1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc tính cá nhân riêng biệt của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

25 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 54,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ là một hiện tượng văn học mà còn làmột hiện tượng văn hóa mang tính phổ quát của xã hội trên mọi phương diện, mọi thờiđại từ sau khi nó ra đời.. Đó là

Trang 1

Khoa khoa học xã hội và nhân văn Chương trình sư phạm ngữ văn



TIỂU LUẬN Học phần: Nguyễn Du và Truyện Kiều

ĐỀ TÀI: Đặc tính cá nhân riêng biệt của Thúy Kiều trong Truyện

Kiều của Nguyễn Du

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

II NỘI DUNG 2

2.1 Khái niệm đặc tính cá nhân riêng biệt của nhân vật 2

2.2 Khái quát về Nguyễn Du và Truyện Kiều 2

2.2.1 Khái quát về Nguyễn Du 2

2.2.1.1 Thời đại của Nguyễn Du 2

2.2.1.2 Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du 2

2.2.2 Khái quát về Truyện Kiều 3

2.3 Đặc tính cá nhân riêng biệt của Thúy Kiều 4

2.4 So sánh Thúy Kiều với các nhân vật nữ khác trong Truyện Kiều 13

2.4.1 Nhân vật Thúy Vân 13

2.4.2 Nhân vật Hoạn Thư 16

2.5 Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều 21 III KẾT LUẬN 22

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

I MỞ ĐẦU

I.1 Lý do chọn đề tài

II Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ là một hiện tượng văn học mà còn làmột hiện tượng văn hóa mang tính phổ quát của xã hội trên mọi phương diện, mọi thờiđại từ sau khi nó ra đời Truyện Kiều như là một hiện tượng văn hóa đã xuất hiệnnhiều hình thức tiếp nhận tác phẩm khác nhau của các thế hệ độc giả Nếu tầng lớpbình dân tiếp nhận Truyện Kiều bằng cách đọc hoặc nghe người khác đọc rồi nhớ vàthuộc; hiểu và lưu truyền; sử dụng tất cả những câu Kiều hay, phù hợp để vận vàonhững cảm xúc, tâm trạng của mình; chuyển hóa vào các hình thức sáng tác dân giannhư: tập Kiều, lẩy Kiều, đố Kiều, bói Kiều, nhai Kiều, thì tầng lớp trí thức cũng cóhướng tiếp nhận Truyện Kiều một cách bác học hơn như phê bình, đánh giá theo các

tư tưởng đạo đức Nho giáo; theo một số lý thuyết phương Tây như: phân tâm học, xãhội học, thi pháp – phong cách học,

III Bên cạnh đó, Truyện Kiều cũng là đề tài khơi nguồn cảm hứng cho hàng loạttác phẩm thuộc nhiều thể loại văn học nghệ thuật khác như: sân khấu, chèo, tuồng, cảilương, phim ảnh, hội họa, âm nhạc, đặc biệt là lĩnh vực thơ ca Về vấn đề nhân vậttrong Truyện Kiều, nhất là các nhân vật chính như Thúy Kiều, Thúy Vân, Từ Hải, từlâu luôn là đề tài gây nên nhiều ý kiến bình luận khác nhau của các học giả Đối vớicác nhà thơ đương đại chuyên và không chuyên, nhân vật Thúy Kiều lại là nguồn cảmhứng cho các sáng tác thơ ca của họ với những góc nhìn và cảm xúc khác nhau Cóthể nói, Nguyễn Du đã đưa nhân vật của mình từ trang văn mà bước ra cuộc đời Ông

đã xây dựng những hình tượng rất sống động, rất chân thực Chính vì vậy mà khôngbiết từ khi nào Truyện Kiều đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đờisống tâm hồn người Việt Nam nói chung và văn học nói riêng Trong chương trìnhgiáo khoa ở trường phổ thông, Nguyễn Du được đưa vào để giảng dạy với tư cách làmột tác giả lớn của nền thơ ca trung đại Việt Nam Vì vậy, việc tìm hiểu và phân tíchnhân vật Thúy Kiều để thấy được tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả, khắchọa tính cách nhân vật nói chung, nhân vật Thúy Kiều nói riêng Đồng thời việcnghiên cứu về nhân vật Thúy Kiều đại diện cho tuyến nhân vật chính diện giúp chođộc giả có cái nhìn chi tiết hơn và có sự so sánh giữa nhân vật Thúy Kiều với các nhânvật khác trong Truyện Kiều Điều này cũng rất cần thiết cho chúng ta khi trực tiếpgiảng dạy ở trường Trung học phổ thông trong thời gian sắp tới

