có thể
độc lập hoặc cùng lúc xảy ra
+ Thấm do mao dẫn:
Theo tài liệu: lâm sản và bảo quản lâm sản, tập 2 của trường đại học Lâm
Nghiệp xuất bản 1992, thì quá trình mao dẫn được miêu tả như sau:
Khi ngâm gỗ vào trong môi trường là dung dịch bảo quản dung dịch thấm được vào trong gỗ là nhờ áp lực mao dẫn Hiện tượng này xảy ra khi gỗ có độ
ẩm dưới điểm bão hòa thớ gỗ Khi một vật rắn nhúng vào một dịch thể theo quy luật vật lý nơi tiếp giáp giữa dịch thể, chất rắn và không khí sẽ tạo ra bề mặt cong do sức căng bề mặt ngoài của chất lỏng và mức độ dính ướt của vật rắn nơi tiếp giáp giữa vật rắn và dịch thể tạo ra một góc và do đó xuất hiện hai loại áp lực mao quản thuận, nghịch khác nhau Khi áp lực mao quản thuận sự thấm thuốc sẽ kém và ngược lại khi áp lực mao quản nghịch thì sự thấm thuốc
sẽ tốt hơn
Trên thực tế, do tế bào gỗ có cấu tạo không đồng nhất, đẳng hướng và một
số loại gỗ còn có dầu nhựa cản trở sự thấm thuốc và việc xác định các thông số
sẽ gặp khó khăn
+ Thấm do khuếch tán:
Trang 23Quá trình khuếch tán là quá trình di chuyển vật chất từ pha này sang pha khác khi hai pha tiếp xúc trực tiếp với nhau Trong dung dịch quá trình khuếch tán làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất Do vậy, các phần tử ion thuốc bảo quản hòa tan trong nước sẽ chuyển động với một động năng trung bình của chuyển động tịnh tiến vào, áp suất đó do các phần tử gây lên Áp suất này gọi là áp suất thẩm thấu Trong ngâm tẩm gỗ vách tế bào gỗ có thể coi là màng bán thấm Vận tốc chuyển động của các phân tử hoặc ion phụ thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên Bằng
các phép đo chính xác, người ta đo được tốc độ chuyển động tỷ lệ với T (T là
nhiệt độ) Áp suất thấm thấu phụ thuộc vào T, nếu T tăng thì áp suất tăng
Đối với gỗ có độ ẩm cao, khi tẩm thuốc bảo quản, nước ở trong gỗ có xu hướng dịch chuyển ra dung dịch tẩm và các phân tử hoặc ion chất bảo quản sẽ
dịch chuyển vào gỗ
+ Thấm do áp lực từ bên ngoài:
Quá trình thấm này là do có áp lực được tạo ra từ bên ngoài tác động lên
bề mặt dung dịch thuốc hoặc bề mặt gỗ Áp lực này có thể được tạo ra bằng
những hình thức sau:
Dùng thiết bị tạo áp suất nén áp lực lên bề mặt dung dịch thuốc Trong thực tế người ta có thể kết hợp với rút chân không cho gỗ để tăng thêm độ chênh
lệch áp suất
Tạo ra chênh lệch cột áp giữa dung dịch thuốc và bề mặt gỗ bằng cách
nâng độ cao của bình đựng thuốc lên so với bề mặt gỗ một độ cao nhất định
Làm cho áp suất trong gỗ thấp hơn so vơi dung dịch thuốc ở bên ngoài bằng cách đun nóng gỗ lên cho nước và không khí trong gỗ thoát ra ngoài sau đó
làm lạnh đột ngột trong dung dịch thuốc
Vì vậy trong thực tế của công tác bảo quản lâm sản, cần chọn loại thuốc bảo quản và dung môi có khối lượng riêng nhỏ để cho quá trình thuốc thấm vào
gỗ được thuận lợi
Trang 242.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới
Ngay từ thời kỳ sơ khai, người Ai Cập đã biết dùng nhựa để bảo vệ gỗ trong công trình xây dựng, tránh cho gỗ không bị mục nát do các sinh vật gây ra
