Sản lượng khai thác được đánh giá ở mức 1 triệu m3/ngày đêm, chủ yếu phục vụ cấp nước sinh hoạt, nhưng hầu hết các địa phương trong vùng đều đang khai thác quá mức, không theo quy hoạch
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập, nghiên cứu được sự ủng hộ động viên của gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tác giả đã hoàn thành
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Cấp thoát nước với đề tài: “Nghiên cứu tác động của Biến đổi khí hậu tới cấp nước nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp ứng phó”
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã có cơ hội học hỏi và tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc của mình Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo, cô giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Đoàn Thu Hà, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này
Cảm ơn lãnh đạo Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường, phòng Cấp thoát nước
đã tạo điều kiện thời gian động viên tôi trong quá trình học tập
Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử lý
số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu sót của Luận văn là không thể tránh
khỏi Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và đồng nghiệp
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Nguyễn Quang Trung
Trang 2B ẢN CAM KẾT
Tên tác giả: Nguyễn Quang Trung
Học viên cao học 19CTN
Người hướng dẫn: TS Đoàn Thu Hà
Tên đề tài Luận văn: “Nghiên cứu tác động của Biến đổi khí hậu tới cấp nước nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp ứng phó”
Tác giả xin cam đoan đề tài Luận văn được làm dựa trên các số liệu, tư liệu được thu thập từ nguồn thực tế, được công bố trên báo cáo của các cơ quan nhà nước…để tính toán ra các kết quả, từ đó đánh giá và đưa ra một số đề xuất giải pháp Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác gi ả
Nguyễn Quang Trung
Trang 3M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 SỰ CẨN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3
3 CÁC TIẾP CẬN 4
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI, HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH TỚI CẤP NƯỚC NÔNG THÔN VÙNG ĐBSCL 6
1.1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 6
1.1.1.1 Phạm vi và vị trí địa lý 6
1.1.1.2 Địa hình địa chất thổ nhưỡng 7
1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu 9
1.1.1.4 Đặc điểm thủy văn 10
1.1.1.5 Ngập lụt 14
1.1.1.6 Vấn đề chua phèn 14
1.1.1.7 Địa chất thủy văn 14
1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 15
1.1.2.1 Dân số và dân tộc 15
1.1.2.2 Y tế giáo dục và đào tạo 16
1.1.2.3 Cơ cấu kinh tế 16
1.1.2.4 Tình hình sử dụng đất 17
1.1.2.5 Thủy lợi 17
1.1.3 Đánh giá ĐKTN-KTXH 18
1.2 HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC NÔNG THÔN VÙNG ĐBSCL 21
1.2.1 Tình hình sử dụng nước theo các loại hình cấp nước phân tán 22
1.2.2 Tình hình sử dụng nước theo các loại hình cấp nước tập trung 25
Trang 41.2.3 Tình hình tổ chức quản lý 26
1.3 DIỄN BIẾN BĐKH VÙNG ĐBSCL 27
1.3.1 Diễn biến khí hậu nước biển dâng 27
1.3.2 Diễn biến về lượng mưa 28
1.3.3 Diễn biến về mực nước 29
Xu thế mực nước thủy triều tại ĐBSCL theo các tài liệu thực đo 29
1.3.4 Diễn biến xâm nhập mặn 31
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIẾN ĐỂ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH TỚI CẤP NƯỚC NÔNG THÔN VÙNG ĐBSCL 35
2.1 CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CẤP NƯỚC NÔNG THÔN 35
2.1.1 Chiến lược quốc gia về VSNT đến năm 2020 35
2.1.2 Chương trình mục tiêu quốc gia NS&VSMTNT giai đoạn 2012-2015 35
2.1.3 Quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050 35
2.2 XÁC ĐỊNH NHU CẦU CẤP NƯỚC NÔNG THÔN 36
2.2.1 Dự báo dân số 36
2.2.2 Nhu cầu nước sinh hoạt nông thôn 37
2.3 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 39
2.3.1 Các kịch bản BĐKH và BĐKH ở ĐBSCL 39
2.3.1.1 Các kịch bản BĐKH 39
2.3.1.2 BĐKH ở ĐBSCL 40
2.3.2 Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước 43
2.3.2.1 Đánh giá xâm nhập mặn – Bài toán mùa cạn 43
2.3.2.2 Đánh giá ngập lũ – Bài toán mùa lũ 46
b) Đánh giá diễn biến tình hình ngập lũ 48
2.3.3 Đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước 52
2.4 ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN BĐKH 54
2.4.1 Nước mưa 54
2.4.2 Nước mặt 55
Trang 52.4.3 Nước ngầm 59
2.4.4 Đánh giá khả năng nguồn nước vùng ĐBSCL 62
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC VÙNG ĐBSCL TRONG ĐIỀU KIỆN BĐKH 63
3.1 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH TỚI CẤP NƯỚC NÔNG THÔN VÙNG ĐBSCL 63
3.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC TRONG ĐK BĐKH 63
3.2.1 Cơ sở đề xuất phương án cấp nước 63
3.2.2 Giải pháp phát triển cấp nước trong ĐK BĐKH 64
3.3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NGUỒN NƯỚC 66
3.3.1 Phân vùng cấp nước sạch nông thôn vùng ĐBSCL 67
3.3.1.1 Nguyên tắc phân vùng 67
3.3.1.2 Các cơ sở phân vùng 67
3.3.1.3 Phân vùng cấp nước sạch nông thôn 68
3.4 ĐỀ XUẤT QUY MÔ CÔNG TRÌNH HỢP LÝ CHO CÁC CÔNG TRÌNH CNNT VÙNG ĐBSCL TRONG TƯƠNG LAI TRONG ĐK BĐKH 69
3.4.1 Quy mô hệ thống cấp nước 69
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH 72
4.1 LỰA CHỌN VÙNG NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH 72
4.2 GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC NÔNG THÔN CHO TỈNH CÀ MAU TRONG ĐK BĐKH 72
4.2.1 Tổng quan chung tỉnh Cà Mau 72
4.2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 72
4.2.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế 74
4.2.1.3 Mạng lưới sông ngòi 74
4.2.1.4 Đặc trưng phân bố dòng chảy 76
4.2.1.5 Chất lượng nước mặt 76
4.2.1.6 Đặc điểm xâm nhập mặn 76
Trang 64.2.1.7 Nước ngầm 77
4.2.2 Hiện trạng cấp nước tỉnh Cà Mau 78
4.2.3 Nhu cầu sử dụng nước tỉnh Cà Mau 80
4.2.4 Phân vùng cấp nước tỉnh Cà Mau 81
4.2.4.1 Nguyên tắc phân vùng 81
4.2.4.2 Các cơ sở phân vùng 82
4.2.5 Giải pháp và phương án cấp nước sinh hoạt nông thôn tỉnh Cà Mau trong ĐK BĐKH 84
4.2.5.1 Các giải pháp 84
4.2.5.2 Giải pháp nguồn nước 84
4.2.6 Giải pháp cụ thể và tính toán mạng cấp nước (nguồn nước từ xa) cho các xã Huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau 86
4.2.6.1 Sơ đồ dây chuyền công nghệ 87
4.2.6.2 Giới thiệu về chương trình 91
4.2.6.3 Cơ sở lý thuyết tính toán mạng lưới cấp nước 93
4.2.6.4 Lập mô hình mô phỏng mạng lưới đường ống cấp nước 95
4.2.6.5 Xây mới mạng cấp nước Phú Tân 97
4.2.6.6 Kiểm định và kiểm nghiệm mô hình 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
PHỤ LỤC 1: 107
PHỤ LỤC 2: 116
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Lưu lượng trung bình và các tần suất tính toán tại Phnom Penh (m3/s) 11
Bảng 1.2 Lưu lượng trung bình tại Tân Châu-Châu Đốc (m3/s) 11
Bảng 1.3 Lưu lượng bình quân tháng mùa kiệt Tân Châu,Châu Đốc theo tần suất (m3/s) 12
Bảng 1.4 Lưu lượng thực đo tại Tân Châu, Châu Đốc và Vàm Nao, 1990-2008 (m3/s) 13
Bảng 1.5 Tổng hợp thông tin dân số năm 2011 15
Bảng 1.6 Cơ cấu tổng sản phẩm kinh tế theo khu vực vùng ĐBSCL từ 2000-2010 và chuyển dịch cơ cấu đến năm 2015, 2020 17
Bảng 1.7 Thống kê hiện trạng công trình thuỷ lợi chủ yếu vùng ĐBSCL 17
Bảng 1.8 Tổng hợp số lượng công trình cấp nước 22
Bảng 1.9 Bảng tổng hợp các CTCNTT theo địa bàn tỉnh vùng ĐBSCL 25
Bảng 1.10 Các thành phần kinh tế tham gia quản lý trạm cấp nước nông thôn 27
Bảng 1.11 Lượng mưa năm bình quân các thời đoạn một số trạm vùng ĐBSCL (mm) 29
Bảng 1.12: Chiều dài xâm nhập mặn bình quân tháng các cửa sông ĐBSCL (km) 34 Bảng 1.13: Chiều dài xâm nhập mặn lớn nhất tháng với mức 4 g/l (km) 34
Bảng 2.1 Dự báo dân số nông thôn vùng ĐBSCL theo các giai đoạn trong QH 36
Bảng 2.2 Dự báo nhu cầu nước nông thôn vùng ĐBSCL(m3) 38
Bảng 2.3 Nhu cầu nước tăng thêm trong các giai đoạn 38
Bảng 2.4 Mô tả kịch bản phát thải 39
Bảng 2.5 Sự thay đổi nhiệt độ, mưa và mực nước biển ở Việt Nam theo các kịch bản phát thải 40
