NGUYỄN TRỌNG VINHNGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA TBR225 VỤ MÙA NĂM 2017 TẠI HUYỆN YÊN THUỶ, TỈNH HOÀ BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHO
Trang 1NGUYỄN TRỌNG VINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA TBR225 VỤ
MÙA NĂM 2017 TẠI HUYỆN YÊN THUỶ, TỈNH HOÀ
BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 2NGUYỄN TRỌNG VINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA TBR225 VỤ
MÙA NĂM 2017 TẠI HUYỆN YÊN THUỶ, TỈNH HOÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc
Hòa Bình, ngày 16 tháng 08 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Vinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn
Điền
là người hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Nônghọc, khoa Sau đại học, các thầy cô đã tham gia giảng dạy chương trình caohọc- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo, toàn thể gia đình, bạnbè,đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoànthànhluận văn này xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn để khóaluận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Vinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu đề tài: 3
2.2 Yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học: 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
5 1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 7
1.3 Những nghiên cứu về bón phân đạm cho cây lúa 7
1.3.1 Vai trò của đạm đối với đời sống cây lúa 7
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa 9
1.3.3 Các loại và dạng phân bón sử dụng cho lúa 14
1.3.4 Một số nguy cơ từ phân đạm 15
1.4 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy 16
1.4.1 Cơ sở xác định mật độ gieo cấy 18
Trang 61.4.2 Mật độ cấy ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, năng suất lúa 19
1.4.3 Nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới 20
1.4.4 Nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt nam 21
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu (bỏ phần nền xanh 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 28
2.3.2 Các biện pháp kỹ thuật 30
2.3.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
2.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến khả năng sinh trưởng của giống lúa TBR225 trồng vụ mùa 2017 35
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của giống lúa TBR225 35
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao của giống lúa TBR225 36
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh giống lúa TBR225 39
3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái ra lá của giống lúa TBR225 43
3.2 Ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống lúa TBR225 46
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của giống lúa TBR225 46
Trang 73.2.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến khả năng tích
lũy chất khô của giống lúa TBR225 48
3.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm tới sâu bệnh hại giống lúa TBR225 50
3.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón tới năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa TBR225 52
3.4.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón tới các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa TBR225 52
3.4.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón tới năng suất của giống lúa TBR225 58
3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của giống lúa TBR225 trồng vụ mùa 2017 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên Thế giới giai đoạn
2010 – 2016 5Bảng1 2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam (từ 2010 -
2016) 7Bảng 3.1.Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến thời gian
sinh trưởng của giống lúa TBR225 35Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái
tăng trưởng chiều cao của giống lúa TBR225 37Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái đẻ
nhánh của giống lúa TBR225 40Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái ra
lá của giống lúa TBR225 43Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ số diện
tích lá của giống lúa TBR225 47Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến khả năng
tích lũy chất khô của giống lúa TBR225 49Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón tới một số sâu
bệnh hại giống lúa TBR225 51Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón tới các yếu tố
cấu thành năng suất của giống lúa TBR225 54Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón tới năng suất
của giống lúa TBR225 58Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế việc cấy lúa giống TBR225 ở mật độ và
mức đạm bón khác nhau 61
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái
tăng trưởng chiều cao của giống lúa TBR225 38Hình 3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái đẻ
nhánh của giống lúa TBR225 41Hình 3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái ra
lá của giống lúa TBR225 44Hình 3.4 ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến năng suất
thực thu của giống lúa TBR225 59
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L,) là cây lương thực quan trọng bởi hơn 70% dân
số thế giới dùng gạo trong bữa ăn hàng ngày, gần 100% dân số các nước Châu
Á và Châu Mỹ La Tinh sử dụng lúa làm lương thực chính của mình Gạo làlương thực thiết yếu hàng đầu của người Việt Nam vì 100% của dân số 87triệu người không ai không ăn gạo hàng ngày từ người thu nhập thấp đếnngười thu nhập cao, từ nông thôn đến thành thị
Thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy về chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp, diện tích lúa trong toàn tỉnh liên tục giảm qua các năm (giaiđoạn 2010-2015 giảm 1200 ha) nguyên nhân chủ yếu do các địa phương thựchiện chuyển diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng cây, con khác cógiá trị kinh tế cao hơn, xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, côngtrình công cộng khác Song giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng trưởng vớitốc độ cao, bình quân trong giai đoạn 2010-2015 tăng 4,04%; bình quân năngsuất lúa trong 6 năm (2010-2016) là 51,9 tạ/ha, sản lượng lúa giữ ổn định trên208.800 tấn/năm; sản xuất nông nghiệp bước đầu chuyển sang sản xuất hànghóa
(Cục thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2016) [1]
Tuy nhiên để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực của tỉnh Giai đoạn
2015 – 2020 Quy hoạch sản xuất lúa gạo vẫn duy trì ổn định là 40.000 ha,năng suất dự kiến đạt 54 tạ/ha Với điều kiện là một tỉnh miền núi sản xuất lúagạo còn gặp nhiều khó khăn, để đạt được mục tiêu đó Trong giai đoạn tớinhằm nâng cao giá trị lúa gạo thì cần phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật
để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm lúa gạo [35]
Giống lúa thuần TBR225 do Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình laitạo qua nhiều thế hệ từ hai giống lúa nhập nội của Trung Quốc là K2 và
Trang 12TBR27, giống TBR225 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôncông nhận giống chính thức tại Quyết định số 202/QĐ-TT-CLT ngày9/6/2015; Giống được khảo nghiệm cơ bản (VCU) tại tỉnh Hòa Bình từ năm
2013 và được đánh giá là một trong những giống lúa triển vọng, có nhiều đặcđiểm nông sinh học tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượnggạo khá ngon, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất thuận;giống được đưa vào cơ cấu giống sản xuất tại tỉnh Hòa Bình năm 2015
Phân đạm là cơ sở quyết định năng suất cây trồng nói chung và năng suấtlúa nói riêng Vì vậy để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa thìviệc xác định liều lượng bón và kỹ thuật bón phân có ý nghĩa rất quan trọngMặt khác, việc cấy đúng mật độ còn tạo điều kiện tối ưu cho sinhtrưởng, phát triển Bên cạnh đó, việc xác định mật độ cấy đúng còn có ý nghĩalớn trong việc sử dụng phân bón một cách hợp lý hơn, góp phần nâng caohiệu quả kinh tế, khắc phục tình trạng sử dụng phân bón quá mức cần thiếtgây ảnh hưởng xấu tới đất canh tác
Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh lúa thì xác định mật độ và lượngđạm bón hợp lý là biện pháp kỹ thuật quan trọng Việc bố trí mật độ cấy hợp
lý nhằm tạo ra mật độ quần thể thích hợp, từ đó nâng cao được hiệu quảquang hợp và làm tăng số bông trên một đơn vị diện tích Phân đạm là cơ sởquyết định năng suất cây trồng nói chung và năng suất cây lúa nói riêng Việcxác định liều lượng phân thích hợp cho cây trồng có vai trò quyết định tớiviệc nâng cao tới các yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa cũng như nângcao khả năng chống chịu sâu bệnh của giống Dựa trên những cơ sở đó chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa TBR225 vụ mùa năm 2017 tại huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình”.