Từ lâu đời, người dân ở một số nước châu Á đã có biện pháp bảo quản rất độc đáo và hiệu quả đó là ngâm gỗ, tre nứa trong bùn ao Biện pháp này đã trở thành tập quán duy trì cho đến ngày nay Tất cả những giải pháp bảo quản lâm sản mang tính tập quán đó không mang lại hiệu quả bảo quản triệt để, bởi nguyên nhân gây nên sự phá huỷ lâm sản chưa được khám phá Đến khi những phát hiện của Pasteur và Kock đã chỉ ra rằng các vi sinh vật và côn trùng là những đối tượng sinh vật chủ yếu gây nên sự phá hủy cấu trúc lâm sinh thì định hướng tẩm vào gỗ và lâm sản bằng các hóa chất có độc tính với sinh vật gây hại mới được hình thành Việc ngâm tẩm gỗ nhằm kéo dài tuổi thọ mới ra đời cách
đây 300 năm [17]
Năm 1747, Emerson đã đề xuất dung chế phẩm dạng dầu để bảo quản gỗ, sớm hơn nữa là Zohann Glauder đã dung một loại nhựa để quét cho gỗ đã được đốt cháy một lớp mỏng Đến thế kỷ 19, một loạt sản phẩm hóa chất đã được sử dụng để tẩm gỗ như clorua thủy ngân HgCl2 (1805), clorua kẽm ZnCl2 (1815), sun phát đồng CuSO4 (1837)… Trong những thập niên trở lại đây, danh mục các sản phẩm hóa học dung cho bảo quản lâm sản ngày càng được bổ sung thêm Song chính trong quá trình phát triển đó, các hóa chất có độc tính cao đối với sức khỏe con người và môi trường đã dần bị loại bỏ Các hợp chất tổng hợp bằng con đường hóa học, chiết xuất từ thực vật, từ vi sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại lâm sản cao và an toàn với con người,
môi trường sống đã được ưu tiên nghiên cứu và đưa vào sử dụng [17]
Cùng với sự ra đời phát triển của các lĩnh vực khoa học sinh vật, nhiều loài nấm mốc, côn trùng, phá hại gỗ và lâm sản cũng đã được điều tra, phân loại Các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái đã làm tiền đề cho các nhà hoá học, công nghệ, nghiên cứu mở rộng các chế phẩm bảo quản, các
Trang 25biện pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản Một trong những thành tựu nổi bật về sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà nghiên cứu kỹ thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu diệt mối gây hại lâm sản trong các công trình xây dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt mối tận tổ Từ việc phát hiện ra đặc tính của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm lẫn nhau, một
số nhà khoa học của ấn Độ, Inđônexia đã nghĩ đến biện pháp dùng các chất hoá học xử lý lên con mối, nhờ đặc tính sinh học nói trên, mối sẽ truyền chất độc về tận tổ, tận hoàng cung của mối chúa Feytand (1949) cho biết cụ thể thêm rằng các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở dạng bột mịn có thể dùng làm thuốc để
gây cho mối chết bằng cách lây truyền [17]
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn các cơ sở lý luận để từ đó nghiên cứu các giải pháp phù hợp trong việc bảo
quản lâm sản
Christebsen (1951) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với khả năng khuếch tán của thuốc bảo quản gỗ và nhận định rằng: nhiệt độ tăng thì khả năng khuếch tán tăng, do khi nhiệt độ tăng thì khả năng linh động của điện tử phân ly
của thuốc bảo quản cũng sẽ tăng và do đó dễ khuếch tán vào gỗ [17]
Smith và Wiliam ( 1969) đã nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng khuếch tán của dung dịch thuốc bảo quản và có kết luận: độ ẩm gỗ
là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình khuếch tán của dung dịch thuốc bảo quản vào gỗ Khi độ ẩm gỗ thấp hơn 50% thì quá trình khuếch tán
xảy ra chậm [17]