Bảng 2.6 Mức tăng nhiệt độ (oC) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 41
Bảng 2.7 Mức thay đổi (%) lượng mưa năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 41
Bảng 2.8 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) 42
Bảng 2.9 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm) 42
Bảng 2.10 Diễn biến xâm nhập mặn trên các sông chính 43
Bảng 2.11 Diện tích xâm nhập mặn max 46
Bảng 2.12 Diện tích ngập triều max 46
Trang 8Bảng 2.13 Phân bố diện tích ngập max lũ chính vụ theo độ sâu 51
Bảng 2.14 Phân bố diện tích ngập max đến 25/VIII theo độ sâu 51
Bảng 3.1 Quy mô và công suất hệ thống CTCNTT có hệ thống bơm dẫn nước 69
Bảng 4.1 Tỷ lệ cấp nước phân theo giải pháp cấp nước trên địa bàn nông thôn tỉnh Cà Mau 78
Bảng 4.2 Dự báo dân số nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2015, 2050 80
Bảng 4.3 Dự báo nhu cầu nước nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2015, 2050 (m3) 80
Bảng 4.4 Dự báo nhu cầu nước tăng thêm đến năm 2015, 2050 (m3) 81
Bảng 4.5 Số lượng công trình và chi phí đầu tư tỉnh Cà Mau giai đoạn 2013-2015 85
Bảng 4.6 Số lượng công trình và chi phí đầu tư tỉnh Cà Mau 85
giai đoạn 2015-2020 85
Bảng 4.7 Chất lượng nước mặt khu vực 86
Bảng 4.8 So sánh giữa 2 dây chuyền công nghệ xử lý nước 90
Bảng 4.21 So sánh kết quả kiểm nghiệm mô hình 2020 100
Bảng 4.22 So sánh kết quả kiểm nghiệm mô hình 2030 101
Bảng 4.9 Tính tổng nhu cầu dùng nước cho huyện Phú Tân 110
Bảng 4.10 Tính toán công suất cho nhà máy nước Phú Tân 111
Bảng 4.11.Phân phối lưu lượng trong ngày dùng nước max – NMN Phú Tân 112
Bảng 4.12 Phân phối lưu lượng trong ngày dùng nước max – NMN Phú Tân 113
Bảng 4.13 Phân phối lưu lượng tại các nút - NMN Phú Tân 114
Bảng 4.14 Phân phối lưu lượng tại các nút - NMN Phú Tân 115
Bảng 4.15 Kết quả chạy thủy lực giờ max - NMN Phú Tân 117
Bảng 4.16 Kết quả chạy thủy lực giờ max - NMN Phú Tân 118
BẢNG 4.17 Kết quả chạy thủy lực giờ max - NMN Phú Tân 119
Bảng 4.18 Kết quả chạy thủy lực giờ max - NMN Phú Tân 120
Bảng 4.19 Kết quả tính toán thủy lực trong giờ dùng nước max để so sánh kiểm nghiệm mô hình 121
Bảng 4.20 Kết quả tính toán thủy lực trong giờ dùng nước max để so sánh kiểm nghiệm mô hình 122
Trang 9DANH M ỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Vị trí địa lý vùng đồng Bằng Sông Cửu Long 6
Hình 1.2 Phân bố lưu lượng thực đo (1996-2008) qua các cửa sông ĐBSCL 13
Hình 1.3 Sơ đồ hệ thống và công nghệ xử lý nước mặt 26
Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống và công nghệ xử lý nước ngầm 26
Hình 1.5 Sơ đồ hệ thống cấp nước ngầm đơn giản 26
Hình 1.6 Diễn biến mực nước trung bình, cao nhất và thấp nhất tại Vũng Tàu 30
Hình 1.7 Bản đồ xâm nhập mặn hiện trạng vùng ĐBSCL 32
Hình 2.1 Bản đồ xâm nhập mặn vùng ĐBSCL 45
Hình 2.2 Bản đồ ngập lũ vùng ĐBSCL 47
Hình 2.3 Bản đồ vùng khai thác nước mặt đến năm 2020 vùng ĐBSCL 57
Hình 2.4 Bản đồ vùng khai thác nước mặt đến năm 2030 vùng ĐBSCL 58
Hình 2.5 Bản đồ phân bố các tầng chứa nước triển vọng vùng ĐBSCL 60
Hình 2.6 Bản đồ phân vùng khai thác nước dưới đất đến năm 2020 61
Hình 3.1 Bản đồ phân vùng nguồn cấp nước sinh hoạt nông thôn đến năm 2020 68
Hình 4.1 Bản đồ tỉnh Cà mau 72
Hình 4.2 Bản đồ phân vùng khai thác nguồn nước tỉnh Cà Mau 83
Hình 4.3 Sơ đồ dây chuyền công nghệ PA 1 88
Hình 4.4 Sơ đồ dây chuyền công nghệ PA 2 89
Hình 4.5: Sơ đồ vạch tuyến cấp nước NMN Phú Tân 108
Hình 4.6: Sơ đồ mạng lưới cấp nước NMN Phú Tân 109
Trang 10CÁC CH Ữ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu CTTL Công trình thuỷ lợi
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn
Trang 11MỞ ĐẦU
1 SỰ CẨN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời đại hiện nay do sự bùng nổ về dân số, các ngành kinh tế của các nước trên thế giới thi nhau phát triển như vũ bão, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, các nhu cầu về nước ngày một lớn Làm cho nguồn nước ngày một hao hụt đi, có nhiều nơi trên thế giới không đủ nước để sử dụng Mặt khác, bên cạnh đó vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) cũng ảnh hưởng rất lớn đến các môi trường sống và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong đó có nguồn tài nguyên nước, do biến đổi khí hậu làm cho nguồn nước đã suy giảm về khối lượng
và chất lượng lại càng ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng thêm
Trước vấn đề đó nhiều quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến tình hình BĐKH Đồng thời đặt vấn đề biến đổi khí hậu là một bài toán khó đưa ra để cùng nhau giải quyết nhằm xây dựng những Chương trình ứng phó nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi tới môi trường sống, tới kinh tế và nhằm bảo vệ tài nguyên đất, nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển của con người
Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới dự báo, Việt Nam là một trong 2 nước (cùng với Bangladesh) bị tác động tồi tệ nhất trên thế giới do nước biển dâng Trong đó Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi được đánh giá bị ảnh hưởng nặng nề nhất và là một trong số những khu vực dễ bị tổn thương nhất
của thế giới
ĐBSCL có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội khu vực phía nam Đây là khu vực có nhiều tiềm năng, ưu thế để phát triển nông nghiệp cao từ sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế để phát triển nông nghiệp, hàng năm một diện tích rộng hơn 2 triệu ha ở phía bắc ĐBSCL bị ngập do lũ sông Mêkông, gần 2 triệu ha đất nông nghiệp ven biển bị xâm nhập mặn, gần 1,9 triệu ha
bị nhiễm phèn việc đảm bảo cấp nước ngọt sinh hoạt cho người dân còn khá nhiều khó khăn
ĐBSCL có nguồn nước mặt và nước mưa khá phong phú, lượng nước bình quân hàng năm chảy qua ĐBSCL hơn 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa, tạo nguồn nước, bổ cập nguồn nước ngầm và bổ sung độ phì nhiêu cho đất, nhưng cũng là nguyên nhân khiến ĐBSCL hàng năm bị ngập lũ gần 50%
Trang 12diện tích trong khoảng thời gian từ 3 - 4 tháng, gây nhiều khó khăn cho đời sống dân cư, trong đó có khai thác và sử dụng nước Một diện tích lớn của ĐBSCL thuộc vùng đất chua phèn, vùng sâu, vùng xa thiếu nước ngọt Gần đây nguồn nước mặt ở ĐBSCL đang bị ô nhiễm, chất lượng nguồn nước ngày càng xấu đi một cách nghiêm trọng dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nước sạch cung cấp cho sinh hoạt và
sản xuất
ĐBSCL có trữ lượng nước ngầm không lớn Sản lượng khai thác được đánh giá ở mức 1 triệu m3/ngày đêm, chủ yếu phục vụ cấp nước sinh hoạt, nhưng hầu hết các địa phương trong vùng đều đang khai thác quá mức, không theo quy hoạch và không đúng kỹ thuật, là nguyên nhân gây suy giảm mực nước ngầm, gây nguy cơ nhiễm mặn và ô nhiễm nguồn nước ngầm
Trong những năm qua, ĐBSCL cũng như nhiều vùng khác trong cả nước đã được sự quan tâm của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng và các tổ chức
quốc tế, doanh nghiệp tư nhân quan tâm đến lĩnh vực cấp nước sạch và VSMT nông thôn Nhiều công trình cấp nước sạch đã được xây dựng ở ĐBSCL, nâng tỷ lệ người dân được cấp nước sinh hoạt ở một số vùng lên đáng kể Tuy nhiên, việc phát triển cấp nước vùng ĐBSCL vẫn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu Nhiều địa phương, vùng miền thuộc ĐBSCL đang gặp khó khăn về nước sinh hoạt, trong đó
có nhiều vùng đặc biệt nghiêm trọng, người dân không có nước sinh hoạt, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sức khỏe Trong những năm gần đây, trước tác động của BĐKH, mực nước biển dâng, xâm nhập mặn sâu, ô nhiễm nguồn nước, lũ lụt, hạn hán kéo dài, cạn kiệt nguồn nước, vv… tình hình khan hiếm nguồn nước càng