Trang 132 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu đề tài:
Xác định được mật độ cấy và lượng đạm bón phù hợp nhằm góp phầnvào việc xây dựng quy trình kỹ thuật hợp lý cho giống lúa TBR225 đạt năngsuất và chất lượng cao ở vụ mùa tại huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến khả năng sinhtrưởng và một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của giống lúa TBR225 trồng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đề tài thực hiện tại hộ nông dân, được xem như một mô hình giúpngười dân học hỏi được kỹ thuật bón phân và cấy theo mật độ phù hợp nhấtvới điều kiện sản xuất, thâm canh tại địa phương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh
tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu
hộ nông dân tham gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tácthủ công truyền thống Do sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấplương thực chính của các hộ nông dân, nên chính sách phát triển kinh tế nôngnghiệp và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo Trong gần bathập kỷ qua nhờ có đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được nhữngthành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêudùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3 - 4 triệu tấn gạo
Tuy vậy thì người dân sản xuất lúa nước vẫn chủ yếu dựa theo kinhnghiệm truyền thống Những năm gần đây người dân đã có ý thức đầu tư vàotrong thâm canh để tăng năng sản lượng lúa tuy vậy năng suất toàn xã mới chỉđạt khoảng 49,5 tạ/ha Do bón phân đạm và trồng với mật độ theo kinhnghiệm nên một số hộ còn bón lượng thấp, trồng dày hoặc thưa chưa đủ yêucầu để cây lúa sinh trưởng tốt cho năng suất cao Với cây lúa, đạm có vai tròcấu tạo cơ thể, đạm có trong protein, đạm điều tiết hoạt động sống của cây,tổng hợp các hợp chất tạo nên sinh khối Vì vậy, đạm là yếu tố then chốt,quyết định năng suất lúa Mặc dù các nghiên cứu đã đề cập nhiều vấn đề như:chọn tạo giống, tính thích ứng, sâu bệnh… Tuy nhiên, về ảnh hưởng của dinhdưỡng cho lúa, các nghiên cứu chưa đề cập về liều lượng, tỷ lệ và kỹ thuật sửdụng phân
Giống lúa TBR225 là giống lúa thuần mới được đưa vào cơ cấu sảnsuất của tỉnh từ năm 2015, tại huyện Yên Thuỷ năm 2015 diện tích lúa
Trang 15TBR225(tính cả 2 vụ) có khoảng 450 ha (chiếm 9,3% cơ cấu giống lúa), năm
2016 là 1.200 ha (chiếm 24,7% cơ cấu giống lúa), năm 2017 diện tích là 2.145
ha (chiếm 44,1% cơ cấu giống lúa) năng suất bình quân của giống đạt 48,8 tạ/
ha [36] Đây là giống lúa tiềm năng được đưa vào cơ cấu giống lúa của huyện
và đang tiếp tục được mở rộng diện tích trong các năm tới Nhưng do điềukiện từng vùng của tỉnh khác nhau nên tại địa phương vẫn chưa tìm ra đượclượng đạm bón và mật độ thích hợp nhất với điều kiện thâm canh của bà con
Do vậy kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng kỹ thuậtthâm canh năng suất cho giống TBR225 nói chung và tại huyện Yên Thủy,tỉnh Hòa Bình nói riêng
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 114 quốc gia và vùng lãnh thổ trồnglúa với diện tích khoảng 153,7 triệu ha Châu Á có diện tích trồng lúa chiếmtới trên 90% tổng diện tích trồng lúa trên thế giới, châu Mỹ chiếm 3,6%, châuPhi chiếm 3,1% và châu Úc chiếm 1%
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên Thế giới
Trang 16Qua bảng số liệu 1.1 cho thấy trong giai đoạn từ năm 2010 - 2013 diệntích có xu hướng tăng từ 161,7 triệu ha năm 2010 lên đến 164,5 triệu ha năm
2013 nhưng sau đó lại có xu hướng giảm, đến năm 2016 diện tích lúa đạt159,8 triệu ha
Từ năm 2010 – 2013 không chỉ diện tích tăng mà năng suất cũng tăng
từ năm 2010 năng suất đạt 43,3 tạ/ha, năm 2013 năng suất đạt 45,1 tạ/ha, tuygiai đoạn 2014 – 2016 diên tích giảm nhưng năng suất vẫn tăng nhẹ đến 2016đật 46,4 tạ/ha
Sản lượng tăng từ năm 2010 đạt 701,1 triệu tấn, đến năm 2013 tổng sảnlượng đã tăng lên đến 741,9 triệu tấn Dù năng suất có tăng từ năm 2014 đếnnăm 2016 nhưng sản lượng lúa vẫn giảm từ năm 2014 đạt 742,4 triệu tấn đếnnăm 2016 còn 740,9 triệu tấn
Theo dự báo của Ban nghiên cứu kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ,trong giai đoạn 2007 – 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục lànguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ.Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng50% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của thế giới
Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khinhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so vớicầu, giá gạo trên thị trường thế giới giữ ở mức cao Dự báo lượng gạo thươngmại trên thế giới sẽ đạt mức 35 triệu tấn vào năm 2017 Tuy nhiên, trước nguy
cơ dân số tăng nhanh như hiện nay, ước tính sẽ đạt 8 tỉ người vào năm 2030
và nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu, để đảm bảo an ninh lương thựctrong nước, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Hoa Kỳ…giảmlượng gạo xuất khẩu, trong khi nhiều nước tăng lượng nhập khẩu
Trang 171.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Bảng1 2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam
(từ 2010 -2016) D
6 Nguồn: Tổng cục Thống kê, niên gián thống kê năm 2018 [27]
Diện tích trồng lúa tăng từ năm 2010 – 2016 dao động từ 7,489 - 7,790triệu ha Trong đó, năm 2013 có diện tích trồng lúa cao nhất đạt 7,903 triệu
ha, thấp nhất là năm 2010 đạt 7,489 nhưng đến năm 2016 giảm còn 7,970triệu ha
Năng suất năm 2015 cao nhất đạt 57,7 tạ/ha, thấp nhất là năm 2010 đạt53,42 tạ/ha.Năm 2016 năng suất lúa đạt 56 tạ/ha giảm do diện tích bị giảmkéo theo đó sản lượng giảm còn 43,609 triệu tấn cao hơn năm 2010 – 2012,sản lượng tăng từ năm 2013 – 2015
1.3 Những nghiên cứu về bón phân đạm cho cây lúa
1.3.1 Vai trò của đạm đối với đời sống cây lúa
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản củacây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục.Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số Hàmlượng đạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinhlượng sinh khối Đối với cây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tácdụng trong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩynhanh quá trình đẻ nhánh vàsự