Trang 4

IX NỘI DUNG

IX.1 Khái niệm đặc tính cá nhân riêng biệt của nhân vật

X Đặc tính cá nhân riêng biệt của nhân vật là những đặc điểm về tính cách,ngoại hình, lời nói, hành động và tâm hồn của nhân vật Nhờ nhân vật có những đặctính riêng biệt như vậy nên tác giả đã xây dựng thành công các hình tượng nhân vậtđiển hình, tạo dấu ấn sâu đậm cho các tác phẩm của mình

X.1 Khái quát về Nguyễn Du và Truyện Kiều

X.1.1 Khái quát về Nguyễn Du

X.1.1.1 Thời đại của Nguyễn Du

XI Nguyễn Du sinh ra trong thời đại có nhiều biến động dữ dội (cuối thế kỉXVIII - đầu thế kỉ XIX) Xã hội phong kiến Việt Nam đã đi đến hồi kết của sự khủnghoảng Phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên miên, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa

Tây Sơn “Một phen thay đổi sơn hà” Sau đó, phong trào Tây Sơn thất bại, chế độ

phong kiến triều Nguyễn được thiết lập Những thay đổi kinh thiên động địa ấy khiến

cuộc đời Nguyễn Du cũng chao đảo “thập tải phong trần” (mười năm gió bụi) đó đây.

Cuộc sống phiêu bạt đã đem lại cho ông vốn sống thực tế phong phú, thôi thúc ôngsuy ngẫm nhiều về xã hội, về thân phận con người để hướng ngòi bút vào hiện thực:

“Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” Đó là tiền đề

quan trọng cho sự hình thành tài năng và bản lĩnh sáng tác văn chương Những nămtháng lăn lộn cùng nhân dân, ông còn có dịp học hỏi, thu nhặt được nhiều vốn ngônngữ dân gian, đây là tri thức quý báu để tạo nên phong cách ngôn ngữ Truyện Kiều

XI.1.1.1 Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du

XII Nguyễn Du (1765–1820) Nguyễn Du tên tự là Tố Như, tên hiệu là ThanhHiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ (hay Hồng Sơn liệp hộ) Ông quê làng Tiên Điền,huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long Nơisinh là phường Bích Câu, thành Thăng Long (Hà Nội)

XIII Nguyễn Du sinh ngày 23/11/ Ất Dậu tức ngày 03/11/1766, trong một giađình đại quý tộc sa sút, nổi tiếng về đường khoa bảng, nhiều người đỗ đạt cao và làmquan to Gia đình Nguyễn Du có bề dày về lịch sử truyền thống văn học nghệ thuật.Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống văn hóa của nhiều vùng quê khácnhau Đó là tiền đề thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật của ông

XIV Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình đại qúy tộc vào loại bậc nhất lúcđương thời Dòng họ có nhiều đời làm quan dưới triều Lê - Trịnh, giữ nhiều chức vụquan trọng trong triều đình, nhiều người trong dòng họ còn viết sách, làm văn, làmthơ, dịch giả Sống trong gia đình giàu truyền thống hiếu học như thế, năng khiếuvăn học của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở, phát triển Thân sinh của Nguyễn

Du là ông Nguyễn Nghiễm vốn thông minh, học rộng, làm quan thường được thăng

Trang 5

thưởng, từng giữ đến chức Tể tướng trong triều đình Mẹ Nguyễn Du là bà Trần ThịTần, người vùng Kinh Bắc, vốn là vùng quan họ nổi tiếng Là một người con, Nguyễn

Du sẽ phần nào thừa hưởng tố chất thông minh từ thân sinh và tiếp thu tính dân tộccủa làng điệu dân ca từ mẹ Từ đó tạo thành một hồn thơ dân tộc Nguyễn Du