trở nên trầm trọng, kéo dài và xảy ra ở hầu hết các địa phương thuộc ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH nhất Việt Nam Trong đó Cà Mau là một trong các tỉnh của ĐBSCL chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi BĐKH Ngoài ảnh hưởng chung còn có những bất cập trực tiếp như sạt lở bờ biển, bờ sông, ngập úng sâu kéo dài ở những vùng trũng, bão nhiệt đới xâm nhập đến những nơi mà trước đây được cho là an toàn, ít bị thiên tai Cà Mau là tỉnh ven biển có đặc thù ba mặt giáp biển, chịu ảnh hưởng cả triều biển Đông và biển Tây đồng thời cũng là tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất trực tiếp bởi BĐKH-NBD Nguồn nước của tỉnh: Về nước mặt phần lớn nhiễm mặn (trừ các vùng ngọt hóa), không thể khai thác nước mặt cho sinh hoạt Về nguồn nước ngầm Cà Mau được đánh giá có nguồn nước ngầm tương đối phong phú, hiện
các trạm cấp nước nông thôn trên địa bàn tỉnh Cà Mau chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm, tuy nhiên với việc khai thác nước ngầm tràn lan, không theo quy hoạch, khai
Trang 13thác phục vụ cấp nước dân sinh, công nghiệp, tưới và nuôi trồng thủy sản, hiện nay một số vùng của Cà Mau đang bị suy giảm mực nước ngầm và có dấu hiệu xâm nhập mặn tầng nước ngầm
Nước sạch và VSMT nông thôn là lĩnh vực thiết yếu và cấp bách được Đảng
và Nhà nước hết sức quan tâm Từ năm 2000 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn giai đoạn 2000 - 2020 và năm
2006 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn giai đoạn 2006 – 2010 Theo đó, Mục tiêu đến năm 2020: Tất cả dân cư nông thôn
sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60lít/người-ngày
Dựa theo những kịch bản BĐKH đã được công bố năm 2012 bởi Bộ TNMT thì vào năm 2100 mực nước biển sẽ dâng 65cm (kịch bản B1 – thấp), 75cm (kịch
bản B2 – trung bình), và 100cm (kịch bản A1F1 – cao) Nếu lấy kịch bản A1F1 làm chuẩn thì ĐBSCL sẽ bị ngập từ 12,8% đến 37,8% diện tích, nhiễm mặn tăng thêm 334.000 hecta đất đai với độ mặn 4% vào mùa khô, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên nước, đất đai nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống và các hoạt động sản
xuất của nhân dân, trong đó cấp nước cho dân sinh nông thôn
Trước tình hình trên, cần thiết phải có nghiên cứu Đánh giá tác động bởi BĐKH tới cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL và đề xuất giải pháp ứng phó, nghiên cứu điển hình cho tỉnh Cà mau làm cơ sở cho các nghiên cứu, dự án phát triển Cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL trong điều kiện BĐKH Cần đánh giá tình hình nguồn nước về lưu lượng, chất lượng, phân bố , các ảnh hưởng bởi BĐKH, mực nước
biển dâng, cũng như điều kiện khác về tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội, phong
tục tập quán , từ đó đề xuất các giải pháp ứng phó đảm bảo cấp nước sinh hoạt, đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân nông thôn vùng ĐBSCL, thích ứng và đối phó với tình hình BĐKH
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu, dự đoán biến đổi khí hậu - nước biển dâng đến cấp nước nông thôn ĐBSCL
Đề xuất giải pháp ứng phó
Đề xuất giải pháp ứng phó cụ thể cho vùng Nghiên cứu điển hình tỉnh Cà Mau
Trang 143 CÁC TIẾP CẬN
Tiếp cận kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở trong nước
Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn, tổng hợp đa mục tiêu Tiếp cận đáp ứng yêu cầu,
Tiếp cận theo quan điểm hệ thống Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng Tiếp cận theo quan điểm bền vững
1 Nghiên cứu tổng quan
Tổng quan điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và các yếu tố ảnh hưởng tới cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL
Tổng quan về hiện trạng cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL
Ảnh hưởng của BĐKH tới xâm nhập mặn, ngập lũ
2 Đánh giá tác động của BĐKH-NBD đến cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL
Nghiên cứu các kịch bản BĐKH
Đánh giá tác động tới các tài nguyên nước vùng ĐBSCL
Xác định những vùng đang và có nguy cơ ảnh hưởng bởi BĐKH như ngập lụt,
hạn hán cạn kiệt nguồn nước, bị xâm nhập mặn…
Nghiên cứu đánh giá các tác động bởi BĐKH tới cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL theo các kịch bản BĐKH
Các nghiên cứu đánh giá được thực hiện cho vùng nghiên cứu điển hình là tỉnh
Cà Mau
3 Đề xuất các giải pháp ứng phó
Đề xuất giải pháp cấp nước, giải pháp nguồn nước và quy mô công trình hợp
lý cho các công trình cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL trong tương lai, trong điều
kiện BĐKH
Các giải pháp đề xuất được nghiên cứu cho tỉnh được lựa chọn nghiên cứu điển hình là tỉnh Cà Mau
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp thu thập các tài liệu thực tế nhằm cập nhật các thông tin mới nhất
về khu vực nghiên cứu
Trang 152 Phương pháp kế thừa: Sử dụng tài liệu có sẵn, các kết quả nghiên cứu có độ tin
cậy cao từ các đề tài, dự án có liên quan Một số tài liệu số liệu về hiện trạng cấp nước nông thôn, chất lượng trữ lượng nguồn nước mặt, nước ngầm, được kế
thừa từ các nghiên cứu, dự án đã được thực hiện tại các tỉnh Các tài liệu về BĐKH và tác động bởi BĐKH đến nguồn nước mặt, vv được kế thừa từ các dự
án đã được thực hiện, như: Quy hoạch thủy lợi vùng ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD, quy hoạch cấp nước nông thôn vùng ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD
3 Phương pháp phân tích (theo các tài liệu thu thập, điều tra được)
4 Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia
5 Phương pháp mô hình hóa: Mô hình hóa hệ thống cấp nước, ứng dụng phần
mềm Epanet trong tính toán mạng lưới đường ống cấp nước
Trang 16CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI, HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH TỚI
CẤP NƯỚC NÔNG THÔN VÙNG ĐBSCL
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Phạm vi và vị trí địa lý
Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, còn gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ ĐBSCL có 13 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố là TP.Cần Thơ) và 12 tỉnh, gồm: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Thuộc vùng ĐBSCL còn có các đảo, quần đảo như: đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu và đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Tre thuộc tỉnh Kiên Giang
ĐBSCL có vị trí như một bán đảo với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp
biển Phía Đông giáp biển Đông Phía Nam giáp Thái Bình Dương Phía Tây giáp vịnh Thái Lan và phía Bắc giáp với vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế
lớn nhất của Việt Nam hiện nay Đây là vị trí thuận lợi trong việc phát triển kinh tế
biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Hình 1.1 Vị trí địa lý vùng đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 17ĐBSCL nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh
rạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thủy vào bậc nhất ở nước ta Diện tích
tự nhiên toàn vùng là 39 747 km2, chiếm 12,1% diện tích cả nước
1.1.1.2 Địa hình địa chất thổ nhưỡng
thấp dần Vùng đất-giồng-ven-sông có chiều rộng trung bình khoảng 500 m ở mỗi bên bờ sông Tiền và sông Hậu Các thành phố như Vĩnh Long, Cần Thơ, Cao Lãnh, Long Xuyên, Châu Đốc, v.v nằm trên vùng đất cao này nên ít bị ngập lụt Phía bên trong là vùng đất thấp, trũng, đọng nước, có cao độ 1-2 m trên mực nước biển, tạo thành các đầm lầy Vùng xa sông bị ngập lụt trong mùa mưa Nếu tính từ bờ biển
trở vào, vùng sát biển chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống là rừng ngập mặn Bên trong là giồng-cát-duyên-hải có độ cao từ 3-6 m, có chiều rộng khoảng 500-1.000 m, tùy nơi, do phù sa của sóng biển và thủy triều tạo thành Bên trong các giồng-cát-duyên-hải này đất thoai thoải thấp dần, tạo thành các vùng đầm lầy úng nước, có độ cao 0.5 – 1 m trên mực nước biển
An Giang và Kiên Giang Vùng Thất Sơn có cấu tạo địa chất từ các móng đá granit
lộ cao, hình thành các dãy đồi, núi thấp với cao độ cao nhất là 700 m ở ngọn Núi
Trang 18Cấm Ngoài ra, còn có các cụm núi đá vôi vùng ven biển Hà Tiên, lẫn với một số