Becker (1976) và Tamblyn ( 1985) đã tiến hành quan sát những nhân tố ảnh hưởng đến khuếch tán Vinden (1984) và Dickinson (1989) đã tiến hành nghiên cứu quá trình phòng mục gỗ bằng phương pháp khuếch tán và lưu ý cần phải đo đạc một cách tỷ mỷ độ ẩm của gỗ, nhiệt độ xử lý, tỷ lệ của dung dịch và
thời gian xử lý mới có thể xác định được chính xác các yếu tố ảnh hưởng [17]
Viden (1984) thông qua các thí nghiệm của mình đã kết luận rằng: quá trình khuếch tán chủ yếu xảy ra ở các mao mạch trong những tế bào rỗng Hàm
lượng nước trong gỗ cao thì tốc độ khuếch tán tăng [17]
Trang 26Năm 1990, Konabe trong một thí nghiên cứu của mình đã nhận định: trong xử lý ngâm tẩm, nếu gỗ quá khô phải làm cho gỗ ướt để cho độ khuếch tán
có hiệu quả cao nhất [17]
Hiện nay, công tác nghiên cứu về các chế phẩm bảo quản lâm sản đang tiếp tục được triển khai theo hướng loại bỏ các thành phần hóa chất độc, sử dụng
các hoạt chất có nguồn gốc từ thực vật và vi sinh vật
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam
Nghiên cứu biện pháp giữ gìn giá trị, nâng cao tuổi thọ của gỗ, lâm sản từ khi khai thác đến kết thúc quá trình sử dụng Để tránh cho gỗ không bị mục nát
và bảo vệ các công trình xây dựng Từ xa xưa cha ông ta đã biết bảo quản tre,
gỗ, bằng cách ngâm xuống ao bùn, gác lên gác bếp từ đó đúc rút kinh nghiệm qua nhiều đời, nhiều thế hệ và đã khẳng định " muốn làm nhà cho mình và cho
cả con cháu thì phải ngâm gỗ thật kỹ, thật chín", thời gian ngâm ít nhất là một năm Đây là những kinh nghiệm quý giá mà hiện nay vẫn còn phát huy giá trị và được áp dụng để bảo quản các sản phẩm lâm sản ở các vùng thôn quê Hiện nay, qua kiểm nghiệm, chúng ta đã lý giải được tre gỗ được ngâm dưới ao bùn có tác dụng làm cho các chất dinh dưỡng như tinh bột, đường bị phân huỷ, các chất còn lại chủ yếu là xenlulo, hemixenlulo, linhin Vì vậy, tre gỗ đã ngâm nước hoặc ngâm trong bùn có tác dụng phòng mọt, xén tóc song vẫn có thể bị mối xông hoặc bị nấm mục gây hại nếu sử dụng ngoài trời hoặc tiếp xúc với đất ẩm
bởi nguồn thức ăn của mối, nấm mục là xenlulo
Công tác nghiên cứu khoa học về bảo quản gỗ ở nước ta được khởi đầu bằng một số công trình nghiên cứu điều tra định loại một số sinh vật hại gỗ vào đầu thế kỷ 20 của một số nhà khoa học nước ngoài Cuối những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ 20, công tác nghiên cứu và biện pháp áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật bảo quản gỗ bằng hoá chất mới thực sự được triển khai rộng và tương đối đồng bộ Nhà nước đã có Nghị định số 10/CP (1960) qui định phải bảo quản
gỗ Khởi đầu của giai đoạn này là việc ra đời một xí nghiệp ngâm tẩm gỗ tà vẹt bằng Creosote theo phương pháp tẩm áp lực - chân không Sau đó, ở một số cơ sở
Trang 27chế biến sử dụng gỗ đã bắt đầu áp dụng với các phương pháp tẩm nóng lạnh, phun quét, ngâm thường Công tác nghiên cứu, thăm dò cũng đã được triển khai như xác định sức thấm chế phẩm bảo quản của một số loại gỗ Việt Nam, xác định khả năng chống hà phá gỗ tàu thuyền với một số chế phẩm bảo quản của bộ môn gỗ khoa Lâm học, tiền thân của Trường đại học Lâm nghiệp hiện nay, thí nghiệm về
phòng trừ con hà hại gỗ của Viện kỹ thuật giao thông bưu điện
Từ đầu những năm 1960 trở đi, công tác nghiên cứu về kỹ thuật bảo quản
gỗ và những vấn đề khoa học có liên quan, được triển khai có hệ thống tại phòng Bảo quản gỗ Viện nghiên cứu Lâm nghiệp dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo trực tiếp của cố kỹ sư Nguyễn Thế Viễn - Việt kiều từ Pháp trở về, là một trong những chuyên gia bảo quản gỗ đầu tiên ở nước ta Cũng vào thời gian này, một