XV Nguyễn Du mồ côi bố mẹ từ sớm, phải đến ở với người anh là NguyễnKhản Nhưng chỉ vài năm sau, gia đình Nguyễn Khản cũng lao đao Thời gian sau này,Nguyễn Du về lại Tiên Điền, phải sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, chật vật Tại đây,nhà thơ có cơ hội tiếp xúc nhiều với tầng lớp bình dân, do đó gần gũi, thấu hiểu vàthông cảm cho cuộc sống nghèo khó, bị bóc lột của họ Vì thế, trong nhiều sáng táccủa Nguyễn Du, ngôn ngữ bình dân đóng một vai trò quan trọng

XVI Ngoài Truyện Kiều nổi tiếng, Nguyễn Du còn có các sáng tác: “Văn chiêu

hồn”, “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”, “Thác lời trai phường nón” viết bằng

chữ Nôm và ba tập thơ “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm”, “Bắc hành

tạp lục” viết bằng chữ Hán

XVI.1.1 Khái quát về Truyện Kiều

XVII Kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là tác phẩm được làmtheo thể lục bát, gồm 3254 câu thơ, viết về quãng đời 15 năm lưu lạc của một cô gáitài sắc nhưng bạc mệnh, họ tên là Vương Thúy Kiều Truyện Kiều ra đời vào khoảngnăm 1805-1809, lúc Nguyễn Du đang tại chức quan Đông các Nguyên tên của Truyện

Kiều là “Đoạn trường tân thanh”, là tác phẩm được viết dựa theo tác phẩm cổ của Trung Quốc tên là “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân.

XVIII Truyện Kiều được viết bằng cảm hứng nhân đạo có ý nghĩa xã hội rộnglớn và sâu sắc Cảm hứng nhân đạo ấy là nỗi đau nhân tình, được viết bằng nhận thức,suy nghĩ, đau đớn của Nguyễn Du về cuộc đời, con người Đó là bức tranh rộng lớn vềcuộc sống thời đại nhà thơ đang sống, nổi bật nhất là sự đối lập gay gắt giữa quyềnsống của con người với sự áp bức của chế độ phong kiến xưa.Tuy được viết dựa vàotác phẩm sẵn có nhưng khi sáng tác Truyện Kiều, Nguyễn Du không giữ lại toàn bộcác tình tiết mà chỉ giữ những tình tiết chính, biến cố chính, những gì là phù hợp với

bối cảnh Việt Nam So với “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân thì

Truyện Kiều có cách xây dựng nhân vật không khô khan, gò bó mà sinh động vàmang chiều sâu tâm trạng, các tình tiết trong Truyện Kiều cũng nhất quán hơn và có ýnghĩa xã hội sâu sắc

XIX Nguyễn Du còn đưa vào sáng tác của mình nhiều đoạn tả cảnh, tả tình đặcsắc Trong đó có nhiều đoạn tả cảnh được xây dựng rất thành công, có sức thu hút, layđộng lòng người Cảnh trong Truyện Kiều không những miêu tả được vẻ đẹp muônhình vạn trạng của thiên nhiên mà còn thể hiện được chiều sâu tâm trạng nhân vật.Đặc biệt, Truyện Kiều đã khẳng định một cách thuyết phục và đầy đủ về khả năng tolớn và phong phú của ngôn ngữ dân tộc

Trang 6

XIX.1 Đặc tính cá nhân riêng biệt của Thúy Kiều

XX Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo (nửa

cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX – cuối Lê đầu Nguyễn), là tiếng nói của thương cảmtrước số phận (thời đại) bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lựcxấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chânchính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lý, khátvọng tình yêu hạnh phúc…Tiếng nói nhân đạo ấy toát lên từ hình tượng nhân vậtThuý Kiều trong truyện Thuý Kiều Thuý Kiều là hiện thân của nỗi đau và bất hạnh.Nàng là một người con gái tài sắc, giàu tình cảm nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập,đoạ đày Nhân vật Thuý Kiều là hiện thân những bi kịch của người phụ nữ trong xãhội phong kiến trước đây Đời Kiều là một tấm gương oan khổ Số phận Kiều hội đủnhững bi kịch của người phụ nữ Tuy nhiên hai bi kịch lớn nhất ở Kiều là bi kịch tìnhyêu tan vỡ và bi kịch bị chà đạp nhân phẩm Tình yêu Kim Trọng - Thuý Kiều là một

tình yêu lí tưởng với “Người quốc sắc, kẻ thiên tài”, nhưng cuối cùng “giữa đường