Trang 18phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suất lúa Do vậy, đạm gópphần thúc đẩy sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá,
số hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàm lượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởngđến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất lúa
Đạm ảnh lớn đến hình thành đòng và bông lúa sau này, sự hình thành
số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng nghìn hạt
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Nếu giai đoạn đẻnhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến sốbông ít Nếu bón không đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ,
lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất lúagiảm Nhưng nếu bón thừa đạm làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng,
dễ bị sâubệnh; ngoàirachiềucaophát triển mạnh, dễ bị đổ, nhánh vôhiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa được bón đủ đạm thìnhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng Đỗ Thị Thọ(2004) [22], Lê Văn Tiềm (1986) [23]
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử dụng phân bón vô
cơ trong nông nghiệp Đặc biệt trong những năm gần đây, có rất nhiềugiống lúa lai được đưa vào sử dụng, có khả năng chịu phân rất tốt, là tiền đềcho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng tăng năng suất lúa Đối với câylúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất, nó giữ vai trò quan trọngtrong tăng năng suất
Theo Nguyễn Như Hà (2005) [9], nhu cầu về đạm của cây lúa có tínhchất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây Nhưng nếu quá lạmdụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to, dài, phiến lá mỏng, tăng sốnhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ và nhiễm sâu bệnh, làmgiảm năng suất Ngược lại thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ nhánh kém, phiến lá
Trang 19nhỏ, trỗ sớm Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tố dinh dưỡngkhác Thông thường các giống lúa có tiềm năng năng suất cao bao giờ cũngcần lượng đạm cao; dinh dưỡng càng đầy đủ thì càng phát huy đượctiềm năng năng suất (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [16].
Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quantrọng Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gâymất đạm tới 50% do nhiều con đường khác nhau do rửa trôi, bay hơi, ngấmsâu hay do phản đạm hoá (Phạm Văn Cường (2007) [3]
Theo Nguyễn Như Hà (1999) [8], khi bón đạm ta nên bón sớm, bón tậptrung toàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng đạm cần bón, bón lót sâu vừa có tác dụngtránh mất đạm, lại vừa tăng tính chống lốp đổ cho lúa do bộ rễ cây phát triểnmạnh Cũng theo Nguyễn Như Hà, nên bón kết hợp giữa phân vô cơ và phânhữu cơ mà cụ thể là phân chuồng
Như vậy, những thông tin cho thấy cây lúa rất cần dinh dưỡng mới tạođược năng suất cao Do vây, bón đạm cho lúa để tăng năng suất, phẩm chất
là một nhu cầu tất yếu
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa
Đạm là yếu tố quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây lúa nóiriêng Nhu cầu về đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới
đi sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu đạm của cây lúa có tínhchất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quátrình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡngđạm của cây lúa cao nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng Ở thời kỳ
đẻ nhánh rộ cây hútnhiều đạm nhất (Phạm Văn Cường, 2005) [2]
Theo Yoshida (1985) [29], lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyếtđịnh tới 74% năng suất Bón nhiều đạm làm cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tậptrung, tăng số bông/m2, số hạt/bông, nhưng khối lượng nghìn hạt ít thay đổi(P1000)
Trang 20Qua nhiều năm nghiên cứu, Đào Thế Tuấn đã đi đến nhận xét: cây lúađược bón đạm thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánhkhoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm cóvai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỷ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục,tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ.
Theo tác giả Bùi Đình Dinh (1993) [4], cây lúa cũng cần nhiều đạmtrong thời kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phậnsinh sản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, khối lượngnghìn hạt (P1000) (Nguyễn Như Hà, 2005), [9]
Yoshida (1985) [31].cho rằng: ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinhdưỡng (N, P, K) cần để tạo ramột tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg
P2O5 và 44 kg K2O Trên nền phối hợp 90 P2O5 - 60 K2O hiệu suất phân đạm
và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40 - 120 kg N/ha
Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cự tại xã Gia Xuyên - Tứ Lộc - HảiDương cho thấy: lượng đạm cần bón để đạt một tấn thóc phải từ 26-28 kg N.Kết quả này cao hơn nhiều so với dự tính của Đào Thế Tuấn năm 1970 [26],muốn đạt được một tấn thóc cần 22,3 kg N trong vụ chiêm và 22,6 kg N trong
vụ mùa
Theo tổng kết của Mai Văn Quyền (2002) [18], trên 60 thí nghiệm thựctiễn khác nhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy: nếu đạt năng lúa 3tấn thóc/ha, thì lúa lấy đi hết 50 kg N, 26kg P2O5, 80kg K2O, 10kg Ca, 6kg
Mg, 5kg S Và nếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng câylúa lấy đi là 100kg N, 50kg P2O5, 160kg K2O, 19kg Ca, 12kg Mg, 10kg S.Lấy trung bình cứ tạo một thóc cây lúa lấy đi hết 17kg N, 27kg K2O, 8kg
P2O5, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S
Theo Yoshida (1985) [29], đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọngnhất đối với cây lúa trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
Trang 21Sau khi tăng lượng đạm thì cường độ quang hợp, cường độ hô hấp vàhàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô hấp khôngkhác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấpgấp 10 lần cho nên vai trò của đạm làm tăng tích luỹ chất khô (Nguyễn ThịLẫm, 1994)[16].
Nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúa đẻnhánh và sau đó giảm dần Với liều lượng bón đạm thấp thì bón vào lúc lúa đẻ
và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985) [29]
Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón đạm theo 9cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển Mỗi lần bón với 7mức đạm khác nhau, hai tác giả trên đã có những kết luận sau:
+ Hiệu suất của đạm (kể cả rơm rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ở mứcthấp
+ Có hai đỉnh về hiệu suất, đỉnh đầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ đẻnhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện từ 19 đến 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiềuthì không có đỉnh thứ hai Nếu bón liều lượng đạm thấp thì bón vào lúc 20ngày trước trỗ, nếu bón liều lượng đạm cao thì bón vào lúc cây lúa đẻ nhánh
Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng củađất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón đến tỷ lệ đạm cây hút Không phải
do bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều Ở mức đạm 80 kgN/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có sử dụng phânchuồng tỷ lệ đạm hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến160N và 240N có phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảmxuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụngđạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệusuất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng vẫntăng lên (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [16]
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồngcủa Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức
Trang 22đạm từ năm 1992 đến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân đạm đối vớilúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [16].
Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm
về "Ảnh hưởng của liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lúa vụ Đôngxuân và Hè thu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long" Kết quả nghiêncứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa Đồng bằng sôngCửu Long, đã chứng minh rằng: trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60
kg P2O5 và 30 kg K2O làm nền thì khi bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ
15 - 48,5% trong vụ Đông Xuân và vụ hè thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung
của 2 vụ đều bón đến mức 90 kg N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg
N này năng suất đều không tăng đáng kể (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [16]
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) [16], khi nghiên cứu về bón phân đạmcho lúa cạn đã kết luận rằng: liều lượng đạm thích hợp bón cho các giống cónguồn gốc địa phương là 60 kg N/ha Đối với các giống thâm canh cao nhưCK136 thì lượng đạm thích hợp từ 90 kg - 120 kg N/ha
Theo Nguyễn Như Hà (2005) [9], ảnh hưởng của mật độ cấy và ảnhhưởng của liều lượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâmcanh cho thấy: tăng liều lượng đạm bón ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng
P2O5 cao hơn 18,2% nhưng hấp thu K2O cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sảnthì lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu K2O cao hơn 45% cónhấp thu lân thì bằng lúa thuần (Phạm Văn Cường, 2005) [2]
Trang 23Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: trên đất phù sa sông Hồng,bón đạm đơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7%, trong khi đó các giống lúaCR203 chỉ tăng 23,1% Với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai
có kết quả rõ rệt Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài đồng ruộngcho thấy, 1 kgN bón cho lúa lai làm tăng năng suất 9-18 kg thóc, so với lúathuần thì tăng 2-13 kg thóc Như vậy, trên các loại đất có vấn đề như đất bạcmàu, đất gley, khi các yếu tố khác chưa được khắc phục về độ chua, lân, kali,thì vai trò của phân đạm không phát huy được, nên năng suất lúa lai tăng có17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất gley (Phạm Văn Cường, 2005)[2]
Với đất phù sa sông Hồng, bón đạm với mức 180 kgN/ha trong vụXuân và 150 kgN/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suấtlúa Tuy nhiên, ở mức bón 120 kgN/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mứckhác (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [16]
Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lựccủa phân để làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón đạm (bón tập trungvào giai đoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năngsuất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha
Liều lượng bón cho 1ha: 8 tấn phân chuồng + 120kg N + 90kg P2O5 +60kg K2O Kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả của phân đạm trên đấtphù sa sông Hồng đạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng đam,lượng đạm bón nuôi đòng chỉ từ 12,5-25%
Như vậy, có thể nói, các nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa vẫn cầnđược tiếp tục nghiên cứu cho từng giống lúa, từng chất đất và từng vùng cụthể Trong tương lai, người ta hy vọng tạo ra các giống siêu lúa sử dụng phânđạm có hiệu quả hơn và sử dụng các nguồn đạm khác trong đất do vi sinh vật
cố định đạm tạo ra hay do các hoạt động vi sinh vật khác ở đất lúa Siêu lúavới những giống lúa cạn, lưu niên có thể có nốt sần có vi sinh vật cộng sinh
Trang 24để tự tạo ra đạm Siêu lúa do sử dụng chất đạm hoá học hiệu quả hơn, khôngnhững tiết kiệm được đạm mà còn có chế độ dinh dưỡng đạm khác các giốnglúa cũ, nên không gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nước mặt và nước ngầm,hạn chế hiện tượng phân đạm bón làm phát sinh nhiều NO trong không khíruộng lúa (Bùi Huy Đáp, 1999) [5].