số chuyên gia bảo quản gỗ của Đông Đức đã đến Việt Nam giúp đào tạo công nhân kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật bảo quản gỗ, triển khai thử về bảo quản gỗ ở
một số cơ sở sản xuất
Mặc dù lĩnh vực bảo quản lâm sản ở nước ta ra đời chậm hơn nhiều so với các nước Âu - Mỹ, song từ đó đến nay chúng ta đã tiếp thu và áp dụng có kết quả một số tiến bộ kỹ thuật bảo quản gỗ của các nước vào điều kiện cụ thể của nước
ta Các hướng nghiên cứu của lĩnh vực bảo quản lâm sản gồm:
Nghiên cứu về sinh vật hại lâm sản: Hệ sinh vật hại lâm sản ở Việt Nam hết sức đa dạng, do đó để hạn chế những tác hại về lâm sản sau khai thác, có nhiều công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Khảm, Lê Văn Lâm, đã điều tra, phân loại, đặc tính sinh học của côn trùng và nấm gây hại lâm sản chủ yếu Với kết quả nghiên cứu đạt được, đã xây dựng được khu hệ mối ở Việt Nam; Danh lục mọt xén tóc, mọt phá hoại tre, gỗ Việt Nam; Đặc điểm sinh học của các loài đại diện điển hình trong các nhóm sinh vật hại lâm sản nêu trên Những kết quả nghiên cứu về sinh vật gây hại lâm sản đã đặt ra cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phòng trừ và các quy trình kỹ thuật bảo quản
lâm sản
Trang 28Trong các loại côn trùng hại lâm sản, mối được đánh giá là đối tượng gây hại mãnh liệt nhất ở nước ta đối với nhà cửa, kho tàng, đê đập và cây trồng Do
đó đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các giải pháp để phòng và diệt mối Năm 1963, trước yêu cầu cấp bách phải xử lý mối cho các trụ sở cơ quan nhà nước Nguyễn Thế Viễn và các học trò đã vận dụng các phương pháp diệt mối của nước ngoài bằng cách đào hố nhử ở ngoài công trình, nếu có mối vào thì dùng DDT, thuốc nước hoặc hun hơi để diệt Cách làm đó đã hạn chế được phần nào sự xâm nhập của mối vào công trình, song không đạt kết quả với các tổ mối mới hình thành ngay trong công trình xây dựng Từ năm 1965 đến năm 1967, đề tài nghiên cứu kỹ thuật diệt mối công trình kiến trúc do Nguyễn Trí Thanh chủ trì đạt kết quả tốt đẹp Trên cơ sở kế thừa các thành tựu kỹ thuật đã có, tác giả đã
đi sâu nghiên cứu kỹ thuật diệt mối theo nguyên lý lây nhiễm và chế phẩm diệt mối lây nhiễm TM67 đã được đề xuất, đồng thời làm rõ cơ chế gây chết lây nhiễm cho toàn bộ tổ mối Hiệu quả của phương pháp lây nhiễm là diệt được hệ thống tổ phụ và tổ chính của mối mà không phải tìm tổ Kết quả nghiên cứu đã được thực tiễn tiếp nhận Đến nay hàng vạn công trình xây dựng như: Bệnh viện, trường học cơ quan, kho tàng, khách sạn đã được bảo vệ khỏi mối quá hoại Về mặt khoa học, có thể tự hào đây là công trình diệt mối thành công, độc đáo của
Việt Nam và khu vực
Nghiên cứu về kỹ thuật ngâm tẩm bảo quản: Đã khảo sát được độ bền tự nhiên và sức thấm của chế phẩm bảo quản của một số loài gỗ rừng tự nhiên Các kết quả đạt được đã là cơ sở cho việc phân nhóm gỗ ngâm tẩm, xây dựng quy trình ngâm tẩm bảo quản lâm sản cụ thể như: Quy trình bảo quản gỗ khúc từ rừng; gỗ tròn xuất khẩu; gỗ xẻ, gỗ đồ mộc; ván sàn, gỗ bóc lạng, gỗ xẻ xây dựng, bảo quản gỗ đóng tàu thuyền, chống hà cho tàu thuyền đi biển bằng gỗ, bảo quản