đứt gánh tương tư”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng” Tình yêu tan vỡ và không bao giờ

hàn gắn được, tuy “màn đoàn viên” có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió thảm

mưa sầu” Hạnh phúc nàng toan được nắm trong tay thì cuộc đời cướp mất Kiều là

người luôn có ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng lại bị chà đạp về nhân phẩm

Nàng trở thành “món hàng” để kẻ buôn người họ Mã “cò kè bớt một thêm hai” Rồi nàng phải thất thân với những kẻ như Mã Giám Sinh, phải “Thanh lâu hai lượt thanh

y hai lần” Nỗi đau nhất của cuộc đời Kiều chính là:

XXI “Thân lươn bao quản lần đầu XXII chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”.

XXIII Có nỗi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn có ý thức về

nhân phẩm mà cuối cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm? Đời Kiều không phải chỉ làmột tấm bi kịch, mà là những chuỗi dài những bi kịch nối tiếp nhau, mỗi lần nàng cốcất đầu ra khỏi bùn nhơ là một lần bị dúi xuống, bị đạp xuống sâu thêm một tầng nữa.XXIV Thuý Kiều là hiện thân của một vẻ đẹp nhan sắc, tài hoa Sắc và tài củaKiều đã đạt tới mức lí tưởng Thể hiện vẻ đẹp và tài năng của Kiều, Nguyễn Du đã sửdụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lí tưởng hoá để trân trọng một vẻ đẹp.Thúy Kiều được miêu tả qua ngòi bút của Nguyễn Du là một người con gái có vẻ đẹpnghiêng nước nghiêng thành

XXV “Kiều càng sắc sảo mặn mà XXVI So bề tài sắc lại là phần hơn.

XXVII Làn thu thủy nét xuân sơn XXVIII Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

XXIX Một hai nghiêng nước nghiêng thành”.

Trang 7

XXX Vẻ đẹp của Kiều “sắc sảo mặn mà”, một giai nhân tinh anh linh hoạt và đằm thắm mặn mà Một nhan sắc rực rỡ và cũng có thể dùng cả từ “nồng nàn”, “hấp

dẫn” bởi bên trong ẩn giấu sự thông tuệ và một tâm hồn phong phú, một trái tim giàu

xúc động Đôi mắt Thúy Kiều sáng long lanh như nước mùa thu, lông mày đẹp thanh

tú như dáng núi mùa xuân Tác giả không tả nhiều về Kiều mà chỉ xoay quanh đôi mắt

nàng bởi lẽ đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, là sự tinh anh của trí tuệ Hình ảnh “làn thu

thủy nét xuân sơn” đã làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều, một vẻ đẹp tuyệt diệu Nàng

Kiều đẹp đến mức “nghiêng nước nghiêng thành”, đến “hoa” cũng phải “ghen” vì

“thua thắm”, “liễu” cũng phải “hờn” vì “kém xanh” Tả Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút

pháp đặc tả đôi mắt để qua đó nói lên vẻ đẹp trong thế giới tâm hồn, nhân cách củanhân vật Kiều đẹp đến mức hoa ghen liễu hờn, thiên nhiên cũng sinh lòng đố kị, vìthế mà số phận long đong cực khổ Điều này cho thấy sắc đẹp của Kiều đã đạt đến độhoàn mĩ

XXXI Kiều không chỉ có vẻ đẹp quốc sắc thiên hương mà nàng còn là một

người con gái tài năng, “cầm kỳ thi họa” đều giỏi giang:

XXXII “Thông minh vốn sẵn tính trời XXXIII Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

XXXIV Cung thương làu bậc ngũ âm XXXV Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.”

XXXVI Ánh sáng trí tuệ là yếu tố nổi bật trong tài hoa của Thúy Kiều, cách đưa

từ ngữ “thông minh” lên vị trí ở đầu câu đã khiến từ ngữ này trở thành “nhãn tự”, có

tác dụng biểu đạt một nhân cách Cả ba người đàn ông đi qua đời nàng đều bị lôi cuốnmạnh mẽ không chỉ vì sắc đẹp và phẩm cách, mà còn vì trí tuệ sắc sảo, tài thơ mẫntiệp và tiếng đàn nồng nhiệt của cô gái họ Vương:

XXXVII “Hoa hương càng tỏa thức hồng, XXXVIII Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu.”