1.3.3 Các loại và dạng phân bón sử dụng cho lúa
Lúa là cây trồng có phản ứng tốt với phân hoá học nên bón phân hoáhọc cho lúa có hiệu quả cao Trong thâm canh lúa, bón phân hữu cơ chủ yếu
ổn định hàm lượng mùn cho đất, tạo nền thâm canh có thể sử dụng các loạiphân hữu cơ khác nhau, kể cả rơm rạ lúa sau khi thu hoạch
Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm ure, amon Ure đangtrở thành loại phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rấtthích hợp để bón trên các loại đất lúa thoái hoá Phân đạm nitrat có thể bónthúc ở thời kỳ đòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn
Đất chua trồng lúa, bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngangphân supe lân hay có thể cao hơn do trong điều kiện ngập nước cũng cung cấpcho lúa mà lại ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả Silic, là yếu tố dinh dưỡng cónhu cầu cao ở cây lúa Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đấtnghèo lưu huỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu cơ) thì phải dùng phân lânsupe
Loại phân kali thích hợp bón cho lúa là kali clorua
Ngoài ra, còn thường sử dụng các loại phân NPK, đặc biệt tốt là cácloại phân chuyên dùng cho lúa, phù hợp với điều kiện của từng vùng đất trồng
Khả năng chịu chua của cây lúa khá, nhưng ở đất quá chua cây lúa sinhtrưởng kém, có thể do nhôm hoà tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm ítthấy trên các loại đất có pH trên 5,5 Mặt khác sau khi đưa nước vào ruộng,đất có thể bị chua hơn, nên bón vôi là biện pháp quan trọng ở đất lúa nướcquá chua và việc bón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lýthì mới thu được kết quả mong muốn nhất (Nguyễn Như Hà, 2006) [10]
Trang 251.3.4 Một số nguy cơ từ phân đạm
Trước sức ép của việc tăng dân số và nhu cầu cao của người nông dânđòi hỏi nhiều lương thực, thực phẩm và sản xuất nông nghiệp thâm canh.Muốn đáp ứng được nhu cầu trên, hoạt động nông nghiệp lại đòi hỏi sử dụngnhiều phân bón Đặc biệt là phân đạm có vai trò quan trọng trong việc tăngnăng suất
Bón quá nhiều đạm không những không làm tăng năng suất lúa mà cònlàm gia tăng sự xuất hiện sâu bệnh hại, có khi còn làm mất trắng
Ngoài ra, bón phân đạm quá nhiều hoặc bón phân không cân đối có thểảnh hưởng xấu tới môi trường Đã có nhiều khẳng định về ảnh hưởng củaphân bón tới sự ô nhiễm nitrat của nước ngầm do sử dụng quá nhiều phânđạm hay bón quá nhiều chất thải động vật dưới dạng phân hoặc nước thải.Hiện tượng phản đạm hoá dẫn đến mất đạm gây ô nhiễm không khí thểhiện đầy đủ khi gặp các điều kiện sau đây: có đủ đạm nitrat haynitrit;thiếu oxy, đủ chất khử Ngoài quá trình phản đạm còn chịu ảnh hưởng củacác yếu tố: pH và nhiệt độ, phản đạm xảy ra mạnh trong đất chua, nhiệt độ 60
- 650C Vì vậy mà quá trình phản đạm hoá ở đất trồng cây trồng cạn,thoát nước kém, bón nhiều phân amoon và phân ure thì việc mất đạm đạt 20 -40% Còn ở đất ngập nước như đất lúa quá trình phản đạm có thể mất nhiềuđạm nếu bón không đúng cách Bón phân đạm amon và ure vào tầng oxy hoáđất lúa có thể mất
60 - 70% đạm dưới cả ba dạng NH3, N2O, N2
Nhiễm bẩn môi trường từ phân bón do tích đọng nitrat là một vấn đề rấtnguy hại Nguồn nitrat trong đất, nước có thể là từ bản thân hay do chuyểnhoá NH4 mà thành Liều lượng phân đạm quá cao hay không cân đối với cácchất dinh dưỡng khác có thể làm tăng hàm lượng nitrat trong nước uống,trong rau, nước quả Ô nhiễm có liên quan đến sức khoẻ cộng đồng do gâylên hai loại bệnh: hội trứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh và ung thư dạ dày ở người
Trang 26lớn tuổi Do trong hệ tiêu hoá nitrat bị khử thành nitrit (NO2) làm chuyển biếnoxyhaemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành chất không còn khảnăng hoạt động methaemoglobin, ở liều lượng cao sẽ ảnh hưởng đến hoạtđộng của tuyến giáp và phát triển các khối u Nitrit khi đi vào cơ thể cũng cóphản ứng với amin tạo thành nitrosoamin -một chất gây ung thư Nguyễn Như
Hà (2005) [9]
Như vậy, việc nghiên cứu lượng đạm bón cho từng giống lúa trên từngvùng là hết sức cần thiết Điều đó không chỉ có ý nghĩa hiện tại là tăng năngsuất lúamà còn có ý nghĩalâubền trong tương lai; sử dụng phân bón đểbền vững đất đai, môi trường và an toàn cho sức khoẻ con người
1.4 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy
Mật độ là một kỹ thuật làm tăng khả năng quang hợp của cá thể và quầnthể ruộng lúa, do tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diệntích lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng đến khả năng đẻnhánh và số nhánh hữu hiệu/khóm, khả năng chống chịu sâu bệnh… từ đó màảnh hưởng mạnh mẽ đến năng suất lúa
Bùi Huy Đáp (1999) [5] cho rằng: Đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối
về số nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa cácmật độ lại không thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúakhông phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thờigian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông Về khả năng chống chịusâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả và đều chung nhận xétrằng: gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh pháttriển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá bị che khuất lẫnnhau nên bị chết lụi đi nhiều
Một trong những biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trongnông nghiệp là gieo cấy với mật độ thích hợp với từng giống lúa, tránh gieocấy quá dày sẽ tạo điều kiện cho khô vằn, rầy nâu và đạo ôn phát triển mạnh
Trang 27Mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăngmật độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn
đó thì năng suất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995) [12] thì trên một đơn vị diện tích nếumật độ càng cao thì số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít Tốc độgiảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, vì thế cấy quá dày sẽ làmcho năng suất giảm nghiêm trọng.Tuy nhiên nếu cấy mật độ quá thưa dối vớicác giống có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không đạt được số bôngtối ưu