diện tích các núi đá granit (Bình An, Hòn Đất) tạo nên các dạng cảnh quan đặc sắc cho vùng đồng bằng
Th ổ nhưỡng
Theo bản đồ đất tỷ lệ 1/250.000 do Phân Viện QH&TKNN xây dựng, diện tích 8 nhóm đất chính ở ĐBSCL như sau:
(1) Nhóm đất cát: 43.318 ha (chiếm 1,10% tổng diện tích) (2) Nhóm đất mặn: 744.547 ha (chiếm 19,10% tổng diện tích) (3) Nhóm đất phèn: 1.600.263 ha (chiếm 41,10% tổng diện tích) (4) Nhóm đất phù sa: 1.189.396 ha (chiếm 30,40% tổng diện tích) (5) Nhóm đất lầy và than bùn: 24.027 ha (chiếm 0,60% tổng diện tích) (6) Nhóm đất xám: 134.656 ha (chiếm 3,50% tổng diện tích) (7) Nhóm đất đỏ vàng: 2.420 ha (chiếm 0,06% tổng diện tích) (8) Nhóm đất xói mòn: 8.787 ha (chiếm 0,20% tổng diện tích)
Sinh thái
ĐBSCL nằm ở vùng tây nam bộ, là phần cuối cùng của lưu vực sông Mêkông,
chảy qua mạng lưới sông ngòi và kênh rạch chằng chịt trước khi đổ ra biển Đông,
có hệ sinh thái điển hình là rừng ngập mặn và vùng ngập nước ngọt Vùng thượng nguồn của sông Mê Kông là một trong những vùng giàu tính đa dạng sinh học nhất trên thế giới với hơn 1200 loài cá đã được xác nhận và có khả năng lên đến
trống Có 226 loài thực vật có mạch, trong 84 họ, trong đó có 8 loài rất hiếm Có
40 loài thú, 181 loài chim, 38 loài bò sát Trong đó có 17 loài nằm trong sách Đỏ Viêt Nam
Độ che phủ rừng
- Chỉ số che phủ rừng của lưu vực chiếm 2.37% tổng diện tích rừng cả nước,
Tỉ lệ rừng của lưu vực là 8% trong đó tỉ lệ rừng tự nhiên là 18.0% cho thấy chất lượng rừng nghèo và không thuận lợi cho quá trình điều hoà dòng chảy và chất lượng nước
Trang 191.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
- ĐBSCL có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng quanh năm và có hai mùa, mùa mưa và mùa khô tùy thuộc vào hoạt động của gió mùa Mùa khô, ít mưa, có gió mùa Đông Bắc, thường kéo dài từ tháng XI đến tháng IX, mùa mưa từ tháng V đến tháng X, có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, trùng thời gian hoạt động của gió Tây Nam
- Các đặc trưng về khí hậu vùng ĐBSCL cụ thể như sau:
- Nhi ệt độ: Nhiệt độ trung bình tháng vùng ĐBSCL dao động từ khoảng
27-28oC, trong đó tháng I là tháng có nhiệt độ thấp nhất (trung bình 25.5oC) và tháng nóng nhất là tháng IV (28oC)
- B ốc hơi: Chế độ bốc hơi thay đổi theo thời gian và không gian Thời gian
bốc hơi cao nhất trong năm là những tháng III, IV và V, vào khoảng 180-220 mm Vào mùa mưa, tháng VIII đến IX, lượng bốc hơi đạt thấp nhât, khoảng 100-150 mm
- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối cao hơn vào mùa mưa và thấp hơn vào mùa khô
Độ ẩm trung bình trong các tháng VIII, IX và X khoảng 84-89%, trong khi trong tháng II và III khoảng 67-81%
- Gió: Gió Đông Bắc là chủ đạo từ tháng XII-IV vào mùa khô ở vùng ĐBSCL, gió Tây Nam là chủ đạo trong mùa mưa (tháng V đến tháng X) Gió mạnh nhất vào mùa gió Đông-Bắc thường có hướng Đông, còn vào mùa gió Tây-Nam thường có hướng Tây-Nam Tốc độ gió trung bình là khoảng 2,0 m/s Ở các vùng gần biển, tốc
độ gió thường tăng trong những tháng I, II và III Tốc độ gió trong thời gian áp suất thấp và có bão có thể đạt 15-18 m/s (với cơn bão số 5 năm 1997) Do gió chướng với vận tốc khá lớn từ biển thổi vào trùng hướng các sông lớn ĐBSCL tạo nên
những đợt sóng rất cao, kết hợp với triều cường hình thành hiện tượng gió chướng, nước dâng làm mặn xâm nhập sâu hơn vào ĐBSCL Độ cao nước dâng có xu thế tăng từ tháng I-III/IV, từ Vàm Kinh (28 cm) đến Mỹ Thanh (44 cm)
- N ắng: Giờ nắng trung bình 6 giờ mỗi ngày (khoảng 2,000-2,500 giờ một
năm) Tháng II, III có số giờ nắng cao nhất, với 8-9 giờ một ngày, trong khi tháng VIII, IX có ít giờ nắng, với trung bình 4,6-5,3 giờ mỗi ngày
- Mưa: ĐBSCL có lượng mưa trung bình khoảng 1800 mm, phân bố không
đều theo không gian và thời gian Khu vực phía Tây vùng ĐBSCL có lượng mưa nhiều nhất với trung bình năm từ 2000-2400 mm, trong khi phía Đông lượng mưa trung bình 1600-1800 mm Các vùng thuộc trung tâm ĐBSCL kéo dài từ Châu Đốc
Trang 20– Long Xuyên – Cần Thơ – Cao Lãnh – Trà Vinh – Bến Tre – Gò Công có lượng mưa thấp nhất, trung bình 1200-1600 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm Khoảng 90% lượng mưa hàng năm được tập trung trong các tháng mùa mưa,
từ tháng V đến tháng XI, trong đó lượng mưa lớn nhất vào các tháng IX và X Lượng mưa trong mùa khô từ tháng XII đến tháng IV chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm, trong đó các tháng I, II, III hầu như không có mưa (thường gây ra hạn hán nghiêm trọng) Trong mùa mưa, thỉnh thoảng có mưa liên tục, có thể kéo dài 3-5 ngày, với một số lượng tương đối lớn của mưa, gây lũ lụt Tháng VIII-X là các tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm, thường đạt từ 250-300 mm mỗi tháng Tháng I-III là các tháng có lượng mưa ít nhất trong năm, thường là không mưa hoặc mưa không đáng kể Số ngày mưa trong năm đạt từ 100-140 ngày mưa, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, với 15-20 ngày mỗi tháng
- Bão: ĐBSCL nhìn chung rất ít bão Theo thống kê bão đổ bộ vào bờ biển Đông trong gần 100 năm qua, chỉ khoảng 30% số trận bão là có ảnh hưởng đến vùng biển Nam Bộ, trong đó không quá 10% đổ bộ trực tiếp Ở ĐBSCL, các trận bão và mạnh lên của gió mùa Tây-Nam gây nên mưa và lũ lớn là năm 1934, 1937,
1947, 1961, 1966, 1978, 1984, 1991,1994, 1996 và 2000 So với phía Bắc và miền Trung, bão ảnh hưởng đến Nam Bộ chậm hơn, thường là từ tháng X trở đi, đôi khi đến tận tháng XII Tuy nhiên, mưa bão gây lũ ở ĐBSCL lại do bão ảnh hưởng vào vùng trung-hạ Lào nên thường xẩy ra vào khoảng tháng VIII-IX
1.1.1.4 Đặc điểm thủy văn
Chế độ thủy văn ở ĐBSCL chịu tác động trực tiếp của dòng chảy thượng nguồn, chế độ triều biển Đông, một phần của triều vịnh Thái Lan, cùng chế độ mưa trên toàn đồng bằng Mùa lũ ở ĐBSCL bắt đầu chậm hơn so với thượng lưu một tháng và mùa mưa tại đồng bằng 2 tháng, vào khoảng tháng VI, VII và kết thúc vào tháng XI, XII, tiếp đến là mùa kiệt, thời gian mỗi mùa khoảng 6 tháng Từ Phnom Penh ra biển, sông Mekong đi vào ĐBSCL theo hai nhánh là sông Tiền và sông
Hậu, có chế độ thủy văn khác hẳn phần thượng lưu, do tác động của thủy triều từ biển Nhờ điều tiết của Biển Hồ, dòng chảy vào ĐBSCL điều hòa hơn so với tại Kratie, với mùa lũ có lưu lượng trung bình vào Việt Nam khoảng 28.000-30.000
Trang 21Bảng 1.1 Lưu lượng trung bình và các tần suất tính toán tại Phnom Penh (m3/s)
I 7.786 9.218 8.681 7.731 6.935 6.859 6.515 6.431 6.104
II 4.609 5.517 5.180 4.572 4.125 4.019 3.900 3.752 3.544 III 3.182 3.637 3.471 3.169 2.900 2.883 2.790 2.743 2.631
IV 2.736 3.256 3.037 2.709 2.465 2.408 2.375 2.270 2.134
V 3.932 5.347 4.758 3.790 3.135 3.086 2.825 2.693 2.469
VI 10.202 14.415 12.722 9.875 7.945 7.509 6.950 6.417 5.642 Tài liệu thực đo lưu lượng tại Tân Châu, Châu Đốc và Vàm Nao từ 1990-2008 cho kết quả như Bảng 1.2
Bảng 1.2 Lưu lượng trung bình tại Tân Châu-Châu Đốc (m3/s)
/s
Trang 22Bảng 1.3 Lưu lượng bình quân tháng mùa kiệt Tân Châu,Châu Đốc
hạ thấp dần và kéo dài đến tháng XI, XII Khoảng từ nửa cuối tháng VII đến cuối tháng VIII, mực nước Tân Châu thường đạt trên mức 3,50 m và Châu Đốc trên 3,00
m Mực nước lũ cao nhất năm thường xảy ra trong khoảng thời gian từ hạ tuần tháng IX đến trung tuần tháng X, với tần suất cao nhất vào thượng tuần tháng X Mực nước cao nhất tại Tân Châu 5,12 m (1961) và 5,06 m (2000), tại Châu Đốc 4,90
m (2000) Bên cạnh đó, năm lũ nhỏ (1998), mực nước đỉnh lũ Tân Châu 2,81 m và Châu Đốc 2,54 m Mực nước trung bình đỉnh lũ Tân Châu 4,13 m và Châu Đốc 3,62
m Chênh lệch mực nước đỉnh lũ nhiều năm Tân Châu 2,31 m và Châu Đốc 2,35 m Cường suất lũ lên và xuống thấp, trung bình 3-4 cm/ngày Những trận lũ lớn và xuất
hiện sớm 10-12 cm/ngày (1984), cao nhất có thể đạt 20-30 cm/ngày
Phân bố dòng chảy
Lưu lượng thực đo tại Tân Châu, Châu Đốc và Vàm Nao, giai đoạn