XXXIX “Hương càng đượm, lửa càng nồng

XL Càng sôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen.”

XLI Kiều giỏi về âm luật, giỏi đến mức "làu bậc" Cây đàn mà nàng chơi là cây

Hồ cầm; tiếng đàn của nàng thật hay "ăn đứt" bất cứ nghệ sĩ nào Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một "thiên bạc mệnh" nghe buồn thê thiết "não nhân", làm cho lòng người sầu não, đau khổ Các từ ngữ: “sắc sảo, mặn

mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, hoạ hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân” đã tạo nên một hệ thống ngôn

ngữ cực tả tài sắc và hé lộ, dự báo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:

XLII "Một vừa hai phải ai ơi!

Trang 8

XLIII Tài tình chi lắm cho trời đất ghen".

XLIV Đằng sau bút pháp nhân cách hóa thiên nhiên như ghen ghét, giận hờn

của hoa, của liễu… là tạo hóa, là cuộc đời đang mai phục để bắt Thúy Kiều phải trảgiá cho nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành và cho trí tuệ tài hoa có một không haicủa nàng Điều đó được thể hiện ở việc khi bị số phận đưa đẩy đến lầu xanh hai lần,Thúy Kiều đã không chọn cái chết để bảo toàn tiết hạnh mà chịu những đau đớn, tủinhục của kiếp sống kỹ nữ Tài đàn, thơ của Kiều có thể là những kỉ xảo thuộc phạmtrù công dung ngôn hạnh của người phụ nữ truyền thống Nhưng qua câu thơ của

Nguyễn Du, tài hoa đó trở thành sở trường năng khiếu riêng biệt “ Nghề riêng ăn đứt

của này” Hơn thế nữa còn là thiên hướng cảm hứng của tâm hồn Thúy Kiều, Một

thiên bạc mệnh là khúc nhà riêng biệt của nàng Cung đàn bạc mệnh ấy là trái tim đasầu đa cảm, là trí tuệ sắc sảo nhận thức về số phận hồng nhan nói chung và dự cảmsáng suốt về số phận của nàng nói riêng Trong toàn bộ cầm kì thi họa, Nguyễn Du đi

sâu khắc họa tài đàn và cung đàn bạc mệnh của Thúy Kiều “Một thiên bạc mệnh lại

càng não nhân” Nội dung hàm ý của từ “não” diễn đạt nỗi buồn tự trong tâm Trong

đỉnh điểm bi kịch của đời nàng, Thúy Kiều đã nhớ đến chặng đời niên thiếu mà nàng

đã sớm dự cảm về thân thế qua cung đàn bạc mệnh này:

XLV “Thưa rằng bạc mệnh khúc này XLVI Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ XLVII Cung cầm lựa những ngày xưa, XLVIII Và gương bạc mệnh bây giờ là đây”

XLIX Kiều quả là một người tài hoa, “thi họa”và “ca ngâm” nàng đều giỏi Nàng rất có tài và tài nào cũng đạt đến đỉnh cao Vôn tính thông minh trời ban “làu

bậc ngũ âm”, tài năng trí tuệ thật đáng ngưỡng mộ Một người con gái vừa xinh đẹp

lại có nhiều tài như Kiều quả là hiếm có, đáng trân trọng hơn một viên ngọc quý Sắc– Tài – Tình đã trở thành một chuỗi dây oan nghiệt, Tạo hóa đã phú bẩm cho ThúyKiều quá nhiều phẩm cách đẹp đẽ với uy lực vô song, trời xanh sẽ đầy đọa, vùi dập

nàng đến cùng để thực hiện thiên lí “bỉ sắc tư phong”, để thực hiện lẽ công bằng:

L “Có đâu thiên vị người nào,

LI Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.

LII Có tài mà cậy chi tài, LIII Chữ tài liền với chữ tai một vần.”

LIV Không chỉ vậy, Kiều còn có tâm hồn trong sáng và một trái tim đa sầu đa

cảm, một tâm trạng bi kịch Khi đi du xuân cùng Thúy Vân, gặp mộ Đạm Tiên - ngườiphụ nữ xấu số không quen biết, Kiều đã tỏ lòng thương cảm, cảm thông và chia sẻ vớimột người xa lạ, Kiều đã cảm thấy rất buồn và thương cho nấm mộ Đạm Tiên bên

Trang 9

đường cỏ mọc hoang, không ai chăm sóc Đó là một người con gái mang kiếp cầm ca,sống thì bị dè bỉu, chết đi thì nấm mồ cũng vẫn cô đơn hiu quạnh.