Về ảnh hưởng của mật độ cấy đến khối lượng 1000 hạt, Bùi Huy Đáp(1999) [5] đã chỉ ra rằng khồi lượng 1000 hạt ở các mật độ từ cấy thưa đếncấy dày không thay đổi nhiều
Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của các ruộng lúa năng suất cao tácgiả Đào Thế Tuấn (1963) [25] cho biết: Mật độ là một trong những biện phápảnh hưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyêt định diện tích lá và sự cấutạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa mộtcách mạnh mẽ nhất
Việc xác định số dảnh cấy hợp lý sẽ đảm bảo được số nhánh thành bôngcao nhất và năng suất là tốt nhất, nhưng việc xác định số dảnh cấy như thếnào còn phụ thuộc vào từng giống, từng vùng khí hậu khác nhau, không thể
áp dụng một cách máy móc, điều này sẽ làm ảnh hưởng tới năng suất/đơn vịdiện tích
Với giống lúa ngắn ngày cần quản lý số nhánh hữu hiệu vừa phải đểđảm bảo số bông/m2, chiều dài bông và năng suất không bị giảm, đồng thờicũng giữ chỉ số diện tích lá vừa phải để không làm gia tăng số nhánh vô hiệu.Giảm số nhánh vừa phải cũng làm giảm áp lực sâu bệnh
Trang 281.4.1 Cơ sở xác định mật độ gieo cấy
Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa Giống lúachịu thâm canh càng cao, tiềm năng năng suất lớn mật độ gieo cấy càng dày
và ngược lại, giống lúa chịu thâm canh thấp mật độ gieo cấy thưa hơn
Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào tuổi mạ: Tuổi mạ càng ngắn (mạnon) khả năng đẻ cao cấy thưa hơn mạ già, tuổi mạ cao
Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khảnăng thâm canh của hộ nông dân: Đất tốt, khả năng thâm canh cao mật độgieo cấy thưa hơn loại đất xấu, khả năng thâm canh thấp
Vụ mùa, thời tiết nắng nóng cây lúa sinh trưởng nhanh, đẻ sớm, đẻnhiều cấy thưa hơn vụ đông xuân nhiệt độ thấp, cây lúa lâu đẻ, đẻ kém nhưkinh nghiệm lâu năm của người nông dân chiêm ăn dảnh, mùa ăn bông
Trong vài năm gần đây, các nhà khoa học khuyến cáo người dân gieocấy theo phương pháp mới, phương pháp SRI cấy mạ non, mật độ thưa, thâmcanh cao và tưới nước tiết kiệm: Cụ thể cấy với mật độ 20 - 25khóm/m2; cấy
2 - 3dảnh/khóm vụ xuân, 1 - 2dảnh/khóm vụ mùa, cấy các khóm lúa theo hìnhrăng lược tận dụng tốt ánh sáng mặt trời, với phương pháp này sẽ tiết kiệmchi phí sản xuất Số bông/khóm cao, bông dài, ruộng thông thoáng và các loàisâu bệnh hại giảm đáng kể
Nguyễn Thị Trâm và cs (2003)[28], mật độ cấy càng cao thì số bôngcàng nhiều Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được
số bông/đơn vị diện tích theo dự tính
Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích(Nguyễn Văn Hoan, 2004)[14] Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/
m2, còn với lúa gieo thẳng thì mật độ được tính bằng số hạt mọc/m2
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc điềukiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Việc bố trí mật độ hợp lýnhằm phân
Trang 29bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh gây hại tạo ra cấu trúc quần thể.
Nguyễn Văn Hoan (2004)[14], thì tuỳ từng giống để chọn mật độ thíchhợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, cáckhóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàngsông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảmbảo nhưng lại tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năngquang hợp, chống bệnh tốt và sẽ cho năng suất cao hơn
1.4.2 Mật độ cấy ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, năng suất lúa
Trong sản xuất lúa mật độ cấy là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình hình thành số bông, quyết định đến năng suất Mật độ cấyliên quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh và khả năng chống đổ (NguyễnĐình Giao, 2001) [7]
Theo Nguyễn Văn Hoan (2004) [14]thì tùy từng giống để chọn mật độthích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa đủ thôngthoáng, các khóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữnhật (hàng sông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồngđược đảm bảo nhưng lại tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năngquang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất caohơn.Theo Trương Đích (1999) [6] thì mật độ cấy còn phụ thuộc vào mùa vụ
và giống: vụ xuân hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ thích hợp 45-50khóm/m2 nhưng vụ mùa thì cấy 55-60 khóm/m2 Theo Namboodiri, 1963[33]; Carnhan và cs, 1972 [30] thì năng suất là do sự biểu hiện về số lượngbông và số hạt/bông
Có một số người cho rằng dù cấy dày hay cấy thưa thì cũng ít ảnhhưởng đến năng suất, vì tuy mật độ có ảnh hưởng đến số bông/ đơn vị diệntích nhưng nếu số bông nhiều thì số hạt/bông ít và ngược lại, nên cuối cùng sốhạt/ đơn vị diện tích cũng không hoặc ít thay đổi
Trang 30Vì vậy năng suất sẽ tăng khi tăng mật độ cấy trong một phạm vi nhấtđịnh Phạm vi này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống, đất đai, phân bón
vị diện tích
Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh lai rai, hạn chếđược thời gian đẻ nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Cấy dày các câycon cạnh tranh nhau về dinh dưỡng, ánh sáng sẽ vươn cao lá nhiều, rậm rạpảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây cókhả năng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín khôngđều, mầm mống sâu bệnh trên hạt có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh trongquá trình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hạt lúa
1.4.3 Nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thật canh tác quan trọng, phụ thuộc vàođiều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Suichi (1985) [34] đãkhẳng định, trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánhkhoẻ và sớm thay đổi từ 20 x 20cm đến 30 x 30cm Theo ông, việc đẻ nhánhchỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ cónhững dảnh chính cho bông Năng suất tăng khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ, nhưng lại giảm
số hạt trên bông
Trang 31Trong phạm vi khoảng cách 50×50 cm đến 10×10 cm khả năng đẻnhánh có ảnh hưởng đến năng suất Năng suất của hạt giống IR-154-451 (mộtgiống đẻ nhánh ít) tăng lên so với việc giảm khoảng cách 10×10 cm Còngiống IR8 (giống đẻ nhánh khỏe) năng suất cực đại ở khoảng cách cấy là20×20 cm.