gỗ làm trụ mỏ, tà vẹt, xà điện, bảo quản tre dùng trong xây dựng, chống mốc cho song mây làm hàng thủ công mỹ nghệ kết quả qua tác động bảo quản đã kéo dài tuổi thọ cho tre, gỗ gấp 6 đến 10 lần tuổi thọ so với đối chứng
Trang 29Nghiên cứu chế phẩm bảo quản lâm sản: Trên cơ sở tham khảo các công thức chế phẩm bảo quản lâm sản của các nước trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo nghiệm hiệu lực của các loại chế phẩm bảo quản của nước ngoài và thay đổi tỷ lệ thành phần của chế phẩm cho đảm bảo hiệu lực phòng chống sinh vật gây hại lâm sản trong điều kiện đặc thù của Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã nhanh chóng được chuyển giao vào sản xuất, tạo thế chủ động về chế phẩm bảo quản lâm sản phục vụ cho nhu cầu sử dụng
Hiện nay, công tác nghiên cứu về chế phẩm bảo quản lâm sản đang tiếp tục được triển khai theo hướng loại bỏ các thành phần hóa chất độc hại, sử dụng các hoạt chất nguồn gốc từ thực vật và vi sinh vật Các chế phẩm đã được sử dụng theo hướng nghiên cứu này trong những năm gần đây gồm có: Chế phẩm sinh học diệt mối lây nhiễm DIMEZ (từ vi nấm Metarhizium), chế phẩm diệt mối lây nhiễm có nguồn gốc hóa học TEMICO, chế phẩm bảo quản lâm sản từ dầu vỏ hạt điều
Gỗ sau khi chặt hạ đã mất đi khả năng bảo vệ tự nhiên, chống lại sự phá hoại côn trùng và nấm Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, nơi mà điều kiện khí hậu hết sức thích hợp cho sự phát triển của sinh vật gây hại lâm sản thì tổn thất về lâm sản do sinh vật gây ra là rất lớn Mục đích của quá trình bảo quản là tác động vào lâm sản (có hoặc không có hoá chất) nhằm nâng cao khả năng kháng chịu đối với sinh vật gây hại, kéo dài thời gian sử dụng của lâm sản Đối với gỗ
sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất đồ mộc đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm phá hoại của sinh vật hại gỗ, các giải pháp kỹ thuật và loại chế
phẩm bảo quản phù hợp với điều kiện sử dụng lâm sản
Một số tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực bảo quản ở nước ta như sau:
Nguyễn Xuân Khu (1972), trong luận án PTSKH đã nghiên cứu chế độ tẩm gỗ dương ở độ ẩm khác nhau Tác giả đã nghiên cứu về mối tương quan giữa sức thấm thuốc với độ ẩm gỗ, tỷ lệ thuốc theo các chiều thớ gỗ khác nhau ở
gỗ giác, gỗ lõi Tác giả cũng đã rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa khoa học về bảo quản gỗ như: khi gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hòa sức thấm thuốc gỗ dương sẽ
Trang 30tăng dần khi độ ẩm giảm, ngược lại khi độ ẩm cao hơn 50% sức thấm thuốc sẽ tăng khi tăng độ ẩm Tác giả cũng kết luận sức thấm thuốc theo chiều xuyên tâm
lớn hơn chiều tiếp tuyến, gỗ giác lớn hơn gỗ lõi [4]
Nguyễn Chí Thanh (1985), đã tiến hành thử hiệu lực của thuốc bảo quản và
độ bền của gỗ trong điều kiện trên bãi thử tự nhiên Tác giả đã dùng 5 loại thuốc là XM-5B, LN3 , XM-5A, FBB và FBC để thử hiệu lực đối với 16 loài gỗ tự nhiên bằng 2 phương pháp: ngâm thường và áp lực chân không Tác giả kết luận: Hiệu
lực của thuốc phụ thuộc vào lượng thuốc thấm và điều kiện sử dụng [9]
Lê Vãn Lâm (1988) đã bước đầu nghiên cứu bảo quản cho ván dán ba lớp
gỗ trám trắng Tác giả tiến hành ngâm tẩm gỗ bóc bằng phương pháp nhúng với
5 công thức thuốc bảo quản có thành phần chủ yếu gồm PCP, Boax, NaF và CuSO4 tỷ lệ 5% Tác giả đã kết luận thuốc có hiệu lực phòng chống sự phá hoại