1990-2008 được thể hiện trên Bảng 1.4, theo đó Khi mới vào ĐBSCL, lưu lượng sông Tiền lớn hơn sông Hậu rất nhiều Vào mùa kiệt, lưu lượng Tân Châu chiếm khoảng 92-96%, lưu lượng Châu Đốc chừng 4-8% Tuy nhiên, nhờ có sông Vàm Nao bổ sung nước từ sông Tiền sang sông Hậu nên sau Vàm Nao tỷ lệ phân phối dòng chảy sông Tiền, sông Hậu khá cân bằng, tại Cần Thơ và Mỹ Thuận tỷ lệ mùa
kiệt là 49/51 và mùa lũ là 53/47 Phân bố lưu lượng ra các cửa sông vùng ĐBSCL theo tài liệu thực đo, giai đoạn 1996-2008 được thể hiện trên Hình 1.2
Trang 23Bảng 1.4 Lưu lượng thực đo tại Tân Châu, Châu Đốc và Vàm Nao,
1990-2008 (m3/s)
V ị trí I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII T.Châu 6.351 4.145 2.571 2.201 3.203 7.181 12.579 18.671 20.339 19.153 14.968 10.100 C.Đốc 1.399 795 492 425 632 1.443 2.911 4.910 5.926 5.784 4.078 2.504 V.Nao 2.497 1.616 1.068 898 1.262 2.707 4.902 7.175 8.464 7.731 5.782 3.909 S.Tiền 3.854 2.530 1.503 1.303 1.940 4.474 7.676 11.496 11.875 11.422 9.187 6.192 S.H ậu 3.896 2.410 1.560 1.323 1.894 4.150 7.813 12.085 14.390 13.515 9.860 6.413
(Nguồn: Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam) Hình 1.2 Phân bố lưu lượng thực đo (1996-2008) qua các cửa sông ĐBSCL
Đánh giá chung
Nhờ có hệ thống kênh rạch phong phú nối liền với sông Tiền, sông Hậu nên dòng chảy sông Cửu Long ảnh hưởng đến hầu khắp lưu vực sông Cửu Long Theo đánh giá tài nguyên nước mặt được thực hiện năm 2006
Tổng lượng dòng chảy sản sinh trong vùng là 22,4 tỷ m3/năm
Tổng lượng dòng chảy từ ngoài chảy vào là 457 tỷ m3/năm
Lượng nước bình quân đầu người năm 27.700 m3/người/năm
Trang 24Lượng nước bình quân đầu người mùa kiệt: 6.290m3/người
Tổng lượng nước sử dụng mùa kiệt chiếm 33% lượng nước mùa kiệt Trong
đó lượng nước sử dụng cho đô thị và nông thôn chiếm 1,15%, cho công nghiệp chiếm 1,05%, cho tưới nông nghiệp chiếm 81,3% và nuôi trồng thủy sản là 16,4% Tính trên toàn vùng ĐBSCL, lượng nước mặt đảm bảo cung cấp nước cho các ngành sử dụng nước
1.1.1.5 Ngập lụt
Diện tích ngập lụt ở lưu vực sông Cửu Long khoảng 1,4 – 1,9 triệu ha tùy theo năm lũ nhỏ hay lũ lớn Độ sâu ngập từ 0,5 – 4 m; thời gian ngập lụt từ 2 – 6 tháng tùy từng nơi Ngập lụt là một trở ngại lớn cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân vùng phía bắc lưu vực sông Cửu Long Mặt khác các trận lũ lớn gây chết hàng trăm người và thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng Tuy nhiên lũ cũng mang lại một số mặt lợi như nguồn thủy sản phong phú, nguồn phù sa bồi bổ cho đất và dòng chảy lũ có tác
dụng tốt trong việc thau chua rửa phèn, vệ sinh đồng ruộng
1.1.1.7 Địa chất thủy văn
- Trong vùng có 9 tầng chứa nước triển vọng như sau:
1 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích nhiều nguồn gốc Holocen (qh)
2 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen thượng (qp3)
3 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen trung-thượng (qp2-3)
4 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen hạ (qp1)
5 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen trung (n22)
Trang 256 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen hạ (n21)
7 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Miocen thượng (n13)
8 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Miocen trung-thượng (n12-3)
9 Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích trước Kainozoi (pz-mz)
Các t ầng chứa nước triển vọng khai thác tập trung bao gồm các tầng: qp 2-3,
qp 1, n 2 2 , n 2 1 , n 1 3, n 1 2-3 , t rong đó ưu tiên khai thác các tầng chứa nước n 2 2 , n 2 1 , n 1 3, n 1 2-3 Các tầng chứa nước khai thác nhỏ lẻ, bao gồm: qh, qp 3 , và pz-mz
1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.1.2.1 Dân số và dân tộc
Dân số vùng ĐBSCL theo điều tra dân số năm 2011 đã được thu thập tại các
tỉnh vùng ĐBSCL là 17,378 triệu người thể hiện trong Bảng 1.5 Trong đó dân số nông thôn là 14,309 triệu người, chiếm tỷ lệ 82,68% Tổng số hộ nông thôn là 2,524 triệu hộ, trung bình mỗi hộ gia đình có 5,08 người Toàn vùng ĐBSCL có 106 huyện và 1.520 xã
ĐBSCL có 31 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc trong cả nước, trong đó dân tộc Kinh chiếm 79%, Hoa 3,9%, Khơme 15%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ Người Khơ me tập trung đông ở 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, chiếm 26-28% tổng dân số
của tỉnh, kế đến là Bạc Liêu (khoảng 8%), chủ yếu là làm nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp Người Hoa sống chủ yếu ở các thành phố, thị xã như Châu Đốc, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Bạc Liêu, TP.Cần Thơ, nghề nghiệp chủ yếu là buôn bán
Bảng 1.5 Tổng hợp thông tin dân số năm 2011
STT T ỉnh (người) Dân số nông thôn Dân s ố
(người)
Tỷ lệ dân
s ố nông thôn
S ố hộ nông thôn
Số huyện Số xã
M ật độ dân
s ố (người/km2)
Trang 26STT Tỉnh (người) Dân s ố nông thôn Dân số
(người)
Tỷ lệ dân
số nông thôn
Số hộ nông thôn
S ố huy ện S xã ố
Mật độ dân
số (người/km2)
Vùng ĐBSCL có 1.818 cơ sở y tế (14,25% cả nước), trong đó có 164 bệnh
viện đa khoa, 125 phòng khám khu vực, 2 khu điều dưỡng, 1.431 trạm y tế xã phường Tỷ lệ giường bệnh/1 vạn dân đạt 18,7 thấp hơn mức trung bình của cả nước (22,7 giường/1 vạn dân) Cán bộ y tế có trình độ cao còn rất ít lại phân bố không đều giữa các tỉnh Nhìn chung, lực lượng y tế trong khu vực chưa được đảm bảo cả
số lượng và cơ cấu, phân bố, đặc biết cán bộ y tế có trình độ cao
ĐBSCL có 2,765 triệu học sinh phổ thông các cấp (chiếm 18,3% HSPT cả nước là 15,128 triệu) Số lượng trẻ đi nhà trẻ tăng 22,5 lần, mẫu giáo tăng 3 lần, THCS tăng 1,3 lần, đại học tăng 2,4 lần so với năm 2000
1.1.2.3 Cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,94%, trong đó Khu vực I tăng 7,26%, Khu vực II tăng 19,54%, Khu vực III tăng 15,37% Khu vực II có tốc độ tăng nhanh hơn Khu vực III, tốc độ tăng trưởng cả 3 Khu vực đều cao hơn mức bình quân cả nước
Trang 27Bảng 1.6 Cơ cấu tổng sản phẩm kinh tế theo khu vực vùng ĐBSCL từ
2000-2010 và chuyển dịch cơ cấu đến năm 2015, 2020
Theo số liệu thống kê năm 2008, diện tích đất SXNN là 2,550 triệu ha, trong
đó 70% đất nông nghiệp trồng cây hàng năm và cây lâu năm khoảng 14%, đất
NTTS chiếm 13,3% Đất lâm nghiệp 331.480 ha, chiếm 8,12%, trong đó 2/3 diện
tích là rừng trồng (chủ yếu là tràm, bạch đàn), rừng tự nhiên còn gần 104 ngàn ha
(gồm rừng phòng hộ ven biển, rừng ngập mặn tập trung, đước, mắm…), tập trung
chủ yếu ở Nam Cà Mau, U Minh Thượng, Tràm Chim… Đất chưa sử dụng đến năm
2008 còn 36,0 ngàn ha, gồm đất đồi núi (632 ha), đất bằng chưa sử dụng (>34.000
ha), là những vùng bằng đất nằm rải rác trong đất canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp,
có hầu hết ở các tỉnh, song có nhiều ở An Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà
Mau, Kiên Giang
1.1.2.5 Thủy lợi
Theo số liệu của Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam, thống kê hiện trạng công
trình thủy lợi chủ yếu vùng ĐBSCL được thể hiện trên Bảng 1.7
Bảng 1.7 Thống kê hiện trạng công trình thuỷ lợi chủ yếu vùng ĐBSCL
trình
Toàn ĐBSCL sông Tiền Tả Long Xuyên Tứ giác
Bán đào
Cà Mau
Giữa s.Tiền-s.Hậu
S ố lượng L (km)
S ố lượng L (km)
S ố lượng L (km)
S ố lượng L (km)
S ố lượng L (km)
1 Kênh trục 113 3.190 45 1.068 64 1.056 36 633 32 1.039
2 Kênh
c ấp I 1.035 10.961 343 3.116 428 5.294 200 1.945
Trang 28TT Công
trình
Toàn ĐBSCL sông Ti T ả ền Long Xuyên T ứ giác
Bán đào
Cà Mau
Gi ữa s.Ti ền-s.Hậu
Số lượng L (km)
Số lượng L (km)
Số lượng L (km)
Số lượng L (km)
Số lượng L (km)
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
Qua phân tích đánh giá có thể thấy ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên vùng
ĐBSCL tới cấp nước nông thôn trong điều kiện biến đổi khí hậu như sau:
a Thuận lợi
- Vùng ĐBSCL có lượng mưa tương đối dồi dào Lượng mưa ở khu vực phía
Tây và Tây Nam cao nhất 2.200-2.400 mm, giảm dần vào khu vực trung tâm
1.600-1.800 và tăng trở lại từ 1.600-1.800-2.000 mm ở khu vực phía Đông Nước mưa là một
nguồn cung cấp nước quan trọng cho các vùng nông thôn của ĐBSCL Nước mưa