Theo Jennings và cs (1979) [32], năng suất hạt tùy thuộc vào khả năngcho năng suất, tính kháng sâu bệnh, khả năng thích nghi đối với điều kiện môitrường, kỹ thuật canh tác và nhiều yếu tố khác
1.4.4 Nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt nam
Mật độ cấy luôn là vấn đề được quan tâm của bà con nông dân, từ rấtlâu vấn đề cấy thưa hay cấy dầy thì tốt hơn luôn là hai quan điểm được tranhnhiều nhất Cho đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: cấydầy hợp lý làm tăng năng suất rõ rệt Tuỳ theo chân đất, tuổi mạ, giống lúa,tập quán canh tác, mức phân bón, thời vụ mà xác định mật độ cấy cho phùhợp
Theo Nguyễn Công Tạn và cs (2002)[20], các giống lai có thời giansinh trưởng trung bình có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp Sơn thanh,Bồi tạp 77 cần cấy dày 40-45 khóm/m2
“Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diệntích Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2 còn với lúa gieo thẳngđược tính bằng số hạt mọc/m2 (Nguyễn Văn Hoan, 2004)”[14] Về nguyên tắcthì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạnnhất định,việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông nhưng nếu vượtquá giới hạn đó thì số hạt/ bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phảichia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt /bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gâygiảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường Tuy nhiên nếu cấy quá thưa đối
Trang 32với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cầnthiết theo dự định.
“Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất vàquần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: Các giống khác nhau phảnứng với các mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thìnăng suất tăng còn tăng quá năng suất giảm xuống (Tăng Thị Hạnh, 2003)[11] Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệ parabol, tức làmật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng nhưng nếu tiếp tục tăng mật độ quá thìnăng suất lại giảm
Theo Hoàng Kim (2016) [15], trong quần thể ruộng lúa, mật độ gieo,cấy và số dảnh cấy có liên quan đến năng suất và các yếu tố cấu thành năngsuất Nếu gieo cấy quá dày hoặc nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ điđáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm
Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốtthì chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng đất xấu nên cấy dày Đểxác định mật độ cấy hợp lý ta có thể căn cứ vào 2 thông số là: Số bông cầnđạt/m2 và số bông hữu hiệu trên khóm Từ 2 thông số trên có thể xác định mật
độ cấy phù hợp theo công thức:
Trang 33Mật độ (khóm/m2) = Số bông/m
Số bông hữu hiệu/khómTheo kết quả đạt được trên những ruộng lúa thâm canh năng suất đạtđược được 300kg/sào thì khóm lúa cần có 7-10 bông (thí nghiệm trên Sán ưuquế 99) thì mật độ là: Với 7 bông/khóm cần cấy 43 khóm/m2; vói 8bông/khóm cần cấy 38 khóm/m2 với 9 bông/khóm cần cấy 33 khóm/m2; với
10 bông/ khóm cần cấy 30 khóm/m2
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinhtrưởng của lúa ngán ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (2005) [9]kết luận:
Trang 34thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9dảnh – 14,8% ở vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm – 25% Về dinhdưỡng đạm của lúa có tác động đến mật độ cấy tác giả kết luận tăng bón đạm
ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệutăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở
vụ xuân Tăng bón đạm ở mật độ cao trong khoảng 55-65 khóm/m2 làm tăng
tỷ lệ dảnh hữu hiệu
Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ của ruộng lúa là số dảnhcấy/khóm Số dảnh cấy phụ thuộc vào số bông dự định phải đạt/m2 trên cơ sổmật độ cấy đã xác định Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyêntắc chung là dù ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giốngmạnh yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo yêu cầu, độ lớn củabông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 đạt được số lượng dự định
Theo Nguyễn Công Tạn và cs (2002) [20] thì sử dụng mạ non để cấy(mạ chưa đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cầnđạt 9 bông hữu hiệu/ khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗidảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệhữu hiệu giảm
Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2-5 nhánh thì số dảnh cấy phảitính cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10-15 ngày so với mạ chưa đẻ,
vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạttrên 70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích lũy, ra lá,lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng8-15 ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiềuhơn cấy mạ non
Trang 35Với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo sốbông cần đạt nhân với 0,8.
Theo Ysoida, 1985 [29] khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy
và khả năng đẻ nhánh của lúa đã khẳng định, với lúa cấy khoảng cách thíchhợp cho lúa đẻ nhánh khoẻ và sớm thay đổi từ 20x20cm lên 30x30cm, việc đẻnhánh chỉ xảy ra với mật độ 300cây/m2 Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấytăng từ 182 – 242 dảnh/m2, số bông/đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độnhưng lại giảm số hạt/bông Khi đã tiến hành thí nghiệm với nhiều giống lúaqua nhiều năm ông đưa ra kết luận trong phạm vi khoảng cách cấy 10x10cm -50x50cm thì khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất
Theo Nguyễn Thị Trâm và cs (2003) [28] thì mật độ cấy càng cao thì sốbông càng nhiều Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạtđược số bông/đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinhtrưởng trung bình có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2.Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77cần cấy dày 40-45 khóm/m2
Theo Nguyễn Hồng Thái (2013) [21], mật độ cấy khác nhau đã ảnhhưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng kháng bệnh cũng như năngsuất của cây lúa giống HT6 trồng vụ xuân trên đất Duy Tiên – Hà Nam Mật
độ cấy 40 khóm/m2 là thích hợp cho cây lúa HT6 sinh trưởng phát triển tốt,giảm nhiễm sâu bệnh hại và cho năng suất cao (đạt 55,8 tạ/ha), cao hơn 2,5tạ/ha so với mật độ cấy 35 khóm/m2 (đối chứng) và 5,3 tạ/ha so với mật độ 45khóm/m2
Theo Nguyễn Như Hà, 1999 [8] kết luận: tăng mật độ cấy làm cho việc
đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh/khóm của mật độ cấy thưa 45
Trang 36lên tới 1,9 dảnh/khóm – 25%.