của sinh vật hại gỗ và ít ảnh hưởng đến màu sắc tự nhiên của gỗ [6]
Lê Duy Phương, Phan Thị Lương Ngọc (2003) đã tiến hành nghiên cứu tạo thuốc chống mốc cho lâm sản Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tạo các công thức thuốc mới để để khảo nghiệm hiệu lực phòng chống mối boron và mối fluo tỏ ra
có hiệu lực phòng mốc tốt hơn cả Công thức thuốc đảm bảo yêu cầu về hiệu lực
phòng chống mốc cho lâm sản và an toàn với môi trường [8]
Lê Văn Lâm, Bùi Văn Ái và các cộng tác viên (2005) đã tiến hành nghiên cứu bảo quản một số tre gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm cọc tiêu, xây dựng
cơ bản, nguyên liệu sản xuất đồ mộc và ván nhân tạo Đề tài đã bước đầu đánh giá được độ bền tự nhiên của 17 loại gỗ rừng trồng chủ yếu làm cơ sở định
hướng kỹ thuật bảo quản [5]
Bùi Văn Ái (2008) đã tiến hành đề tài "Nghiên cứu sử dụng dầu vở hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản", kết quả chỉ ra rằng khi sử dụng dầu vỏ hạt điều đã được xục khí clo ở tỷ lệ 10% có hiệu lực bảo quản tốt đối với côn trùng
nhưng ít có hiệu quả với nấm gây hại
Trên cơ sở tham khảo các công thức thuốc bảo quản lâm sản của các nước trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo nghiệm hiệu lực các thuốc
Trang 31bảo quản của nước ngoài và cải tiến thay đổi tỷ lệ thành phần của thuốc cho đảm bảo hiệu lực phòng chống sinh vật gây hại lâm sản trong điều kiện đặc thù của
Việt Nam
AGENDA 25EC là loại thuốc diệt mối bằng cách kiểm soát tổ mối bằng cách gây nhiễm các con mối đi kiếm ăn với liều hoạt chất cực thấp, ở liều cực thấp này mối chết chậm, trước khi chết chúng có thể truyền hoạt chất qua những con mối khác trong tổ Làm lan truyền hoạt chất khắp tổ mối gây nên số mối chết
đáng kể cho dù chính chúng không tiếp xúc trực tiếp với vùng đã xử lý thuốc
Điểm qua tài liệu đã được các nhà khoa học công bố, chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả trong nước cũng như trên thế giới đã nghiên cứu hàng loạt các công trình: từ nghiên cứu cơ bản của các cơ chế thấm thuốc bảo quản đến nghiên cứu các sinh vật hại gỗ, các loại thuốc bảo quản và các phương pháp bảo quản cho các loại gỗ Các công trình khoa học đã cho chúng ta những kiến thức vô cùng quý báu để hình thành những hướng nghiên cứu tiếp theo Hiện nay gỗ
tự nhiên ngày càng khan hiếm, thay vào đó là gỗ rừng trồng Nhưng chúng ta biết rằng gỗ rừng trồng đa số là những loài cây mọc nhanh, có khối lượng thể tích trung bình Do vậy, chúng dễ bị các tác nhân sinh vật và phi sinh vật gây hại Xuất phát từ lý do nên chúng tôi đã lựa chọn cây Thông làm đối tượng
nghiên cứu
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
- Gỗ Thông nhựa: 15 tuổi, lấy tại Phường Thanh Trường - Thành Phố
Điện Biên Phủ - Tỉnh Điện Biên
- Thuốc bảo quản: Agenda 25 EC
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Nguyên liệu:
+ Gỗ Thông nhựa (Pinus latteri)
+ Thuốc bảo quản gỗ Agenda 25 EC với nồng độ 0,5%, 1%, 1,5%, 2%, 2,5%
Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm: Sử dụng các trang thiết bị có trong phòng thí
nghiệm tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Phương pháp: Phương pháp quét
- Phương pháp ngâm tẩm: Phương pháp ngâm thường
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Khả năng phòng chống nấm mốc