LV “Kiếp hồng nhan có mong manh, LVI Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.”

LVII Phải chăng, cũng từ đây mà một cơn giông tố đang sắp ập đến trên đầungười thiếu nữ vô tội Nấm mồ hoang kia phải chăng như một sự báo thức, như đánhdấu bước ngoặt cuộc đời của Kiều:

LVIII “Đau đớn thay, phận đàn bà, LIX Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…”

LX Ngoài ra, Thúy Kiều còn là một người hiếu thảo, nàng sống luôn biết kínhtrên nhường dưới, là người sống có hiếu với mẹ cha Điều đó được thể hiện rõ nhấtkhi gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều đã hi sinh thân mình, quyết bán mình để cứu cha

và em trai thoát khỏi cảnh tù tội Chữ hiếu của Kiều luôn đặt cao hơn tất cả và đượcthể hiện bằng hành động:

LXI “Quyết tình nàng mới hạ tình, LXII Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.”

LXIII Trong suốt quãng đời lưu lạc, lúc nào Kiều cũng sống trong băn khoăn

day dứt vì không làm tròn trách nhiệm của người con đối với cha mẹ Khi bị giamlỏng ở lầu Ngưng Bích, Kiều cũng không thể nguôi nhớ về cha mẹ, nàng nghĩ tới cha

mẹ ở quê nhà và lo lắng suy tư không biết ai sẽ là người chăm lo cho cha mẹ khi vềgià, lúc tuổi cao sức yếu:

LXIV “Xót người tựa cửa hôm mai, LXV Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

LXVI Sân Lai cách mấy nắng mưa, LXVII Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”

LXVIII Tưởng tượng ra hình ảnh “tựa cửa” của mẹ cha ngày ngày vò võ ngóng

trông trong sự chờ mong khắc khoải, nàng nhớ tới Sân Lai và “gốc tử”, tất cả đã đổi

thay Đó là dấu hiệu của thời gian dần trôi qua lặng lẽ, cũng là lúc cha mẹ rồi sẽ dầndần già yếu Nghĩ tới đây thôi Kiều đã day dứt khôn nguôi Đó cũng chính là nỗi niềmđau đáu của đứa con đầu lòng không được phụng dưỡng mẹ cha lúc tuổi già sức yếu,

không giữ trọn đạo hiếu làm con Kiều không biết giờ này ở quê, ai sẽ là người “quạt

nồng ấp lạnh” cho cha mẹ Tới đây, người đọc càng thấy cảm thông và trân trọng

Thúy Kiều hơn Bởi dù nàng đã hi sinh bản thân để cứu gia đình, cứu cha mẹ nhưngvẫn luôn đau đáu nhớ về cha mẹ Nàng quả là một người con gái có tấm lòng hiếuthảo và nhân hậu đáng trân trọng

Trang 10

LXIX Trước tai họa bất ngờ của gia đình, cha bị vu oan, bị tra tấn dã man; nhàcửa bị lũ sai nha đầu trâu mặt ngựa cướp phá tan hoang, trái tim Kiều đau đớn như bị

xé ra từng mảnh:

LXX “Rường cao rứt ngược dẩy oan, LXXI Dẫu là đá cũng nát gan lọ người.”

LXXII Bị bọn quan lại tham nhũng đẩy vào thế cùng: “Có ba trăm lạng việc

này mới xong” Không còn cách nào khác, Kiều đã đi đến quyết định hành động

ngoài dự tính của mọi người, ngoài dự tính của chính bản thân nàng đó là bán mìnhchuộc cha Kiều đã gạt chữ tình sang một bên để đáp đền chữ hiếu, mặc dù mối tìnhđầu đời trong trắng, thiêng liêng với Kim Trọng được coi là lẽ sống của đời nàng Suốtmười lăm năm lưu lạc nơi đất khách quê người: Khi Vô Tích, khi Lâm Tri, Nơi thì lừa