thông thường có chất lượng nước tốt, rất thích hợp cho các mục đích sử dụng khác
nhau Đối với vùng ven biển, nơi mà nguồn nước ngọt bề mặt khan hiếm, nước mưa
là một nguồn cấp quan trọng cho sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp
- Vùng ĐBSCL có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch thiên nhiên khá phong phú,
bao gồm cả hệ thống sông thiên nhiên và kênh đào Đây là điều kiện thuận lợi cho
việc cung cấp nguồn nước mặt cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội vùng
ĐBSCL
Trang 29- Vùng ĐBSCL có hệ thống thủy lợi phát triển và phân bố khá đều trên địa bàn nhằm để chủ động tưới, tiêu Đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động tiêu thoát nước cũng như hoạt động cấp nước cho các vùng nông thôn vùng ĐBSCL
- Vùng ĐBSCL có nguồn nước ngầm khá phong phú với 5 tầng chứa nước có giá trị để khai thác nước tập trung với quy mô lớn, bao gồm: tầng chứa nước Pleistocen trung thượng (qp2-3); tầng chứa nước Pleistocen hạ (qp1); tầng chứa nước Pliocen (m4); tầng chứa nước Miocen (m3) và tầng cách nước Holocen(qh) Nguồn nước ngầm này có thể đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở nhiều khu vực dân cư, nhất là ỏ các vùng nông thôn Hiện nay, nguồn nước ngầm đang được sử dụng chủ yếu cho sinh hoạt dân cư nông thôn và một số nơi còn phục vụ cho tưới hoa màu và nuôi tôm Nguồn nước ngầm có giá trị lớn nhất vào mùa khô, một số vùng nước ngầm còn được sử dụng ngay trong mùa mưa khi gặp nắng hạn kéo dài
b Khó khăn
- Về nguồn nước mặt: vào mùa kiệt, lưu lượng sông Mekong vào ĐBSCL
giảm khá thấp trong mùa kiệt từ tháng II-V biến đổi trong khoảng 2.000-5.000 m3/s, trong đó tháng IV là tháng thấp nhất với lưu lượng khoảng 2.200 m3/s, các năm kiệt còn xuống dưới 2.000 m3/s
- Về nguồn nước ngầm: Hiện nay, nguồn nước ngầm ở vùng ĐBSCL ngoài
mục đích khai thác sử dụng cho sinh hoạt còn được người dân khai thác sử dụng
phục vụ cho mục đích sản xuất công nghiệp và nuôi trồng thủy sản Việc khai thác nước ngầm không được kiểm soát ở nhiều khu vực vùng ĐBSCL đã dẫn đến tình
trạng sụt giảm mạch nước ngầm, giảm áp lực nước, gia tăng khả năng thẩm thấu, xâm nhập nước mặn từ bên ngoài vào các tầng rỗng, gây ra hiện tượng nhiễm mặn
tầng nước ngầm
- Khó khăn do ô nhiễm nguồn nước: nguồn nước mặt ĐBSCL ngày càng bị ô nhiễm nhất là các nguồn nước kênh rạch Các xu hướng biến đổi khắc nghiệt của
thời tiết làm cho chất lượng môi trường nước mặt ngày suy giảm Không những suy
giảm chất lượng mà suy giảm cả về số lượng do xâm nhập mặn gia tăng, do chuyển đổi cơ cấu sản xuất làm nước mặn, nước lợ chiếm ưu thế trong các vùng có cả
thủy sản nước mặn và cây trồng nước ngọt Việc xây dựng các đập ngăn mặn giúp đẩy mặn, mở rộng ranh giới nước ngọt cũng đồng thời tăng nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do nước từ các kênh rạch bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt và chăn nuôi tù đọng
Trang 30- Khó khăn do xâm nhập mặn: Với việc tăng ranh giới xâm nhập mặn trên các dòng sông chính vượt qua các cửa lấy nước sẽ làm mặn xâm nhập tiến sâu vào vùng ĐBSCL, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước ngọt Đối với cấp nước nông thôn sẽ
gặp khó khăn hơn nhiều do người dân ở phân tán và tất cả các nguồn cấp đều nhiễm
mặn, trừ nước mưa Trong mùa khô, do cả nước mặt và nước ngầm tầng nông (người dân chỉ có thể khai thác tầng nông) đều bị mặn, nên ngoài việc trữ nước mưa vào mùa mưa, việc cấp nước sẽ rất khó khăn và tốn kém
- Khó khăn do ngập lụt: hiện nay người dân nông thôn vùng ĐBSCL luôn phải đối mặt với ngập lụt do triều cường và lũ lớn Trong tương lai, do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tình hình ngập úng sẽ càng thêm nghiêm trọng hơn Việc khai thác nước sạch và sử dụng nước sạch của người dân vùng ngập lũ sẽ gặp
rất nhiều khó khăn
Đánh giá chung về nguồn lực xã hội và quá trình phát triển
- Các hoạt động phát triển kinh tế vùng ĐBSCL ngoài việc gây áp lực nên việc cung cấp nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt còn sẽ gây ra các tác động bất lợi đến
chất lượng nguồn nước mặt như việc xả vào nguồn nước tiếp nhận các loại nước
thải không qua xử lý từ các khu công nghiệp, làng nghề, khu dân cư đô thị, các loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học và nước thải chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp
- Các hoạt động khai thác nước ngầm để phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ sẽ làm cho mực nước ngầm giảm xuống đáng kể Nhiều hoạt động kinh tế cũng gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Nước ngầm chủ yếu
bị tác động là tầng chứa nước, lỗ hổng các trầm tích nằm gần mặt đất Ở những nơi các tầng chứa nước lộ ra hoặc lớp cách che phủ tầng chứa nước không đủ khả năng
bảo vệ, hoặc do sự can thiệp của hoạt động khai thác nước tạo ra các cửa sổ tác động, chất bẩn trên mặt đất rất dễ xâm nhập, làm ô nhiễm tầng chứa nước
- Áp lực gia tăng dân số của vùng ĐBSCL sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt trong khi nguồn nước mặt, nước ngầm lại đang bị suy thoái cả lượng lẫn chất Sử dụng nước ngầm ở vùng ĐBSCL đang gia tăng đáng kể, nhất là trong điều kiện xâm nhập mặn, nhiễm mặn gia tăng do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dẫn đến suy giảm lượng trữ nước ngầm, hạ thấp mực nước ngầm
- Nhiều khu vực dân cư vùng ĐBSCL hiện có mức sống thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao (tỷ lệ hộ nghèo của các tỉnh vùng ĐBSCL chiếm từ 6% - 15%), khả năng đóng góp cho xây dựng công trình và chi trả phí dịch vụ cấp nước và vệ sinh
Trang 31còn hạn chế Việc phát triển công trình cấp nước tập trung có công nghệ xử lý nước đạt Tiêu chuẩn chất lượng quốc gia là rất khó khăn do suất đầu tư quá lớn và người dân không có khả năng chi trả phí sử dụng nước theo giá quy định
- Nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường các vùng nông thôn vùng ĐBSCL còn thấp Ý thức người dân trong việc sử dụng và quản lý các công trình
cấp nước chưa cao, còn có hiện tượng ỷ lại trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước nên việc quản lý vận hành các công trình đã đầu tư xây dựng chưa được tốt Ngoài
ra, công tác quản lý, kiểm tra, hướng dẫn, tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường không được thực hiện thường xuyên, rộng khắp
- Cơ sở hạ tầng nông thôn vùng ĐBSCL nhìn chung còn kém, gây khó khăn cho công tác đầu tư xây dựng các công trình vệ sinh môi trường và cung cấp nước
- Các công trình thủy lợi của vùng ĐBSCL hiện nay đang ở trong tình trạng xuống cấp, nhiều nơi không đảm bảo cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt Những năm gần đây dù đã có nhiều công trình được tu sửa, nâng cấp và xây dựng mới nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại Ngoài ra, việc xây dựng các hệ
thống cống đập chống mặn có thể làm tụt giảm mực nước ngầm trong thời gian mùa khô, ở các vùng đất phèn, tác động này sẽ dẫn đến gia tăng hiện tượng phèn hóa ảnh hưởng đến nguồn nước mặt
Hiện nay ở vùng ĐBSCL có các loại hình cấp nước chủ yếu, bao gồm trạm
cấp nước tập trung, giếng khoan, giếng đào, bể chứa nước mưa, bể lọc chậm và lu chứa nước mặt HGĐ Theo thống kê số lượng các công trình cấp nước trên địa bàn các tỉnh vùng ĐBSCL được tổng hợp như sau:
Tổng số công trình CNTT trên toàn vùng là 4260 công trình, trong đó chủ yếu
là các công trình có quy mô nhỏ phổ biến ở hầu hết các tỉnh, trong đó nhiều nhất là
Trang 32ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang Công trình cấp nước Quy mô vừa phổ biến ở các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ và Cà Mau Các công trình cấp nước quy mô lớn chỉ có ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Bến Tre và Vĩnh Long Tổng số giếng đơn lẻ, bao gồm giếng khoan và giếng đào trên toàn vùng theo
số liệu thu thập năm 2011 là 779.503 giếng (Bảng 1.8.)