+ Khả năng phòng chống mối
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
Địa điểm: Tại kí túc xá trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian: từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc diệt mối Agenda 25 EC tới
khả năng phòng trừ nấm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm thuốc diệt mối
Agenda 25 EC tới khả năng phòng trừ mối
Trang 333.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
Thu thập các thông tin về nhu cầu, yêu cầu nguyên liệu gỗ sản xuất đồ mộc, tình trạng xâm hại của nấm mốc đối với thông nhựa, tình hình sản xuất, công nghệ phòng, tẩy nấm mốc hại gỗ tại Việt Nam và trên thế giới qua các kênh: bài báo, tài liệu lưu trữ, truy cập các trang điện tử, tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin thu được làm cơ sở đề xuất kế thừa, tiêu chí đánh giá
chất lượng sản phẩm
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Yếu tố cố định:
+ Loại gỗ, tuổi gỗ, độ ẩm
+ Phương pháp, thời gian ngâm
+ Thuốc bảo quản
- Yếu tố thay đổi:
+ Tỷ lệ dung dịch thuốc bảo quản
3.4.2.1 Nguyên vật liệu
- Gỗ Thông: 15 tuổi từ gỗ tròn gia công thành các thanh có kích thước 15
x 20 x 240(mm)
- Xác định độ tuổi gỗ: Dựa vào hồ sơ trồng rừng của hộ gia đình, xác định
vòng năm sau khi chặt hạ
- Thuốc bảo quản gỗ Agenda 25 EC
+ Ưu điểm: Có khả năng pha loãng với nước ở bất cứ tỷ lệ nào
+ Nhược điểm: Có mùi nồng, có tác dụng dược ly riêng
- Phương pháp bảo quản:
+ phương pháp quét
+ Phương pháp ngâm thường
3.4.2.2 Công đoạn sơ chế gỗ
- Gia công gỗ thành các mẫu có kích thước 15 x 20 x 240 (mm)
- Phơi gỗ về độ ẩm từ 18 – 20%, dùng máy đo độ ẩm kiểm tra sau khi phơi xong
- Đánh số thứ tự lên thanh gỗ
Trang 34Hình 3.1 Gia công gỗ Hình 3.2 Đánh số thứ tự lên thanh gỗ
3.4.2.3 Các bước pha dung dịch thuốc Agenda 25 EC
- Bước 1: Chuẩn bị thuốc Agenda 25 EC, nước, dụng cụ pha thuốc, cân điện từ …
- Bước 2: Đong thuốc
- Bước 3: Pha 5l thuốc theo các nồng độ: 0.5%, 1%, 1.5%, 2%, 2.5%
+ Tỷ lệ 0.5%: 4975ml nước + 25ml dung dịch thuốc Agenda 25 EC 100% + Tỷ lệ 1%: 4450ml nước + 50ml dung dịch thuốc Agenda 25 EC 100% + Tỷ lệ 1.5%: 4925ml nước + 75ml dung dịch thuốc Agenda 25 EC 100% + Tỷ lệ 2%: 4900ml nước + 100ml dung dịch thuốc Agenda 25 EC 100% + Tỷ lệ 2.5%: 4875ml nước + 125ml dung dịch thuốc Agenda 25 EC 100%
Hình 3.3 Chuẩn bị thuốc
Agenda 25 EC
Trang 35- Trình tự quét, phun
+ Pha dung dịch theo tỷ lệ: 0.5%, 1%, 1.5%, 2%, 2.5%
+Thực hiện theo các bước pha
+ Quét đều dung dịch thuốc Agenda 25 EC đã pha lên bề mặt mẫu gỗ, sau
đó xếp lên giá kê
+ Quét lên kín mẫu gỗ và quét nhiều lần để đảm bảo lượng thuốc thấm
vào gỗ rồi đem phơi
+ Mẫu thử mối phơi khô đạt độ ẩm <20%
Trang 36+ Thời gian ngâm tẩm : 1 tuần (7 ngày)
+ Vớt nguyên liệu ra khỏi thùng tẩm xếp lên giá kê
+ Đối với mẫu thử lượng thuốc thấm, để ráo và tiến hành gia công, kiểm tra ngay
+ Đối với mẫu thử với mối phơi khô đạt độ ẩm < 20%
3.4.2.4 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm
- Cân kỹ thuật điện tử 3000 gam, độ chính xác 0.02 gam
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực thuốc bảo quản ở các nồng độ khác nhau
3.4.3.1 Đánh giá hiệu lực đối với nấm:
- Thuốc diệt mối Agenda 25 EC với nồng độ thử nghiệm 0,5%, 1%,
1,5%, 2%, 2,5%
- Quy cách mẫu: Mẫu gỗ Thông kích thước 15 x 20 x 240 (mm)