Nguyễn Văn Luật (2001) [17] nhận xét phương pháp canh tác cổ truyềntrước đây so với ngày nay: trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấythưa với mật độ 40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngàynay có xu hướng cấy dày 20 x 20cm; 20 x 25cm; 15 x 20cm; 10 x 15cm
Theo Nguyễn Văn Hoan (2002) [13] cho rằng khoảng cách tối ưu làkhoảng cách đủ rộng để hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa không chen lẫnnhau Cách bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng xông (hàng cách hàng), hàngcon (cây cách cây) trong đó hàng xông rộng hơn hàng con để có khoảng cáchgiữa các khóm lúa theo hình chữ nhật là cách bố trí hợp lý nhất Tổng kết kinhnghiệm đạt năng suất cao trong gieo cấy lúa xuân ở cả vụ mùa cũng như vụxuân thì khoảng cách giữa các hàng lúa nên bố trí là 20cm, 25cm hoặc 30cm
Theo Trần Thúc Sơn và cs (2002) [19] thì mở rộng khoảng cách cấy(20 x 30 cm) là con đường tốt nhất để giảm lượng giống cần thiết cho 1 ha(25kg) mà không làm giảm năng suất
Theo Chu Văn Tiệp (2014) [24] ( Báo khoa học & công nghệ,2014)kỹthuật cấy lúa theo hiệu ứng hàng biên chỉ cấy từ 8-16 khóm lúa/m2 (Cácphương pháp cấy lúa thông thường hiện nay là 40-50 khóm/m2 )và kết quả đạtđược: Giống giảm 40-50%, phân bón giảm 30%, sâu bệnh giảm trên 70%,nhân công giảm trên 50-70% và tăng tăng năng suất từ 15-40%
1.5 Kết luận rút ra từ tổng quan
Lúa gạo là lương thực quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp
và nông thôn Việt Nam Giống lúa TBR225 là giống lúa tiềm năng được đưavào cơ cấu giống lúa của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình nhưng do điều kiệntừng vùng của tỉnh khác nhau nên tại địa phương vẫn chưa tìm ra được lượngđạm bón và mật độ thích hợp nhất với điều kiện thâm canh của bà con
Trang 37hợp và lượng đạm bón thích hợp cho giống lúa TBR225 sẽ giúp cây sinhtrưởng tốt, ít bị sâu bệnh hại và cho năng suất cao Đã có nhiều nghiên cứu vềlượng đạm bón và mật độ nhưng chưa có nghiên cứu nào cụ thể tại huyện YênThủy tỉnh Hòa Bình
Do vậy cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạmbón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa TBR225 vụ mùa năm 2017 tạihuyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình
Trang 382.1 Vật liệu và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa: Thí nghiệm được tiến hành trên giống lúa TBR225 đượcCông ty cổ phẩn Giống cây trồng Thái Bình lai tạo, chọn lọc từ tổ hợp lai haigiống lúa K2 và TBR27 có nguồn gốc từ Trung Quốc Được Bộ Nông nghiệp
và PTNT công nhận từ năm 2015
TBR225 là giống cảm ôn, ngắn ngày, gieo cấy được cả 2 vụ trong năm;thích ứng rộng; chịu thâm canh, có khả năng làm lúa tái sinh tốt, đẻ nhánhkhỏe; phù hợp gieo cấy theo công nghệ hàng rộng, hàng hẹp; thời gian sinhtrưởng: Vụ Xuân 120 - 132 ngày, vụ Mùa 105 - 110 ngày; chiều cao cây 110 -
115 cm, cứng cây, trỗ bông tập trung; bông to, dài, nhiều hạt, hạt thon dài,khối lượng 1000 hạt 24 - 25 gam; nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn, bạc lá; năng suấttrung bình 70 - 75 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 85 - 90 tạ/ha; tỷ lệ gạo xay xát cao(68 - 72%); chất lượng gạo ngon, gạo trắng, trong, cơm mềm, vị đậm, có mùithơm đặc trưng
- Phân bón: Đạm Urê (hàm lượng 46%N), supe lân (hàm lượng 17%
P2O5), kali clorua (hàm lượng 60% K2O)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: Vụ mùa 2017
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trên chân đất 1 lúa, 1màu tại xã Yên Lạc, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến khả năng sinhtrưởng của giống lúa TBR225
Trang 39, ,
- Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến mức độ nhiễmsâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống lúa TBR225
- Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa TBR225
- Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ và lượng đạm bón đến chất lượng vàhiệu quả kinh tế của giống lúa TBR225
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu thí nghiệm ô chính ô phụ,gồm 12 công thức và 3 lần nhắc lại, cụ thể:
- Nhân tố A: 4 mức mật độ được bố trí vào ô phụ, bao gồm:
Mức mật độ 1 (M1): Cấy 25 khóm/m2 khoảng cách cấy (20 x 20)
cm Mức mật độ 2 (M2): Cấy 35 khóm/m2 khoảng cách cấy (20 x 14,3) cm Mức mật độ 3 (M3): Cấy 45 khóm/m2, khoảng cách cấy
(20 x 11,1)cm (M 3 Công thức đối chứng, cấy theo tập quán của địa phương)
Mức mật độ 4 (M4): Cấy 55 khóm/m2, khoảng cách cấy (20 x 9,1) cmCấy 2 dảnh/ khóm;
Nền phân bón: 10 tấn phân chuồng + 90 kg P205 + 90 kg K20
- Nhân tố B: 3 tổ hợp mức đạm bón được bố trí vào ô chính, gồm:
Mức đạm 1 (N1): Bón 60 kg N/ha
Mức đạm 2 (N2): Bón 90 kg N/ha
Mức đạm 3 (N3): Bón 100 kg N/ha
Cơ sở lựa chọn mức phân bón:
Mức phân bón 1: Theo thực tế sản xuất của địa phương
Mức phân bón 2: Theo khuyến cáo chung của tác giả
Trang 40Lựa chọn công thức 1 làm đối chứng vì: Theo thực tế sản xuất tại địa
Lượ K
2 35 9
0 M
3 45 9
0 M
2 35 1
0
9 0 M
3 45 1
0
9 0 M
4 55 1
0
9 0
Sơ đồ bố trí thí nghiệm (12 công thức và 3 lần nhắc lại)
Nhắc
lại lần
Nhắc lại lần
Nhắc lại lần D ả M