Bảng 1.8 Tổng hợp số lượng công trình cấp nước
STT Tỉnh
Tr ạm cấp nước tập trung (CT)
Bể chứa nước mưa các loại (CT)
Giếng nhỏ lẻ HGĐ bao gồm có giếng đào và giếng khoan Tổng số giếng nhỏ
lẻ HGĐ toàn vùng ĐBSCL theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2010-2011 là 779.503
giếng Trong đó chủ yếu là giếng khoan HGĐ, khai thác nước ngầm tầng chứa nước
có áp
Trang 33Cấp nước từ giếng khoan hộ gia đình được sử dụng phổ biến ở hầu hết các
tỉnh vùng ĐBSCL Tỷ lệ nước cấp từ giếng đơn lẻ ở mức cao tại các tỉnh Cà Mau,
Bạc Liêu, Trà Vinh và Sóc Trăng là các tỉnh có nguồn nước ngầm dồi dào và có
chất lượng tốt Tỷ lệ cấp nước HVS từ giếng đơn lẻ ở mức thấp ở các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp là những tỉnh có nước ngầm bị nhiễm phèn, đòi hỏi phải có xử lý trước khi sử dụng
Hình thức cấp nước từ giếng khoan HGĐ thi công đơn giản và chi phí thấp, chất lượng nước chấp nhận được Tuy nhiên, nhiều giếng khoan khai thác và quản
lý không đúng cách có thể gây ô nhiễm tầng nước ngầm và khó khăn trong quản lý tài nguyên nước Nhiều giếng khoan không sử dụng không được lấp lại đúng kỹ thuật và là nơi nước mưa, nước mặt mang theo chất thải, nước mặn xâm nhập tầng
chứa nước gây ô nhiễm nguồn nước Ở hầu hết các địa phương thuộc vùng ĐBSCL các hộ gia đình khoan giếng tự phát không theo quy hoạch Ở một số nơi, khai thác nước ngầm quá mức gây ra hiện tượng suy giảm mực nước ngầm, gây ô nhiễm môi trường, hay gây ra hiện tượng sụt lún Vì vậy gần đây giếng khoan HGĐ không được khuyến khích phát triển
Thời gian qua, cấp nước đô thị và công nghiệp phát triển mạnh ở vùng ĐBSCL Các đô thị trong vùng như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau gần như sử dụng 100% nước ngầm phục vụ sinh hoạt, sản xuất kinh doanh Ngoài ra, người dân ở nhiều vùng ven biển, nhiễm phèn, khô hạn còn dùng nước ngầm sản xuất hoa màu, nuôi trồng thủy sản dẫn tới hiện tượng suy giảm mực nước ngầm Ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, do ảnh hưởng bởi BĐKH, mực nước biển dâng và lưu lượng khai thác ở thượng lưu tăng cao, xâm nhập mặn sâu, dẫn đến sự chuyển đổi khai thác nước từ khai thác nước mặt sang nước ngầm ở một số trạm cấp nước
đô thị, làm tăng tốc độ suy giảm mực nước ngầm Nhiều giếng khoan phải ngừng sử
mặt bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm nước
ngầm tầng nông, nên tỷ lệ số giếng đào HVS còn ở mức thấp Thời gian qua, trước
Trang 34ảnh hưởng bởi BĐKH, xâm nhập mặn tăng cao, nhiều nơi giếng đào khai thác ngầm
tầng nông bị nhiễm mặn không sử dụng được
b) Sử dụng nước mưa
Nước mưa đã và đang được sử dụng ở hầu hết các vùng nông thôn vùng ĐBSCL, trong đó phổ biến ở các vùng ven biển, nguồn nước bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, vùng dân cư ở phân tán, chưa có hệ thống cấp nước tập trung Tỷ lệ sử dụng nước mưa cao ở các vùng khó khăn về nguồn nước, như ở một số huyện thuộc các tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Kiên Giang Ở nhiều vùng, nước mưa là nguồn nước ngọt chủ yếu cho ăn uống, sau đó mới đến lượng nước ngầm và nước mặt Tại các hải đảo ở khu vực biển Tây như Phú Quốc, Kiến Hải, nước mưa là nguồn nước chính Nước mưa được thu và dự trữ chủ yếu trong các bể chứa nước mưa xây dựng phổ biến bằng gạch xây hình chữ nhật hoặc
bể đúc bằng bê tông cốt thép hình trụ đứng, một số hộ gia đình chứa nước mưa trong các lu chứa có thể tích nhỏ Tuy nhiên tính trên toàn vùng, tỷ lệ thu trữ và sử
dụng nước mưa chưa cao, do đặc điểm phân bố lượng mưa không đều, lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 10% lượng mưa năm, dân chưa đầu tư đủ dụng cụ thu hứng và
dự trữ nước mưa
c) Sử dụng nguồn nước sông, kênh, hồ ao
Hình thức này được sử dụng chủ yếu đối với các hộ gần sông, kênh rạch ở những nơi nước mặt không bị nhiễm mặn, không có nguồn nước ngầm hoặc có nguồn nước ngầm nhưng khó khai thác hoặc bị nhiễm phèn, yêu cầu xử lý trước khi
sử dụng, ở những nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn, việc cấp nước tập trung còn chưa thực hiện được hoặc không có nguồn nước khác để thay thế
Các hộ dùng nước sông, kênh rạch với hình thức xử lý sơ bộ bằng phèn Nhìn chung, nguồn nước sông, kênh rạch, ao hồ sử dụng cho mục đích ăn uống, sinh hoạt đều chưa đảm bảo vệ sinh Nước mặt HGĐ được sử dụng phổ biến ở một số địa phương thuộc tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang và An Giang Thời gian qua,
để đối phó với BĐKH – NBD, các công trình thủy lợi như hệ thống đê sông ngăn triều cường, các công trình ngăn mặn ngọt hóa nước được xây dựng giúp mở rộng ranh giới nước ngọt nhưng cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước do nước
từ các kênh rạch bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt và chăn nuôi tù đọng, phổ biến như ở An Giang, Đồng Tháp Trước tình hình đó, việc các hộ dân nông thôn sử
dụng nước mặt chỉ qua xử lý sơ bộ bằng phèn là không đảm bảo vệ sinh, ảnh hưởng đến cho sức khỏe
Trang 351.2.2 Tình hình sử dụng nước theo các loại hình cấp nước tập trung
a) Số lượng và phân loại các công trình CNTT vùng ĐBSCL theo nguồn nước Vùng ĐBSCL với đặc điểm là dân cư sống bám theo các tuyến lộ và sông
rạch, mật độ dân cư nông thôn nhìn chung không cao, thấp hơn nhiều so với các vùng đồng bằng khác trong cả nước Do đó quy mô các trạm CNTT thường là nhỏ,
nhỏ hơn so với vùng ĐBSH và vùng Bắc Trung bộ Theo nguồn nước chia làm hai
loại, CNTT sử dụng nguồn nước mặt và CNTT sử dụng nguồn nước ngầm Theo quy mô chia làm 3 loại: lớn, vừa, nhỏ và rất nhỏ (nối mạng)
Tổng hợp các công trình cấp nước tập trung theo địa bàn tỉnh vùng ĐBSCL được thể hiện trong Bảng 1.9
b) Các công nghệ xử lý nước tại các công trình cấp nước tập trung
Cấp nước tập trung, sử dụng nguồn nước mặt hoặc nước ngầm phát triển nhanh ở hầu hết các tỉnh vùng ĐBSCL trong thời gian qua Công trình cấp nước tập trung có quy mô nhỏ (vài chục hộ), trung bình (vài trăm hộ) đến quy mô lớn (vài nghìn hộ) đã được đầu tư xây dựng ở nhiều địa phương tại ĐBSCL Đối với nguồn nước là nước mặt, sơ đồ hệ thống và công nghệ xử lý được sử dụng phổ biến tại các CTCN được thể hiện trên Hình 1.3 Đối với nguồn nước là nước ngầm, có hai sơ đồ được sử dụng phổ biến ở ĐBSCL: (1) sơ đồ Hình 1.4 được áp dụng đối với các
Trang 36CTCN quy mô lớn, vừa và một số CT quy mô nhỏ, (2) sơ đồ Hình 1.5 được áp
dụng ở các sử dụng phổ biến đối với các CTCNTT khai thác nước ngầm quy mô
nhỏ và rất nhỏ (hệ nối mạng) khai thác nước ngầm từ các tầng chứa nước có chất lượng nước đạt tiêu chuẩn HVS