Trang 37- Số lượng mẫu khảo nghiệm: 220 mẫu trong đó nồng độ 0.5% thử nghiệm là 40 mẫu, nồng độ 1% thử nghiệm là 40 mẫu, nồng độ 1.5% thử nghiệm
là 40 mẫu, nồng độ 2% thử nghiệm là 40 mẫu, nồng độ 2.5% thử nghiệm là 40
mẫu và 20 mẫu đối chứng không ngâm, quét dung dịch
lượng mẫu
Tỷ lệ phần trăm diện tích bề mặt mẫu bị nấm mốc, biến màu (Tbm)
Tỷ lệ phần trăm diện tích bề mặt mẫu mục mềm (Tmm)
Tỷ lệ phần trăm hao hụt khối lượng mẫu (Thh)
Cách cho điểm từng chỉ tiêu (Tbm), (Tmm), (Thh) như sau:
+ Nếu các chỉ tiêu đạt từ 0% đến 30%: cho 1 điểm
+ Nếu các chỉ tiêu đạt từ 30% đến 60%: cho 2 điểm
Tổng hợp số điểm của 3 chỉ tiêu:
+ Công thức thuốc nào đạt 3 đến 4 điểm là thuốc tốt
+ Đạt 5 đến 7 điểm là thuốc có hiệu lực trung bình
+ Đạt 8 đến 9 điểm là thuốc có hiệu lực xấu
3.4.3.2 Đánh giá hiệu lực thuốc đối với mối:
- Thuốc bảo quản gỗ Agenda 25 EC với nồng độ 0,5%, 1%, 1,5%, 2%, 2,5%
- Mối thử: Mối nhà (coptotemes formosanus Shir)
Trang 38- Quy cách mẫu: Mẫu gỗ Thông kích thước 15 x 20 x 240 (mm)
- Số lượng mẫu khảo nghiệm: 180 mẫu trong đó nồng độ 0.5% thử nghiệm là 30 mẫu, nồng độ 1% thử nghiệm là 30 mẫu, nồng độ 1.5% thử nghiệm
là 30 mẫu, nồng độ 2% thử nghiệm là 30 mẫu, nồng độ 2.5% thử nghiệm là 30
mẫu và 30 mẫu đối chứng không ngâm, quét dung dịch
- Phương pháp xử lý mẫu: Tương tự như xử lý mẫu thử nấm, mẫu sau khi
xử lý, ngâm tẩm, để khô tự nhiên và xếp vào hộp theo thứ tự từng loại nồng độ
và mẫu đối chứng Đặt hộp chứa các mẫu thử vào nơi đang có mối hoạt động mạnh Sau thời gian 8 tuần, các hộp mẫu đưa ra đánh giá khi trong hộp có mẫu
đối chứng có 90% đã bị mối phá hủy hoàn toàn
- Chỉ tiêu đánh giá:
Hiệu lực của thuốc bảo quản đối với mối được đánh giá bằng cách cho
điểm dựa trên 3 chỉ tiêu so sánh giữa mẫu tẩm thuốc và mẫu đối chứng
+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn (Tv)
+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn rộng ≥ 1 cm2 (Tvr)
+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn sâu ≥ 1mm (Tvs)
Trang 39Cách cho điểm từng chỉ tiêu (Tv), (Tvr), (Tvs) như sau:
Phần trăm số mẫu có vết mối ăn đạt từ 0% đến 30%: cho 1 điểm
Phần trăm số mẫu có vết mối ăn đạt từ 30% đến 60%: cho 2 điểm
Tổng hợp số điểm của 3 chỉ tiêu:
+ Công thức thuốc nào đạt 3 đến 4 điểm là thuốc tốt
+ Đạt 5 đến 7 điểm là thuốc có hiệu lực trung bình
+ Đạt 8 đến 9 điểm là thuốc có hiệu lực xấu
3.4.4 Phương pháp xác định lượng thuốc thấm
- Trước khi tiến hành ngâm tẩm mẫu được đánh số theo thứ tự từ bé đến lớn và được ngâm thuốc Agenda 25 EC đã pha theo các nồng độ Sau đó tiến hành cân xác định khối lượng ban đầu mẫu gỗ, kết thúc quá trình tẩm để ráo mẫu
gỗ, cân xác định khối lượng mẫu sau khi tẩm thuốc bảo quản Để xác định lượng
thuốc thấm chúng tôi áp dụng công thức sau (Nguyễn Thị Bích Ngọc 2006) [7]
Trong đó:
mt: là lượng thuốc thấm trên một đơn vị thể tích
m2: khối lượng gỗ sau khi ngâm (Kg)
m1: khối lượng gỗ trước khi ngâm (Kg)
Trang 40Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng thuốc Agenda 25 EC thấm vào gỗ
Kết quả tổng hợp về lượng thấm của thuốc Agenda 25 EC đạt được khi ngâm gỗ thông có độ ẩm ≤ 20%, thời gian ngâm 1 tuần với phương pháp ngâm
thường, được ghi ở bảng 4.1 sau:
Bảng 4.1 Tương quan giữa nồng độ và lượng thuốc thấm vào gỗ
(phương pháp ngâm thường)