đảo, nơi thì xót thương; lênh đênh chìm nổi: “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”,

nhưng không lúc nào Kiều nguôi nhớ đến gia đình và cha mẹ Lúc ở lầu Ngưng Bích,

xa nhà chưa bao lâu mà nàng tưởng như đã trải qua biết mấy nắng mưa Kiều nhớ tới

cha mẹ với những tình cảm chân thực Nàng tưởng tượng bóng dáng tội nghiệp “Tựa

cửa hôm mai” của người sinh dưỡng nàng Kiều day dứt không nguôi vì một nổi là

không được chăm sóc cha mẹ già Thuý Kiều là người chí tình chí nghĩa “Ơn ai một

chút chẳng quên” Khi có điều kiện, nàng đã trả ơn, hậu tạ những người cưu mang

mình, nhưng nàng vẫn thấy công ơn đó không gì có thể đền đáp nổi

LXXIII “Nghìn vàng gọi chút lễ thường LXXIV mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân”

LXXV Nàng đau khổ cho mình và cũng đau khổ cho cha mẹ Lúc bán mình,nàng cứ nghĩ rằng mình chỉ đem thân làm thiếp, làm vợ lẽ người ta chứ đâu đến nỗi ônhục như vậy! Nàng ân hận bởi bổn phận làm con không vẹn Dù rằng ở nhà đã có hai

em, nhưng chăm sóc cha mẹ là bồn phận của người con gái lớn trong nhà Tấm lònghiếu thảo của một người con như thế quý biết bao, thương biết bao! Lúc khuyên cha,Kiều đã dùng đến mấy lời khuyên về đạo làm con của Nho gia nhưng chữ hiếu củaKiều không phải chỉ là chữ hiếu phục tòng Nó đơn giản nhưng hồn nhiên và sâu thẳmbởi nó là chữ hiếu của tình thương, của trái tim Thúy Kiều

LXXVI Với mẹ cha thì luôn luôn hiếu kính, còn với tình yêu thì nàng luôn muốn

giữ trọn chữ tình Dù phải bán mình cứu cha nhưng nàng vẫn nghĩ đến lời thề nguyệnvới chàng Kim Trọng Kiều có một trái tim chung thuỷ, có một tấm lòng vị tha Tácgiả đã ca ngợi tình yêu Kim - Kiều hồn nhiên, trong sáng và táo bạo, Kiều đã chủđộng đến với Kim Trọng Thái độ chủ động ấy ta ít gặp trong xã hội phong kiến, Kiều

đã chống lại quan điểm của xã hội phong kiến "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" Tình

yêu rất đẹp bởi bắt nguồn từ hai trái tim, rất chung thuỷ nhưng cũng rất biết hi sinh.Trong mười lăm năm lưu lạc, Kiều luôn nghĩ tới Kim Trọng, băn khoăn day dứt vì

Trang 11

mình không mang đến hạnh phúc cho người mình yêu, mối tình Kim - Kiều chính làbiểu tượng cho khát vọng hạnh phúc của con người

LXXVII Thuý Kiều là hiện thân của nổi khát vọng tình yêu tự do, khát vọnghạnh phúc và khát vọng về quyền sống Khát vọng tình yêu tự do đậm màu sắc lãngmạn được thể hiện qua mối quan hệ Thuý Kiều- Kim Trọng Mới gặp chàng Kim lầnđầu, hai bên chưa tiện nói với nhau một lời, mà mối tình không lời ấy đã như mộtchén rượu nồng, khiến người ta choáng váng đê mê:

LXXVIII “Tình trong như đã mặt ngoài còn e LXXIX Chập chờn cơn tỉnh cơn mê…”

LXXX Kiều - một con người có vẻ đẹp ngoại hình, có tâm hồn trong sáng,lương thiện, tài năng, đồng thời nàng cũng là người có khát vọng tình yêu, hạnh phúc,vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến Kiều đã vượt qua những gò bó của thời cuộc để đi tìmhạnh phúc, điều mà khó tìm thấy nơi những người con gái khác trong khi quan niệm

“cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” vẫn đang tồn tại rất mạnh mẽ trong xã hội Tình yêu