Hình 1.3 Sơ đồ hệ thống và công nghệ xử lý nước mặt
Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống và công nghệ xử lý nước ngầm
Hình 1.5 Sơ đồ hệ thống cấp nước ngầm đơn giản
1.2.3 Tình hình tổ chức quản lý
Có 5 mô hình quản lý trạm cấp nước nông thôn ở ĐBSCL, gồm có: DNNN/ Trung tâm NS&VSMT, DNTN Cộng đồng/THT, HTX, Doanh nghiệp cổ phần
Trang 37Trong đó mô hình Doanh nghiệp nhà nước/Trung tâm NS&VSMT phổ biến ở các
tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Bến Tre…, mô hình doanh nghiệp tư nhân phổ biến ở các tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp Mô hình
Cộng đồng/THT phổ biến ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp,
Cà Mau… Mô hình tư nhân quản lý phổ biến ở Cần Thơ Mô hình doanh nghiệp nhà nước/Trung tâm NS&VSMT quản lý được đánh giá là hoạt động hiệu quả và
bền vững nhất, tiếp đến là mô hình doanh nghiệp Các công trình cấp nước tập trung
do cộng đồng/THT quản lý được đánh giá là kém hiệu quả hơn Tuy nhiên, đánh giá chi tiết hiệu quả hoạt động và quản lý, chất lượng nước cấp, tính bền vững của công trình theo các mô hình quản lý có sự khác nhau giữa các tỉnh Số lượng và tỷ lệ các
mô hình quản lý được thể hiện trên Bảng 1.10
Bảng 1.10 Các thành phần kinh tế tham gia quản lý trạm cấp nước nông thôn
S ố lượng T (%) ỷ lệ
S ố lượng T (%) ỷ lệ
S ố lượng T (%) ỷ lệ
S ố lượng T (%) ỷ lệ
1.3.1 Diễn biến khí hậu nước biển dâng
Theo các nghiên cứu thống kê cho thấy, thời gian qua ĐBSCL đã và đang gánh chịu những tác động khá mạnh mẽ do BĐKH, nước biển dâng gây nên, trong
đó lũ có những biến động ngày càng lớn giữa năm lũ lớn và lũ nhỏ, bão nhiều và
mạnh hơn, hạn hán nghiêm trọng hơn, cháy rừng, sạt lở bờ sông, tố lốc, triều
Trang 38cường xuất hiện ngày càng nguy hiểm hơn Trong 13 năm qua, ĐBSCL có những BĐKH như sau: 3 năm liên tiếp từ 2000-2002 có lũ lớn, trong đó năm 2000 là lũ lớn
lịch sử; 7 năm liên tiếp có lũ dưới trung bình, trong đó tại Tân Châu năm 2006 có
mực nước 4,00 m và năm 2008 chỉ đạt 3,65 m, là năm cực nhỏ trong 70 năm gần đây; 2 lần có bão lớn đổ bộ và ảnh hưởng đến ĐBSCL là bão Linda năm 1997 và bão Durian năm 2006; 8 năm liền ĐBSCL gặp hạn, đặc biệt hạn kết hợp dòng chảy kiệt trên sông Mekong và xâm nhập mặn sâu vào năm 2004 và 2008; Tố lốc xuất
hiện nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng; Cháy rừng xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt đợt cháy rừng Vườn Quốc gia U Minh Thượng vào năm 2002; Sạt lở bờ biển, bờ sông xảy ra với số lần, số vị trí và cường độ cao, như sạt lở ven biển Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và gần đây là biển phía Tây của tỉnh Cà Mau; Nước biển có xu thế ngày càng dâng cao, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Vùng Tàu (biển Đông), mực nước biển trung bình 50 năm qua đã tăng khoảng 12 cm Triều cường trên nền nước biển dâng ngày càng uy hiếp nghiêm trọng các vùng đất thấp, kể
cả các thành phố ven biển ảnh hưởng triều như Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long…
1.3.2 Diễn biến về lượng mưa
Kết quả đánh giá xu thế diễn biến mưa của các trạm chính là Tân Sơn Nhất (TP.HCM), Cà Mau, Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá… (dự án Quy hoạch thủy lợi trong điều kiện BĐKH-NBD) cho thấy ĐBSCL tổng lượng mưa năm
nhìn chung có xu thế tăng, song xu thế tăng/giảm của từng vị trí và của mùa mưa/mùa khô trong 40-50 năm chưa thật rõ ràng
- Tại Tân Sơn Nhất, trạm có tài liệu mưa dài năm và chất lượng đo đạc tốt Xu
thế chung của lượng mưa năm là giảm (từ 1.950 mm xuống 1.850 mm), lượng mưa mùa mưa cũng có xu thế giảm tương tự (từ 1.700 mm xuống 1.550 mm) và lượng mưa mùa khô có xu thế tăng nhẹ (từ 250 mm lên 450 mm)
- Tại Cần Thơ, trạm có tài liệu mưa dài năm Xu thế chung của lượng mưa năm là tăng (từ 1.550 mm lên 1.680 mm), lượng mưa mùa mưa tăng nhẹ (từ 1.300
mm lên 1.350 mm) và lượng mưa mùa khô tăng nhẹ (từ 220 mm lên 340-350 mm)
- Tại Cà Mau, trạm có tài liệu mưa dài năm, với lượng mưa năm tương đối lớn
và số ngày mưa nhiều Xu thế chung của lượng mưa năm là tăng (từ 2.400 mm lên 2.500 mm), lượng mưa mùa mưa có xu thế tăng (từ 1.880 mm lên 2.000 mm) và lượng mưa mùa khô có xu thế giảm (từ 550 mm xuống 450 mm)
Trang 39- Tại Rạch Giá, trạm có tài liệu mưa dài năm Xu thế chung của lượng mưa năm là tăng (từ 2.000 mm lên 2.250 mm), lượng mưa mùa mưa có xu thế tăng (từ 1.600 mm lên 1.950 mm) và lượng mưa mùa khô có xu thế giảm nhẹ (từ 450 mm xuống 420 mm)
Từ những phân tích trên, nhận định chung là trong 10-20 năm tới, lượng mưa mùa khô có xu thế giảm dần và lượng mưa mùa mưa tăng dần, tương ứng khoảng 5% cho mỗi thời kỳ 20-30 năm
Bảng 1.11 Lượng mưa năm bình quân các thời đoạn một số trạm vùng ĐBSCL (mm)
1.3.3 Diễn biến về mực nước
Xu thế mực nước thủy triều tại ĐBSCL theo các tài liệu thực đo
Qua các tài liệu thực đo trong quá khứ đến thời điểm hiện tại cho thấy xu thế
mực nước biển đang gia tăng (hình 1.6)
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam trong
“Quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-nước biển dâng” cho
thấy: Mực nước biển trung bình nhiều năm ở Vũng Tàu mỗi năm gia tăng 4,7 mm Phân tích cũng cho thấy mực nước biển chủ yếu là do sự gia tăng mực nước đỉnh triều Theo quan hệ mực nước trượt 18 năm theo thời gian thì Hòn Dấu tăng khoảng 3,4 mm/năm và Vũng Tàu tăng khoảng 6,2 mm/năm Xem xét diễn biến mực nước thực đo 26 năm (từ 1982-2007) tại Vũng Tàu (Biển Đông), 30 năm (1978-2008) tại Châu Đốc và 31 năm (1977-2008) tại Cần Thơ (đã đưa về cùng hệ cao độ Hòn Dấu) cho thấy:
Trang 40Ngu ồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam Hình 1.6 Diễn biến mực nước trung bình, cao nhất và thấp nhất tại Vũng Tàu
+ Tại Vũng Tàu: Diễn biến mực nước lớn nhất năm, theo xu thế biến đổi từ 1,24-1,37m, tức 5 mm/năm Mực nước thấp nhất năm, theo xu thế biến đổi từ -3,04
m tới 2,99 m, tức 2 mm/năm Mực nước trung bình năm, theo xu thế biến đổi từ 0,31 m tới -0,20 m, tức 4,2 mm/năm
-+ Tại Châu Đốc: Diễn biến mực nước cao nhất hàng năm, theo xu thế biến đổi
từ 3,40-3,85 m, tức 15 mm/năm Mực nước chân triều thấp nhất biến đổi từ -0,85 m tới -0,45m, tức 13,3 mm/năm Mực nước trung bình năm theo xu thế biến đổi từ 1,47-1,61m, tức 4,6 mm/năm
+ Tại Cần Thơ: Diễn biến mực nước cao nhất hàng năm theo xu thế biến đổi
từ 1,73-1,93 m, tức 6,6 mm/năm Mực nước chân triều thấp nhất theo xu thế biến đổi từ -1,47 m tới -1,27 m, tức 6,6 mm/năm Mực nước trung bình năm theo xu thế
biến đổi từ 0,42-0,48 m, tức 1,9 mm/năm