đầu đời của nàng thật trong sáng, mãnh liệt Nó khiến nàng dám vượt qua những ràng

buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến để đến với người yêu: “Xăm xăm băng lối vườn

khuya một mình” để cùng chàng Kim tình tự, trao nhau kỉ vật làm tin và thề nguyền

nỗi bất hạnh ghê gớm cho chàng Kim Nàng tự trách: “Vì ta khăng khít cho người dở

dang” Không chỉ dở dang mà còn tan cửa nát nhà Nghe qua tưởng như vô lí Sao lại

vì ta? Vì cả người nữa, vì người trước chứ! Nhưng Kiều cứ nghĩ như thế bởi Kiều chỉnghĩ đến người yêu, thương người yêu, đau trước cái đau của người yêu Còn mình,

Kiều quên hết, nếu có nghĩ đến thì cũng cam chịu: “Phận dầu, dầu vậy cũng dầu”…

Không chỉ thương, chỉ đau mà Kiều còn lo lắng nữa Duyên mình đã lở, còn cái dởdang của người yêu thì sao? Đắn đo, suy tính trước sau, nàng thấy chỉ có một cách cóthể cứu vãn phần nào là Thuý Vân sẽ thay mình đền đáp tình chàng

LXXXIV “Ngày xuân em hãy còn dài LXXXV Xót tinh máu mủ thay lời nước non.”

LXXXVI Trước khi ra đi nàng đã trao duyên lại cho cô em gái Thúy Vân Nhờ

em giúp mình kết duyên với chàng Kim

LXXXVII “Cậy em em có chịu lời

Trang 12

LXXXVIII Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

LXXXIX Giữa đường đứt gánh tương tư

XC Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”

XCI Duyên có thể trao, nhưng tình làm sao trao được ? Nó như một món nợ

Mà nợ tình thì làm sao trả được? Sau khi cậy em, lạy em ! Hình dung ra cả lúc ngậmcười chín suối biết ơn em, đến lúc trao các kỉ vật thiêng liêng, cầu chúc hạnh phúc cho

em thì Kiều không còn tỉnh táo nữa Nàng trở lại hoàn toàn bản chất con người mình,cảm nhận đầy đủ nỗi đau của mình và thốt lên thống thiết:

XCII “Ôi Kim lang, hời Kim lang ! XCIII Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

XCIV Lí trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim, nhưng trái tim nàng thì

không thế Từ đó, bão tố cuộc đời vùi dập nàng đến thảm thương: “Thanh lâu hai

lượt, thanh y hai lần” Bị dìm xuống tận bùn đen nhơ nhớp nhưng nàng vẫn không

nguôi nhớ đến mối tình đầu, nhớ tới chàng Kim Nhớ tình đã cũ nhưng nghĩa cònvương:

XCV “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, XCVI Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

XCVII Nguyễn Du đã làm cho nhân vật của mình thật nổi bật trên nền xã hộiđồng tiền, xã hội phong kiến hủ bại, thối nát Ông coi trọng con người, coi trọng sự tự

do, hạnh phúc và quyền được tìm hạnh phúc cho mình của mỗi người mặc cho địnhkiến xã hội đang vây lấy tất cả

XCVIII “Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan XCIX Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

C Lại mang lấy một chữ tình

CI Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”

CII Con người sinh ra tài hoa không phải là một cái tội, nhưng đặt trong hoàncảnh lễ giáo phong kiến, những người có tài, có sắc, đặc biệt là người phụ nữ lại hayphải chịu những truân chuyên, vất vả Đang ở độ tuổi đẹp nhất của thời con gái, vừagặp được mối tình đầu của mình, tưởng như cuộc sống sẽ chuyển mình bước trên mộtcon đường hạnh phúc, nhưng ông trời thường hay thử lòng người Phải chăng, khúcnhạc mà Kiều sáng tác trước kia đã trở thành chính cuộc đời nàng, ai oán và não nùng.Chỉ vì đồng tiền, bọn sai nha đã gây nên vụ án oan trong gia đình Kiều, vì đồng tiền

mà bọn chúng đã phá hoại hạnh phúc gia đình Kiều, từ một mái ấm êm đềm bỗng tanhoang, lạnh lẽo Thuý Kiều, với tư cách là một người chị cả phải đứng ra lo liệu mọichuyện, nàng phải hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền hối lộ cho sainha để cứu cha và em khỏi bị tra khảo dã man Bi kịch cuộc đời bắt đầu từ đây, khi mà

Ngày đăng: 18/03/2019, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w